Lối vào gặp Chúa: qua mái nhà.
(CN 8 năm B)
1 Vài ngày sau, Đức Giê-su trở lại thành Ca-phác-na-um. Hay tin Người ở nhà,2 dân chúng tụ tập lại, đông đến nỗi trong nhà ngoài sân chứa không hết. Người giảng lời cho họ.
3 Bấy giờ người ta đem đến cho Đức Giê-su một kẻ bại liệt, có bốn người khiêng.4 Nhưng vì dân chúng quá đông, nên họ không sao khiêng đến gần Người được. Họ mới dỡ mái nhà, ngay trên chỗ Người ngồi, làm thành một lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống.
5 Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt: "Này con, con đã được tha tội rồi."
6 Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi đó, họ nghĩ thầm trong bụng rằng:7 "Sao ông này lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa? "
8 Tâm trí Đức Giê-su thấu biết ngay họ đang thầm nghĩ như thế, Người mới bảo họ: "Sao trong bụng các ông lại nghĩ những điều ấy?9 Trong hai điều: một là bảo người bại liệt: "Con đã được tha tội rồi", hai là bảo: "Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi", điều nào dễ hơn?10 Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội, -Đức Giê-su bảo người bại liệt,-
11 Ta truyền cho con: Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà! "
12 Người bại liệt đứng dậy, và lập tức vác chõng đi ra trước mặt mọi người, khiến ai nấy đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ bảo nhau: "Chúng ta chưa thấy vậy bao giờ! " (Mc 1, 1-12)
...........................................................................
· Vài hàng sơ lược
Đoạn phúc âm này có thể được chia như sau:
Câu 1-2: Sự xuất hiện của Giêsu và đám đông dân chúng; câu 3-4: cuộc gặp gỡ của người bệnh với Giêsu; câu 5 và 11: Giêsu chữa lành; câu 6-7: thái độ của mấy kinh sư; 8-10: phản ứng của Giêsu trước thái độ của các kinh sư; câu 12: bài ca chúc tụng.
Khi đọc qua câu chuyện, chúng ta nhận ra sứ điệp chính yếu là việc Chúa Giêsu tha thứ tội lỗi và chữa lành cho người bại liệt. Về việc tha thứ tội lỗi, Adolf Pohl đã giúp chúng ta nhớ lại hình ảnh của Gioan tẩy giả đã kêu gọi sám hối để được tha tội (ss. Mc 1, 4—10 và 3, 28). Tiếp đến Pohl nói rằng, việc tha tội ở đây không làm cho con người hoàn toàn thoát khỏi tội lỗi, mà qua việc tha thứ này con người nhận được sức mạnh của sự sống. Nói cách khác, chúng ta chứng kiến Thần Khí mà chúng ta nhận được qua việc thanh tẩy (ss. Mc 1,8) và sự hiện diện của vương triều Thiên Chúa (ss. Mc 1, 14)
Ngoài ra, Cha Raniero Cantalamessa, người giảng Phủ Giáo Hoàng, cũng giải thích rất hay về tội lỗi của con người và việc tha thứ tội lỗi của Thiên Chúa qua đoạn phúc âm này. Trong phần suy niệm ở dưới sẽ nhắc đến tâm tình của cha.
· Suy niệm
- Câu chuyện được bắt đầu với sự xuất hiện của Chúa Giêsu (câu 1). Ở đây theo Rudolf Resch thì cần chú ý đến sự „trở lại“. Nghĩa là Chúa Giêsu trước đó có thể ẩn thân nghỉ ngơi vài ngày. Ngài trở lại thành Ca-phác-na-um và ở trong một ngôi nhà (en oiko – tiếng Hy lạp). Nhà này có thể là nhà của nhạc mẫu ông Phê-rô (ss. Mc 1, 29), nơi Giêsu thường trú ngụ khi ở Ca-phác-na-um. Câu chuyện kể tiếp rằng, dân chúng tụ tập đông đúc đến nỗi trong nhà ngoài sân chứa không hết. Ở đây chúng ta thấy rằng, dân chúng đi kiếm Chúa Giêsu, chứ Chúa Giêsu không đi kiếm họ (ss. 1, 37, 40, 45). Nhưng tại sao dân chúng lại đi kiếm Chúa Giêsu như vậy? Họ đi tìm gì khi đến với Giêsu? Giêsu là ai đối với họ? Để dễ dàng đi vào câu chuyện, chúng ta có thể mường tượng mình là một trong những người của đám đông. Có thể bạn và tôi đang đi tìm Giêsu. Nhưng chúng ta chờ đợi và cần Giêsu làm gì cho chúng ta? Chúng ta có cần đến sự chữa lành của Ngài không? Chúng ta có cần đến sự tha thứ của Ngài không?
