Chữ tài, chữ tâm
| Hoa tâm nở trong nắng, Nguyễn Trung Tây |
Đi họp với Hội Cao Niên về tới nhà, mặt dì Tư có vẻ không vui. Vòng vòng xoay vần như con vụ trong căn nhà, dì Tư thoạt tiên đi từ nhà bếp lên phòng khách, rồi từ phòng khách đi ra ngoài sân, rồi từ sân nhà lại đi giáp một vòng vào lại trong nhà bếp. Mặt dì đăm chiêu, chân tay tuồng như bứt rứt. Thấy vợ như vậy, ông Tư mới cất giọng ướm hỏi,
— Bà hôm nay làm sao lại cập rập đi tới đi lui như vậy? Bà có chuyện chi muốn nói hay không?
Nghe chồng mở lời, dì Tư như người được cờ trong tay, dì đứng lại, nói liền,
— Thiệt là tui có điều muốn nói. Nhưng vẫn không biết phải nói ra sao, nói như thế nào?
Ông Tư nhìn vợ, ánh mắt dò hỏi,
— Bà hôm nay hơi lạ đó nghen. Có chuyện chi thì cứ nói. Sao lại rào trước đón sau cẩn thận như vậy? Vợ chồng đầu ấp tay gối bao nhiêu năm nay, sanh ra mấy mặt con rồi, cháu chắt có đứa cao lớn như cây sào cắt cau, sao khi không tự nhiên lại mần tuồng y như là khách lạ với tui vậy?
Dì Tư lắc đầu,
— Thì ai lại không biết là vợ chồng mình mấy chục năm rồi thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn. Nhưng tui không muốn hấp tấp không đầu không đuôi, người ngoài nghe được, người ta cười tui. Mà cười tui thì cũng không sao, nhưng người ta cười đụng chạm tới ông, thì thiệt lòng là tui không chịu. Dầu sao đi nữa ông cũng là người có ăn có học, chữ nghiã một bụng, vừa có danh lại vừa có phận.
Ông Tư nhìn vợ, chân mày nhíu lại, bởi ông chưa đoán được ý của vợ mình muốn nói cái chi.
Mà nói cho cùng, dì Tư cũng có cái lý của dì, bởi thời đó, cái thời dì Tư còn đang là một thiếu nữ tuổi mười tám, thì ông Tư thuả đó đang là thanh niên Tây học từ thành phố ghé về quê nghỉ hè. Cô Thoan khi đó đã nghe tiếng của cậu Tư, con trai độc nhất của ông Hội Đồng Hương trong thôn làng từ lâu lắm rồi. Thiếu nữ trong xóm, ai mà lại không mơ ước được nâng khăn sửa túi cho cậu Tư con của một người vừa là điền chủ lại vừa là ông chủ buôn bán xe hơi trên Sài Gòn. Thoảng đôi ba lần, cô Thoan có nhìn thấy cậu Tư đi ngang qua cửa nhà; dáng cậu Tư cao, tóc chải keo láng o, vuốt ngược lên trên vầng trán, đôi lông mày thanh tú với hàm răng trắng đều điểm hai cái răng bịt vàng chóe sáng ngơ ngẩn tâm hồn bao nhiêu cô gái trong làng khi cậu Tư nở một nụ cười. Biết phận mình, cô Thoan không nghĩ tới chuyện hồn bướm mơ tiên, guốc mộc so với hài cườm. Nhưng, ngày hôm đó, một buổi chiều nóng bức, cô Thoan vừa tắm xong, mái tóc dài còn ướt sũng những nước. Phần nóng, phần tóc, cô Thoan quyết định bước ra ngoài hiên nhà, đứng ẩn mình sau bụi tre hong khô mái tóc. Trời chiều, gió mát từ ruộng lúa kéo về thổi bay tung tóe mái tóc thơm mùi bồ kết với lá chanh của cô