Giáng Sinh là ngày lễ của sự sống, ngày lễ của phẩm giá con người. Đó là một sứ điệp cần được nhấn mạnh đặc biệt vào thời đại chúng ta.
Ý thức hệ “ưu sinh”
Tôi mới đọc một tin “động trời” trên hãng tin Zenit ngày 5-11-2005. Toà án thành phố Reims bên Pháp vừa tuyên bố hai anh em nhà kia phải được bồi thường vì người mẹ đã sinh thêm một em gái tàn tật. Quan toà nêu lên mấy lý do sau đây : 1/ sự ra đời của đứa em út làm xáo trộn cuộc sống của hai anh em nó; 2/ từ khi có đứa con tàn tật, người mẹ dành ít thời giờ hơn cho hai thằng anh; 3/ sự ra đời của nó đã đưa tới cuộc li dị giữa cha mẹ trong gia đình này. Các lý lẽ đưa ra thật là buồn cười, nhất là từ một cơ quan cầm cân nẩy mực trong xã hội. Người ta coi gia đình không hề là một tổ ấm của tình thương, mỗi thành viên của nó chỉ là “một đơn vị” cạnh tranh nhau dựa trên những quyền lợi và bổn phận. Chẳng hạn, ở đây tình thương của bà mẹ đối với đứa con bé bỏng tật nguyền được tính bằng số thời giờ bà dành cho bé (một đơn vị đo lường hết sức cụ thể, vật chất), và số thời giờ đó tất nhiên “lấn” vào số thời giờ mà hai anh nó sẽ có được từ bà mẹ nếu không có em chúng. Có nghĩa là tình thương của người mẹ được coi giống như một chiếc bánh có thể chia ra, ít con thì con được hưởng nhiều, nhiều con thì mỗi đứa được ít hơn, đơn giản thế thôi ! Bản tin trích ý kiến của ông Jean-Marie Le Méné chủ tịch tổ chức bảo vệ sự sống Fondation Jérôme Lejeune, nói rằng đây là một quyết định bất công, thật ra là một thái độ kỳ thị đối với người tàn tật, và ở Pháp, tàn tật là nguyên nhân của phân biệt đối xử còn mạnh hơn tuổi tác hay chủng tộc. Đứa bé tàn tật ở đây trở thành cái “bung xung chịu trách nhiệm về mọi nỗi khốn cùng của thế giới”, nói theo Le Méné.
Nhưng tôi nghĩ, đàng sau phán quyết của toà án là một lập trường không nói ra nhưng không khó phỏng đoán : đó là, bà mẹ kia đáng lý ra đã phải phá thai sau khi chẩn đoán cho biết bào thai là một đứa bé tàn tật. Người ta ngầm hiểu rằng kẻ tàn tật không đáng sống, không được quyền sống. Cha mẹ cần phải chọn lựa đứa con nào “đáng sống” để “cho sống” và đứa nào khuyết tật để loại trừ. Lén lút nấp đàng sau lý luận này là ý thức hệ gọi là “ưu sinh” (eugenic ideology) mà người ta đang phổ biến. Người ta chủ trương nhân loại phải gồm những người “hoàn hảo” nhất về mặt sinh học; và khoa học sẽ giúp sản sinh ra những em bé như thế: mạnh khoẻ, cao lớn, thông minh, thậm chí có màu tóc hay màu mắt nào đẹp nhất, v.v. Như thế, những bào thai nào không đáp ứng những tiêu chuẩn đề ra sẽ bị loại bỏ. Ý thức hệ ưu sinh không phải là chuyện mới mẻ, nhưng ngày nay nó có thể tiến hành mạnh mẽ và hữu hiệu hơn nhờ tiến bộ của khoa học kỷ thuật. Nhưng dù cũ hay mới, ý thức hệ này có xu hướng giản lược hoặc thực tế đã giản lược giá trị con người tiên vàn vào các phẩm tính sinh học –(nói phóng đại thì cũng gần như là chọn một giống vật “tốt” nhất trong ngành chăn nuôi vậy!). Phẩm giá con người nằm ở đâu trong ý thức hệ này ?