Sau đó Người giảng lời cho họ. Theo Rudolf Pesch, Mác-cô đã dùng từ logos là từ nhắc đến sự rao giảng và sứ mạng của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, Mác-cô còn để ngỏ về nội dung của bài giảng.
- Câu 3-4 kể về cuộc gặp gỡ của Giêsu với người bệnh. „Bấy giờ người ta đem đến cho Đức Giê-su một kẻ bại liệt, có bốn người khiêng“ (câu 3) Điều cần chú ý ở đây không phải là nguyên nhân tại sao anh kia bị bệnh, mà là tình trạng bất lực của anh ta, không thể cựa quậy được, anh ta nằm trên chõng như một thây ma để người ta khiêng. Dừng bước nơi đây, chúng ta trở về lại với cuộc đời mình và tự hỏi xem, có khi nào chúng ta trở nên bất lực hoàn toàn, bị những cơn bệnh, bị những thế lực tội lỗi và sự dữ chế ngự, nằm trên chiếc chõng như một thây ma, chúng ta cảm thấy như thế nào? Chúng ta còn hy vọng gì nữa không? Niềm tin vào Chúa còn sống động trong lòng không?
Còn nếu trong vai là những anh chị em hay người thân của người bị bệnh, chúng ta lo lắng như thế nào? Chúng ta có chạy khắp mọi nơi để tìm thầy kiếm thuốc không? Chúng ta có sẵn sàng vác người thân đang bị bệnh trên chõng, để đến với vị thầy lang tốt lành không?
„Nhưng vì dân chúng quá đông, nên họ không sao khiêng đến gần Người được.“ (câu 4a) Đông quá nên không thể nào vào được. Một chướng ngại trên con đường đi tìm ơn cứu rỗi. Làm sao đây? Rudolf Pesch đã giải thích rất tuyệt vời. Với những người tin thì không gì là không thể, vì chính Giêsu đã nói rằng: "Sao lại nói: nếu Thầy có thể? Mọi sự đều có thể đối với người tin." (Mc 9,23). Hơn nữa, niềm tin và niềm hy vọng về sự chữa lành, về ơn cứu rỗi sẽ giúp cho con người tìm được „lối vào“. Vâng, cái khó nó không bó cái khôn, mà cái khó nó ló cái khôn. „Họ mới dỡ mái nhà, ngay trên chỗ Người ngồi, làm thành một lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống.“ (câu 4b) Một con đường không qua cửa chính, mà xuyên qua mái nhà. Vâng, khi lối chính đã „bị chặn“, thì vẫn còn lối khác để vào. Cứ tin tưởng và chính niềm tin sẽ tạo sáng kiến. Khi nào còn tin tưởng, thì con người không bất động ngồi chịu trận một mình. Không, sự sống vẫn sống động, khi niềm tin và niềm hy vọng vẫn còn. Vâng, dù cho bệnh hoạn, dù cho gió bão, dù cho quyền lực của thần thiêng có mạnh đến mấy đi nữa, nhưng nếu chúng ta vẫn mặc chiếc áo giáp của niềm tin, và với vũ khí hy vọng trên tay, thì chúng ta vẫn vững vàng. Shrî Ramakrishna, một triết gia Ấn Độ khắc khổ sống vào thế kỷ 19 (1834-1886) đã nói rằng: „Ai có niềm tin thì có tất cả, ai thiếu niềm tin, thì thiếu tất cả - Wer Glauben besitzt, besitzt alles.