Thoan. Cô Thoan nhìn xa xa lơ đãng tìm kiếm bóng dáng của song thân trên cánh đồng cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi của ông Hội Đồng Hương. Thiệt là bất ngờ, không ai dự liệu, chẳng ai tiên đoán, cậu Tư xuất hiện ngay trên con đường làng. Nhận ra bóng dáng của con ông chủ điền đang bước tới, cô Thoan muốn lánh mặt vào trong nhà. Nhưng đã quá trễ rồi, không còn kịp nữa, bởi cậu Tư đã bước tới ngay phiá trước sân nhà của cô. Cô Thoan đành chịu, cố gắng dấu mình nấp sau bên những nhánh tre xanh. Đang bước đi những bước đều đặn, bất ngờ cậu Tư quay ngang nhìn, ánh mắt chiếu thẳng vào bụi tre um tùm rậm rạp bên tay trái. Bốn cặp mắt đụng nhau. Cô Thoan e lệ cúi xuống nhìn đất, một tay bám vào cành tre khẳng khiu. Nhận ra cô con gái đang bẽn lẽn đứng nấp mình bên bụi tre, tới phiên cậu Tư tự nhiên hóa ra bất động y như một pho tượng gỗ. Cậu lặng im, không động đậy, cặp mắt đăm đăm nhìn vào một khoảng không gian. Trước tình huống bất ngờ, cô Thoan lặng người trong vòng một giây, rồi cắm đầu bỏ chạy thẳng vào trong nhà, hai tay cuống quýt gài lại then cửa. Vội vã đi xuống nhà bếp, cô Thoan mở vung nồi cơm đã chín, rồi ngớ ngẩn đóng nắp nồi cơm lại. Cô đi chầm chậm lên nhà trên, len lén nhìn qua khung cửa sổ. Ngoài đường, cậu Tư vẫn đang tiếp tục ngớ ngẩn như người mất hồn nhìn vào bụi tre. Cô Thoan hồi hộp, rón rén đi về lại nhà bếp. Ngồi xuống trước bếp lửa chỉ còn trơ lại tro than âm ỉ cháy, cô nghe được tiếng tim đập thình thịch và hơi thở của chính mình vang dội trong một khoảng không gian tĩnh mịch của gian nhà bếp.
Một tháng sau, đám cưới con trai của ông Hội Đồng Hương tưng bừng pháo đỏ với cô dâu Thoan e ấp bước lên xe hơi về nhà chồng mãi trên Sài Gòn. Hồi đó, có nhiều tiếng đồn nói là cô Thoan bỏ bùa yêu cháo lú cho cậu Tư ăn. Nghe tiếng đồn, cô Thoan không buồn phiền, không giận hờn, nhưng hồi hộp nhớ lại cuộc tương ngộ bất ngờ bên bụi tre. Cô Thoan vẫn không hiểu tại sao cậu Tư lại lậm tình, lại si mê một cô thôn nữ không danh phận, không học thức như mình.
Thấy ông Tư yên lặng, dáng vẻ chờ đợi, dì Tư nói,
— Chiện là như thế này. Ông cũng biết là gia đình tui không phải là gia đình có chức tước, có địa vị, có của ăn của để ở trong làng. Tiá má tui cũng chỉ ngày ngày cày thuê cấy mướn cho người trong thôn. Cho nên, tui không có học hành, chữ nghiã chưa đong đầy bằng cái lá bình bát. Thiệt tình mà nói, nhiều khi tui cũng muốn được như ông, học hành cho nở mặt rỡ ràng với bà con thiên hạ lối xóm. Tiếng tây tiếng ta cũng ăn nói rổn rảng rộn ràng như ông vậy. Như thế, có đi ra ngoài cũng không thua chị kém em. Nhưng cái số của tui là số con nhà nghèo, học hành chữ nghiã chẳng được bao nhiêu.