Thiên Chúa và phẩm giá con người
Nhờ có một quan niệm cao cả nhất về con người, Kitô giáo mạnh mẽ, kiên quyết, kiên trì và nhất quán chống lại những chủ trương và thực hành như thế. Lời nguyện trong lễ Giáng sinh nói: “Lạy Chúa, Chúa đã sáng tạo con người cách kỳ diệu, lại còn phục hồi phẩm giá con người cách kỳ diệu hơn nữa; xin ban cho chúng con được chia sẻ chức vị làm con Chúa với Đức Kitô là Đấng đã chia sẻ kiếp người với chúng con …” Kinh Thánh dạy: Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh mình, có trí khôn, có tự do và trách nhiệm, lại có khả năng nhận biết và yêu mến Người và được đặt làm chủ mọi tạo vật trên trái đất (x Hiến chế Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 12) … Như thế không phải là kỳ diệu lắm sao? Phẩm giá con người không phải là tuyệt vời sao? Tác giả thánh vịnh 8 sửng sốt: “…Lạy Chúa, con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm, Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, Ban vinh dự huy hoàng làm mũ triều thiên”. Nhưng cũng vì giống với Thiên Chúa mà con người lại muốn chia lìa với Thiên Chúa, phủ nhận Thiên Chúa, loại trừ Thiên Chúa là Đấng tạo nên mình để tôn mình lên làm Chúa.. Làm như thế, họ tưởng mình sẽ thể hiện mình một cách trọn vẹn, tuyệt đối, hoàn hảo vô song. Nhưng đâu phải vậy. Con người là cao cả, nhưng con người cũng chỉ là thọ tạo hữu hạn mà thôi! Chính lịch sử cho thấy phẩm giá con người xa lìa Thiên Chúa không hề được tăng lên mà trái lại thường bị hạ xuống sát sàn, bị chà đạp do tội lỗi và đủ thứ mãnh lực xấu xa. Nhưng vì yêu thương con người, Thiên Chúa không bỏ rơi họ. Người đã phục hồi phẩm giá họ khi cho Con Một xuống thế làm người để cứu vớt họ, đưa họ trở lại địa vị làm con giống như trước khi con người phản nghịch chống lại Người. Và Giáo Hội coi ơn cứu chuộc này còn kỳ diệu hơn cả ơn tạo dựng. Vì sao? Có lẽ vì đối với Thiên Chúa, nếu nói được như vậy, làm cho một thọ tạo nên giống với mình thì vẫn dễ hơn là để cho Ngôi Hai Thiên Chúa là Đấng vĩnh cữu, vô hạn, siêu việt trở thành một con người giới hạn và hay chết như chúng ta. Nhưng điều đó lại là bằng chứng hùng hồn nhất về tình thương chung thủy của Thiên Chúa đối với loài người. Thánh Gio-an viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3,16)
Đức Kitô, con người hoàn hảo
Trong mùa Giáng sinh, chúng ta ngắm nhìn một trẻ thơ mới chào đời cho ta, ngắm nhìn sự sống trong cội nguồn thẳm sâu nhất, cao cả nhất, tinh tuyền nhất của nó. Ta hãy nghe thánh Gio-an khẳng định: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Ga 1,3-4). Nơi Thiên Chúa chỉ có sống, không hề có chết bao giờ. Cũng chính Gio-an làm chứng: “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi chạm đến, đó là Lời sự sống” (1Ga 1,1). Chúa Giêsu đến trần gian là để tái tạo sự sống, kiện toàn sự sống, ban phát sự sống tràn đầy.