Wem er fehlt, dem fehlt alles.“
- Và chúng ta hãy nhìn kìa, niềm tin và niềm hy vọng của người bại liệt và của mọi người đã được đáp trả xứng đáng: „Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt: "Này con, con đã được tha tội rồi." (câu 5) Tuyệt vời quá phải không Bạn?! Việc Giêsu nhìn thấy niềm tin của họ, một cách nào đó đã giải thích được sức mạnh của niềm tin, mà Chúa Giêsu đã nhắc đến trong Mc 11,22-23: „ Đức Giê-su nói với các ông: "Anh em hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật anh em: nếu có ai nói với núi này: „Dời chỗ đi, nhào xuống biển!, mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý.“
Một điều thú vị nữa là những người khiêng anh bại liệt đã tỏ sự kêu xin của mình không qua lời nói, mà qua chính hành động của niềm tin. Với Adolf Pohl thì niềm tin có thể không diễn tả qua lời nói, nhưng niềm tin luôn là tâm tình cầu xin nối liền với một hành động. Niềm tin đó được đặt trên nền tảng là chính Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót. Trái ngược với tâm tình này là sự nghi ngờ. Sự nghi ngờ có một sức mạnh lớn, mà con người đôi khi không ngờ được. Chính sự nghi ngờ này sẽ kéo con người vào trong một vỏ sò của „cô đơn“, của „sợ hãi“, của „đêm đen“, và khi bị nhốt trong vỏ sò đó, con người không còn thiết sống nữa. Thật là tai hại biết bao nhiêu. Ernst R. Hauschka, một triết gia người Đức đã nói rằng: „Ở đâu sự nghi ngờ „được phong thánh“, thì nơi đó niềm tin trở thành ma quỷ - Wo der Zweifel heiliggesprochen wird, geht der Glaube zum Teufel.“ Vì vậy, niềm tin của những anh chị em và của người bại liệt trong câu chuyện là một bài học rất sống động cho chúng ta. Qua bài học này, chúng ta có thể nói rằng: „Ở đâu niềm tin „được phong thánh“, thì nơi đó nghi ngờ trở thành ma quỷ.“
Trở về với đoạn Phúc Âm, chúng nhận ra rằng Đức Giêsu đã nhìn thấy niềm tin mãnh liệt trong lòng của những người khiêng, cũng như của „thây ma“ đang nằm trên chõng. Và Ngài đã đáp lời: "Này con, con đã được tha tội rồi." Nhưng tại sao Chúa Giêsu không nói rằng: „Con hãy đứng dậy, con đã được chữa lành!“, mà lại nhắc đến việc tha thứ tội lỗi. Phải chăng anh bại liệt kia đến để xin Chúa tha thứ tội lỗi? Để hiểu được điều này, chúng ta cần phải trở về lại với bối cảnh của xã hội Do-thái. Theo Adolf Pohl thì trong cái nhìn của người Do-thái, sự đau đớn bệnh hoạn và tội lỗi luôn đi đôi với nhau. Như vậy, bệnh hoạn chính là hình phạt đến từ tội lỗi. Người Do-thái còn có cả một danh sách liệt kê hình phạt nào thì đi với tội nào... Với họ thì chắc chắn những người bệnh hoạn là những người phạm lỗi với Chúa. Một Rabbi đã nói rằng: „Không có người bệnh nào có thể khỏi được bệnh của mình, nếu tội lỗi của anh ta không được tha thứ hoàn toàn.