Dì Tư giọng điệu phân bua,
— Ông còn lạ chi. Vợ chồng mình ở Mỹ bao nhiêu năm rồi. Mà tên của mấy cái tiểu bang tui nói còn chưa thông. Cái tiểu bang chi đó…
Dì Tư dừng lại, rồi tiếp,
— Cái tên chi mà tui cứ đọc sai hoài? Ông sửa bao nhiêu lần rồi mà đầu óc tui nó cứ xụi lơ cứng đơ, nhớ trước quên sau. Cái chi mà in tuồng như là…là… tiểu bang “cô ló đầu ra”! Đúng không ông?
Ông Tư nhìn vợ, cười, nói,
— Tiểu bang Colorado.
Dì Tư gật đầu,
— Đó, đó, cái tên của người ta là Colorado, mà tui cứ đọc sai hoài, sửa tới sửa lui mà vẫn không được. Mà hễ lỡ miệng một chút là người chung quanh cười ầm ỉ, khiến tui quê một cục.
Dường như đã hiểu chuyện, ông Tư nhẩn nha ngồi xuống, lưng dựa vào thành ghế, một tay đưa ra, giáng điệu mời gọi,
— Bà, bà ngồi xuống ghế. Mần chi mà cứ đứng riết, bắt tui đứng theo như học trò gặp thầy đồ, khiến tui mỏi chân lắm rồi. Bà ngồi xuống ghế đi. Tui cũng có câu chuyện, muốn tâm sự cho bà nghe.
Đợi vợ mình, miệng đang nhai bỏm bẻm miếng trầu đỏ tươi, ngồi hẳn xuống ghế, ông Tư mới cầm ống vố lên trên tay, điệu bộ thong thả, nhưng giọng ông sắc gọn,
— Từ ngày tui với bà trở nên vợ chồng, có bao giờ tui ỉ thế là…là có danh phận, có học thức, rồi tui coi thường bà chưa? Bà cứ thiệt tình mà nói đi.
Ông Tư chưa dứt lời, dì Tư nói ngay,
— Tui hiểu. Tui biết…
Ông Tư đưa tay ra ngăn cản vợ,
— Khoan, khoan! Bà cứ trả lời tui đi, một tiếng thôi, tiếng sắt hoặc tiếng vàng, tiếng có hoặc tiếng không.
Nghe giọng điệu của chồng dứt khoát, dì Tư lắc đầu liền,
— Chưa, tui biết ông đâu phải là người như vậy.
Chỉ đợi có thế, ông Tư nói tiếp,
— Nếu vậy, vợ chồng mình ở với nhau bao nhiêu năm rồi. Tui tưởng bà phải biết tánh của tôi chứ. Tui đâu phải là cây rau muống, rỗng ruột vô tâm.
Nói tới đây, ông Tư đưa lên miệng ống thuốc vố, bật lửa. Khói thuốc thơm lừng bay quyện tròn căn phòng khách nhỏ. Yên lặng thưởng thức thuốc thơm trong vòng một vài giây, ông Tư đưa lên miệng chung trà, uống ực xuống cần cổ, rồi tiếp tục nói,
— Thiên hạ ưa trọng người có quyền thế, có kiến thức, có danh phận.
Ông Tư hưỡn đãi,
— Đó cũng là lẽ thường tình của nhân gian. Làm sao mà mình đi ngược lại được với dòng nước, dòng thủy triều của con sông cái lạch?
Ông Tư chép miệng,
— Nhưng tui thấy con người không phải chỉ là danh phận, hoặc là kiến thức, hoặc là nói theo kiểu của bà là rổn rảng rộn ràng tiếng tây tiếng u.
Nhìn vợ, ông Tư tiếp tục,
— Bà còn nhớ cái thời Đồng Minh và phe Trục đánh nhau, thời mà có cái máy bay phản lực của Nhật bị phe Đồng Minh bắn rớt xuống cánh đồng của thôn xóm, người ta rần rần kéo nhau đi coi. Bà còn nhớ chứ?