Trong mùa Giáng sinh, chúng ta ngắm nhìn nơi Hài Nhi Bê-lem con người hoàn hảo, con người trong phẩm giá cao nhất có thể có. Trong một bài giảng lễ Giáng sinh, thánh Lê-ô Cả, thế kỷ thứ 5, đã kêu gọi: “Hôm nay, Đấng Cứu Độ chúng ta đã giáng sinh, chúng ta hãy vui mừng. Chúng ta không được phép buồn khi ngày sự sống xuất hiện. Ngày kỷ niệm này phá tan sự sợ hãi trước cái chết (…). Hỡi Kitô hữu, hãy ý thức về phẩm giá của bạn !” Chỉ nguyên việc xuống thế làm người, chia sẻ trọn vẹn kiếp người của chúng ta, Đức Kitô đã cho thấy con người có giá trị và cuộc nhân sinh đáng quý chuộng tới mức nào. Rồi trong suốt cuộc đời trần thế, Người luôn luôn đứng về phía sự sống và nhân phẩm, chống lại tất cả những gì –vật chất và phi vật chất- chà đạp và huỷ hoại con người. Nếu cuối cùng, Người có vẻ như chịu thua mãnh lực của sự ác và chết trên thập giá, thì đó là một cái chết tự nguyện, trong tự do, phẩm cách và ý thức trọn vẹn : Người chết là để biểu dương sự sống, chết vì tình yêu, chết cho kẻ mình yêu, chết cho kẻ khác được sống hạnh phúc. Qua đó, Người cho thấy đâu là một cuộc đời ý nghĩa nhất, thành tựu nhất. Chính vì thế, công đồng Va-ti-ca-nô II khẳng định “Đức Kitô là con người hoàn hảo” và “mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể” ( Hc Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 22).
Bảo vệ sự sống và nhân phẩm
Ngay từ khi Chúa giáng sinh, các thế lực của bóng tối và sự chết đã kéo nhau về một phía, lập thành như một mặt trận để tấn công. Tông đồ Gio-an khái quát: “Người ở giữa thế gian và thế gian đã nhờ Người mà có nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,10-11). Ở đoạn mở đầu sách Tin Mừng này của mình, Gio-an chưa vội nói đến một cách cụ thể việc Người bị chống đối, xua đuổi hay truy nã như thế nào, như ngài sẽ làm về sau. Còn thánh Mat-thêu thì cho thấy ngay từ đầu hành động tàn bạo táo tợn của “thế gian” thù nghịch : vua Hê-rô-đê vì sợ Hài Nhi mới sinh có thể đe doạ ngai vàng của mình, đã ra lệnh giết tất cả các con trẻ ở Be-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống (x.Mt 2,16).
Ngày nay, Đức Kitô vẫn tiếp tục bị ghét bỏ như thế trong những con người, những mảnh đời, có khi cả một chủng tộc bị hạ nhục, bị chà đạp, bóc lột, chối bỏ, giết chết bằng vô số những cách thức mà những tiến bộ của khoa học kỷ thuật cung cấp cho sự hiểm độc và tàn bạo của con người. Mà thôi, xin chỉ nói tới một trong nhiều hiện tượng đáng buồn trong xã hội ta, -là nạn phá thai tràn lan. Việt Nam đứng vào tốp ba nước trên thế giới có tỉ lệ phá thai cao nhất. Thật tủi nhục cho một dân tộc “anh hùng”! Đàng sau hiện tượng phá thai, nhất là nơi giới trẻ vốn chiếm một tỉ lệ rất cao, thường là một cuộc sống thực dụng, buông thả, trống rổng, không lý tưởng, không được giáo dục. (Đây tôi chưa nói tới nạo, phá thai vì lý do dân số). Tôi cứ thắc mắc: tại sao một nước có truyền thống văn hoá chịu ảnh hưởng sâu đậm lâu đời của Khổng, Lão và Phật giáo như ta lại mau mắn sa đoạ tới mức ấy ? Không nên chỉ trách móc, phê bình người trẻ. Các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục (nhất là những người nắm quyền trong giáo dục), những người có trách nhiệm trong các tổ chức, đoàn thể và các nhà lãnh đạo chính trị phải chịu trách nhiệm trước. Tôi hồ nghi có cả một luồng tư tưởng đang được gieo rắc tinh vi cho rằng quan hệ tình dục tiền hôn nhân và ngoài hôn nhân là một biểu hiện của tự do và của hiện đại. Đó không phải là một vấn đề “đạo đức”, đó chỉ là một vấn đề kỹ thuật, sao cho an toàn, khỏi thiệt hại tới mình mà thôi. Ở các nước tiên tiến cũng thế thôi, có điều họ biết cách tự bảo vệ mình. Nhưng lý luận ngấm ngầm đó có phải thực sự là của đa số người Việt Nam, nhất là của bậc cha mẹ ngày nay không? Thử hỏi có ai coi một thanh niên, thiếu nữ quan hệ tình dục tự do là “tốt” hơn một người biết chế ngự mình trong vấn đề này không? Có cha mẹ nào muốn có đứa con gái mình mang bầu trước khi lập gia đình không ? Bình thường có thanh niên nào muốn lấy một cô gái đã từng sống một cuộc đời buông thả ? Đây không phải là chuyện kỳ thị, nhưng là chuyện “chuẩn mực sống” trong một xã hội. Nhưng hiện nay, ít ai lên tiếng trong vấn đề này, -có phải vì sợ bị coi là cổ hũ chăng?