“ Cái nhìn này, thiết nghĩ vẫn còn rất „đúng“ với một số người trong thời đại chúng ta. Là những người có trách nhiệm với các linh hồn, thì có lẽ cần phải tỉnh táo, không nên kết án và vội vàng đi đến kết luận như những người Do-thái. Vâng, những anh chị em đau đớn bệnh hoạn đã đau đủ rồi, và đôi khi họ bị bệnh một cách rất bất ngờ, mà không biết nguyên nhân. Vì vậy, thật là trớ trêu, nếu gắn liền một bản án với bệnh tật của họ. Trớ trêu hơn nữa và thật bất công, nếu coi những người bệnh hoạn là những con người xấu xa, hay coi họ là những người vô dụng của xã hội, những con người nghèo nàn không xứng đáng để sống. Không, với Đức Kitô và với Giáo Hội, hiền thê của Người, thì: „Bây giờ, tôi muốn ngõ lời với anh chị em, hỡi những anh chị em mắc bịnh, hầu mời anh chị em dâng lên với Chúa Kitô điều kiện đau khổ của anh chị em cho Chúa Cha, trong sự tin chắc rằng mỗi một thử thách mà chấp nhận với sư cam chịu thì có công và lôi kéo lòng lành của Chúa xuống trên nhân loại. Tôi bày tỏ sự cảm kích của tôi đối với những người giúp anh chị em trong những trung tâm tiếp nhận, trong những bịnh viện ban ngày, trong những trung tâm chẩn đoán và điều trị, và tôi khuyên họ phấn đấu ngõ hầu không có sự thiếu thốn đối với những kẻ cần một sự giúp đỡ y tế, xã hội và mục vụ, biết tôn trọng phẩm giá riêng của mỗi người.Giáo Hội, đặc biệt qua công việc của các vị tuyên úy, sẽ không thất bại để cống hiến anh chị em sự gìúp đỡ của giáo hội, bởi vì Giáo Hội rất ý thức được kêu gọi bày tỏ tình yêu và sự lo lắng của Chúa Kitô đối với tất cả những ai đau khổ và đối với những ai chăm sóc họ.“ (Sứ Điệp Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI dành cho ngày Thế Giới Bịnh Nhân thứ XIV VietCatholic News, 04/02/2006)
Tâm tình của Đức Thánh Cha đã phản ảnh được tinh thần của Đức Kitô. Dưới con mắt của Giêsu, thì chính con người với phẩm giá cao quý mới là quan trọng, nên Ngài đã lên tiếng „tha thứ“, để chuộc lại người con yêu dấu của Ngài, người con đang bất lực nằm kia. Vâng, Giêsu không gắn liền bản án „kẻ có tội“ trên lưng người bệnh hoạn, để rồi nhấn chìm họ xuống vực sâu thẳm thẳm của cuộc đời. Không, theo Adolf Pohl thì qua hành động của mình, Giêsu ám chỉ đến passivum divinum (hành động tiềm ẩn của Thiên Chúa). Tất cả những passiva divina tỏ lộ rõ sự hiện diện của thời gian cứu độ. Vì vậy, mà Giêsu đã dùng thì hiện tại để nói về sự tha thứ, chứ không như người Do-thái, dùng thì tương lai, mỗi khi nhắc đến sự tha thứ.
"Này con, con đã được tha tội rồi." Vâng, anh bại liệt được tha ngay ngày hôm nay. Từ ngày hôm nay, anh được giải thoát; từ ngày hôm nay, anh được chuộc về, được nghe lại tiếng nói ngọt ngào của Gia-vê Thiên Chúa, tiếng nói mà Ngài đã nói với anh, với từng con người, trong ngày được sinh ra: “Thật tốt, khi có con!” Càng cảm nghiệm sâu sa về công trình cứu chuộc của Thiên Chúa, chúng ta càng cảm nhận được lòng Chúa bao dung dường nào. Vâng, lòng bao dung của Chúa lớn lao hơn đau đớn, bệnh hoạn; lớn lao hơn tội lỗi và sự dữ; lớn lao hơn lòng người hẹp hòi và nham hiểm.