Dì Tư gật đầu,
— Tui nhớ! Làm sao mà quên được cái máy bay của Nhật đâm đầu xuống ruộng của thím Tám Vịt buổi chiều ngày hôm đó.
Ông Tư giải thích,
— Phe Trục của Nhật hồi đó còn có Hittler. Mà nhắc tới tên của người này thì thiệt là ai tranh bá vương, ai tranh thiên hạ tài giỏi cho bằng Hittler. Nhưng người này có nhiều tài, mà lại vô tâm như rau muống. Cho nên bao nhiêu triệu triệu nấm mộ đã chất gò chất đống, bao nhiêu bia mộ đã lềnh khênh nổi lên trên khắp mặt đất, bởi sự xuất hiện của một người tài giỏi nhưng lại vô tâm như nhà lãnh đạo của Đảng Phát Xít Đức.
Ông Tư chỉ lên tấm hình trên bức tường của phòng khách,
— Tuy nhiên trái đất này không phải chỉ có Hittler, nhưng còn có Mẹ Têrêsa, một người tầm thường, mà lại dư thừa một trái tim để chữa lành và lau khô những vết thương cùng với những hạt nước mắt do những người vô tâm gây ra. Mẹ Têrêsa có đậu bằng cấp chi đâu. Nhưng mẹ lại có nguyên cả một trái tim, trọn vẹn một tâm hồn. Tui nhớ chuyện kể là có một người hành khất nghèo khổ, ghẻ lở đầy mình, ngày ngày sống lăn lóc trên những con đường phố què cụt của Ấn Độ. Ngày kia khi gặp gỡ người ăn mày, Mẹ Têrêsa mang ông ta về nhà băng bó vết thương, đổ cháo đổ thuốc cho người bất hạnh. Sau cùng người hành khất cũng qua đời. Nhưng trước khi lià trần, ông nói, “Tôi đã từng sống trên những con đường phố như một con thú, nhưng tôi đã được săn sóc và giờ đây nhắm mắt lại chết đi như một con người”.
Ông Tư dáng điệu mơ màng,
— Cụ Nguyễn Du cũng nói, “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Ý cụ Tiên Điền muốn nói một người có tâm thương yêu, sở hữu một trái tim nhân hậu, thì người này bằng cả ba người có dư thừa tài năng cộng gộp lại.
Ông Tư giọng chùng xuống, miệng cười móm mém,
— Bởi bà nói, thì tui mới nhắc lại câu chuyện của hồi xưa. Hồi đó, ba má tui, theo lời năn nỉ của tui, sai ngươi tới mối mai xin hỏi bà làm con dâu đâu phải bởi vì cái chi. Tui nhớ in tuồng đâu sau lần nhìn thấy mình đang đứng bên bụi tre, tui đi về nhà hỏi han bà con làng xóm trong thôn, ai ai cũng nói trong làng mình có một cô thôn nữ vừa nết na lại vừa nhân hậu, người hành khất bước vào sân nhà của cô này không bao giờ bước ra với hai bàn tay không…
Ông Tư nhỏ nhẹ với vợ,
— Bà không biết đọc tin tức, không nghe được đài Mỹ, thì hỏi tui, tui nói cho bà nghe. Mà nếu nói không đúng, thì tui giúp bà, sửa lại, nói cho đúng. Có “chiện” chi đâu mà mắc cở.
Đổi sang giọng điệu bông lơn, ông Tư tiếp tục nói,
— Mà nếu có ai trong Hội Cao Niên cười ngạo tiếng Anh của bà, cho họ cười hở mười cái lợi trống hơ trống hoắc.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một quả tim bằng xương bằng thịt biết rung động, và một khả năng nhạy bén nhận ra khi nào trái tim của chúng con không còn rung một tần số, uốn một nhịp điệu với trái tim khốn khó của toàn thể nhân loại.
www.nguyentrungtay.com