Một vụ phá thai là một mạng người bị tiêu diệt. Về chuyện này, dư luận chung chẳng hề áy náy. Ít ra là nhìn theo bề ngoài. Có vẻ như đó cũng chỉ là một chuyện kỹ thuật mà thôi. Không thể nuôi được, không nên nuôi, không muốn nuôi thì phá đi, có sao đâu, chỉ cần làm sao cho an toàn là được. Không có chuyện nhân phẩm, nhân quyền gì cả! Chính quyền thì đã từ lâu coi nạo, phá thai như một trong những biện pháp thực hiện chính sách dân số. Thời mới mở cửa, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp viết truyện ngắn Tướng hồi hưu kể về đứa con dâu của ông tướng nọ ngày ngày đi làm việc ở bệnh viện về mang theo một bịch đựng bào thai chết để nuôi heo. Lý luận “thực dụng” và lạnh lùng của đứa con dâu khiến ông tướng bị sốc và coi là vô đạo đức. Và tự nhiên chúng ta, những độc giả, cũng tán thành lập trường của ông. Phản ứng của ông là phản ứng làh mạnh của một ý thức đạo đức bình thường, như phản ứng của lương tri vậy. Vì thế tôi nghĩ rằng nó vẫn còn rất phổ biến nhưng bị đè nén xuống vì nhiều lý do. Một tu sĩ kể cho tôi nghe, trong kỳ nghỉ hè, thầy đã dạy giáo lý cho một thiếu nữ xin nhập đạo; cô ta có một người chị làm y tá bệnh viện; có lần thầy hỏi người này có khi nào nảy ý theo đạo không, thì nhận được một câu trả lời rất tự nhiên: “Ngày nào cũng cầm dao phá thai giết người như thế này làm sao theo đạo được?”
Thật đáng biểu dương linh mục nọ ở Pleiku đã từ mấy năm nay, ngài có sáng kiến lập ra một khu nghĩa trang chôn cất những bào thai bị giết mà ngài tìm cách cho thu lại từ những thùng rác vệ sinh của các bệnh viện trong thành phố và từ những thùng rác khác. Đến nay đã có khoảng ba ngàn ngôi mộ. Không nhiều lắm vì dễ gì mà thu gom, cho dù chỉ là một phần những bào thai bị phá hằng ngày! Hành động của ngài được đông đảo người xa gần, có đạo và không có đạo ủng hộ. Một số người ngoài công giáo cũng đến cầu nguyện tại nghĩa trang, chứng tỏ họ coi bào thai đã là người, chứ không phải chỉ là “đống thịt bầy nhầy”, như có kẻ mô tả. Được biết, vị linh mục này mới mở một nghĩa địa khác tại Nha Trang. Ngoài ra, hiện nay càng ngày càng có thêm những nhóm “bảo vệ sự sống” trong các thành phố được lập ra để tư vấn và giúp đỡ tinh thần và vật chất cho những cô gái lầm lỡ bị đẩy vào hoàn cảnh muốn phá thai hoặc tuyệt vọng. Đó là một vài cách phản kháng gián tiếp và tích cực (nghĩa là bằng hành động) chống lại nền “văn hoá của sự chết”, cần được khuyến khích, nâng đỡ.
10-12-2005