- Đọc tiếp đoạn Tin Mừng, chúng ta sẽ thấy lòng dạ hẹp hòi của các kinh sư như thế nào: “Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi đó, họ nghĩ thầm trong bụng rằng: "Sao ông này lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?” (câu 6-7) Để hiểu được ý nghĩa của câu này, chúng ta cần trở về với bối cảnh của xã hội Do-thái thời đó. Với người Do-thái thì án chết sẽ được trao cho người nào dạm lộng ngôn phạm thượng đến Thiên Chúa: “Người Do-thái đáp: "Chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng: ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa." (Ga 10,33). Ở đây là trượng hợp cụ thể. Giêsu đã không đứng dưới luật Thora, mà đòi đứng ngang hàng với Thiên Chúa. Hơn nữa, với người Do-thái, thì sự tuyên xưng niềm tin của họ vào một Thiên Chúa duy nhất thật là quan trọng: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất. Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, hết sức anh (em). Những lời này tôi truyền cho anh (em) hôm nay, anh (em) phải ghi tạc vào lòng. Anh (em) phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy, phải buộc những lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu, phải viết lên khung cửa nhà anh (em), và lên cửa thành của anh (em).” (Đệ nhị Luật 6, 4-9) Vì vậy, trong đoạn phúc âm này, người Do-thái hỏi rằng, Giêsu là ai mà khư khư có quyền tha tội? Với người Do-thái, Giêsu đã phạm đến “kho tàng niềm tin” của họ: “Ông ta nói phạm thượng.”
Giêsu đã phản ứng ra sao trước thái độ của các kinh sư? Đức Kitô đã thấu hiểu được mấy kinh sư nghĩ gì, nhưng Ngài chẳng sợ gì cả, rồi Ngài “đi thẳng vào trong bụng của mấy kinh sư, bằng cách Ngài hỏi: "Sao trong bụng các ông lại nghĩ những điều ấy?” (câu 8) Câu hỏi của Giêsu như là đã đụng tới cái tâm sâu sa hẹp hòi của các kinh sư. Một cái tâm quay mặt lại với Giêsu, một cái tâm hẹp hòi thiếu thông cảm và nhân hậu với người nghèo khổ và bệnh tật. Câu hỏi của Giêsu thực là một câu hỏi chất vấn không chỉ các kinh sư, mà còn chất vấn từng người trong chúng ta. Dừng bước, chúng ta cũng thử nhìn lại chính mình xem, có bao giờ chúng ta hẹp hòi với Chúa, với anh chị em, đặc biệt anh chị em nghèo khổ? Khi nào chúng ta cảm thấy mình hơn người khác, mình có quyền kết án người khác? Hôm nay, nghe lại câu hỏi chất vấn của Giêsu, chúng ta cần phải trả lời và thay đổi thái độ sống của mình như thế nào đây?
Tiếp đến, Giêsu nói: “Trong hai điều: một là bảo người bại liệt: "Con đã được tha tội rồi", hai là bảo: "Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi", điều nào dễ hơn? Phải trả lời thế nào cho đúng? Đứng về phương diện nói và hậu quả hữu hình, thì câu nói “tội con được tha” dễ hơn, vì dù tội được tha hay không nào ai biết được. Trái lại, nói bệnh con được lành thì không dễ đâu. Không làm được, thiên hạ sẽ chê bai và la lối ngay. Phân tích như vậy, nhưng nếu trở lại với sự so sánh kia, chúng ta sẽ đụng tới những lần so sánh khác mà Chúa Giêsu đặt ra: "Trời đất qua đi còn dễ hơn là một cái phết của Lề Luật rụng mất.” (Lc 16,17) hay “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa." (Mc 10,25) Tóm lại, ở đây muốn diễn tả rằng, cuối cùng những điều với con người thì không thể, nhưng với Thiên Chúa đều có thể.
Tiếp đến, Chúa Giêsu chẳng cần mấy kinh sư trả lời, và nói tiếp: “Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội. (câu 10) “Con Người” viết hoa ở đây lúc đầu liên tưởng đến Con Người cánh chung của Đaniel:“Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn đưa tới trình diện.” (Đaniel 7,13). Nhưng thực sư thì, “Con Người” ở đây Giêsu dùng để chỉ về chính mình, một Con Người đang hiện diện trong lịch sử nhân loại. Vâng, chính Ngài, chính Con Người viết hoa này có quyền trên tội lỗi. Con người đó đã đến để: “không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người." (Mc 10,45) Và trong ngày sau hết, chính Con Người đó sẽ “ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến." (Mc 14,62). Vì thế, mà Con Người viết hoa đụng tới Con Người viết hoa trong Đaniel đấy, nhưng cũng vượt qua đấy. Vượt qua để đi đến sự trọn hảo. Sự trọn hảo bao giờ cũng lớn hơn lời hứa mà.
Con Người viết hoa có quyền tha tội. Thực vậy, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội, chỉ có Chúa mới có thể giải thoát đời người ra khỏi khổ đau, chuộc lại phẩm giá cao quý cho con người. Về điều này, chúng ta hãy nghe Cha Raniero Cantalamessa chia sẻ: “Một hình ảnh từ thiên nhiên sẽ giúp chúng ta (ít nhất đã giúp tôi) hiểu chỉ một mình Thiên Chúa có thể tha tội.Đó là hình ảnh của một mãng đá (stalagmite) Mãng đá là một trong những cột đá vôi được hình thành trong những nơi sâu của một số hang động xưa, do nước đá vôi nhỏ xuống từ mái hang. Cột treo từ mái hang gọi là thạch nhũ (stalactite),hình thành phía trên; điểm mà nước nhỏ giọt xuống, là mãng đá (stalagmite).
Vấn đề không phải là nước và nước ấy chảy ra ngoài; nhưng đúng hơn trong mỗi một giọt nước có một vết đá vôi lắng đọng và đắp lên trên những giọt nước đã đọng trước. Đó là như thế, với những ngàn năm qua đi, những cột này, với một ánh chiếu óng ánh, nhìn rất đẹp, nhưng nếu nhìn kỷ hơn những cột đó nó giống như những chấn song một xà lim hoặc là như những răng bén nhọn của một thú dữ khi nó há rộng mồm..
Cũng một điều xảy ra trong dời sống chúng ta. Tội lỗi chúng ta, qua dòng thời gian năm tháng, đã rớt xuống trong những chỗ sâu tâm lòng chúng ta như rất nhiều giọt nước đá vôi. Mỗi một giọt đã để lại đó một cục đá vôi nhỏ-tức là, sự dơ bẩn, sự cứng rắn và sự chống đối Thiên Chúa-xây dựng trên điều mà tội trước đã để lại. Như xảy ra trong thiên nhiên, phần tích lũy được lấy đi, nhờ những lần xưng tội, những khi Rước Lễ, sự cầu nguyện.
Nhưng mỗi lần vẫn còn lại cái gì đó mà chưa được phá tan, và như vậy là do sự sám hối và ý định đền tội không được "trọn hảo." Và như vậy mãng đá cá nhân chúng ta đã lớn lên như một cột đá vôi, như một tượng bán thân bằng thạch cao cứng rắn ngăn cản ý muốn chúng ta. Bây giờ người ta hiểu tai họa là "con tim bằng đá" danh tiếng mà Kinh Thánh có nói: Đó là con tim mà chính chúng ta đã tạo dựng, bằng sức mạnh của những sự đồng ý và tội lỗi.
Phải làm gì trong tình huống này? Tôi không thể loại trừ tảng đá này với ý muốn của tôi mà thôi, bởi vì điều đó chính xác là nằm trong ý muốn của tôi. Như vậy được hiểu ân huệ diễn lại sự cứu độ do Chúa Kitô thực hiện. Trong nhiều cách Chúa Kitô tiếp tục công việc của Người tha thứ tội lỗi. Nhưng có một phương cách đặc biệt buộc phải chạy tới khi chúng ta xử lý với những sự tuyệt giao nghiêm trọng với Thiên Chúa, và sự đó là bí tích sám hối.
Sự quan trọng nhất mà Kinh Thánh phải nói cho chúng ta về tội, không phải chúng ta là những kẻ tội lỗi, nhưng đúng hơn chúng ta có một Thiên Chúa tha thứ tội lỗi và một khi được tha, người quên nó, xóa bỏ nó, và làm một cái gì mới mẻ.”
- Thiên Chúa, Con Người viết hoa, tha thứ tội lỗi cho anh bại liệt xong, thì nói: “Ta truyền cho con: Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà! " (câu 11)
Động từ đứng dậy ở đây liên quan đến động từ hồi sinh. Từ thây ma bất động kia, một con người tràn đầy sức sống đã “nở hoa”. Một hình ảnh tuyệt đẹp của Phục Sinh. Vâng, để được phục sinh, thì đời người cần đón nhận lời tha thứ và ơn chữa lành trước. Đó là những điều kiện tất yếu.
Và rồi Người bại liệt đứng dậy, và lập tức vác chõng đi ra trước mặt mọi người, khiến ai nấy đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ bảo nhau: "Chúng ta chưa thấy vậy bao giờ! "(câu 12). Người bại liệt đứng dậy. Dừng bước, chúng ta hãy để hình ảnh này trở nên sống động trước mắt. Có tuyệt vời không? Mà anh ta không phải tự động đứng dậy được đâu. Anh ta đứng dậy, vì Giêsu truyền lệnh cho anh ta đứng dậy. Nếu đọc lại đoạn phúc âm ngắn này, chúng ta sẽ thấy Mác-cô đã dùng động từ Chúa “bảo”, Chúa “truyền” nhiều lần, trong câu 5, 8, 9 (2x), 10 và 11. Điều đó nói về Con Người viết hoa, với Lời quyền năng có sức chữa lành, đã tách người bại liệt ra khỏi cái chõng kia, trả lại cho anh ta sự tự do, nụ cười vui, và ban cho anh ta sức sống mới. Giêsu – Con Người viết hoa đầy quyền năng.
Một câu hỏi thú vị ở đây là, tại sao Chúa Giêsu không truyền cho anh bại liệt vất cãi chõng nghiệt ngã kia đi, mà lại truyền cho anh vác lấy chõng mà đi về nhà. Trong một số khóa Linh Thao cầu nguyện, một số người đã chia sẻ rằng. Anh bại liệt cần phải vác cái chõng đó về, để trao lại cho những người bất hạnh khác, để chính anh đã từng là một người bại liệt, giờ đây phục vụ anh chị em bất hạnh, đưa họ đến với Giêsu, giúp họ đi tìm ơn chữa lành giải thoát.
Với chõng trên vai, anh thanh niên trai tráng rảo bước tung tăng trên đường trước mặt thiên hạ bốn phương, làm cho ai ai nhìn thấy, đều phải trầm trồ ngạc nhiên, và cất bài hát ca ngợi Thiên Chúa chí tôn. Vâng, có lẽ lời tôn vinh tuyệt vời nhất là lời tôn vinh mà chính Mẹ Mria đã cất lên trong phúc âm Luca 1, 46-49:
Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
thần trí tôi hớn hở vui mừng
vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn,
Người đoái thương nhìn tới;
từ nay, hết mọi đời
sẽ khen tôi diễm phúc.
Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
biết bao điều cao cả,
danh Người thật chí thánh chí tôn!” Amen
Tham khảo:
- Rudolf Pesch, Das Markusevangelium, Herder Verlarg, Freiburg 2000. Sonderausgabe, Band II/1
- Adolf Pohl, Das Evangelium des Markus, R. Brockhaus Verlag Wuppertal 2005, Wuppertaler Studienbibel NT 1.
- Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, Sứ Điệp dành cho ngày Thế Giới Bịnh Nhân thứ XIV VietCatholic News 04/02/2006
- Bài giải thích của Cha Capuchin Raniero Cantalamessa, người giảng Phủ Giáo Hoàng, về những bài đọc phụng vụ Chúa Nhật VII Thường Niên, VietCatholic News, 17/02/2006
Goettingen, Chúa Nhật thứ 7 năm B, 19.Feb.2006