CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG (B) : Để đón nhận Tin Mừng, phải có những con đường như thế.

Dẫn nhập đầu lễ :

Kính thưa ông bà anh chị em,

Sứ điệp phụng vụ Chúa Nhật II MV hôm nay mời gọi chúng ta tập chú vào những hành vi đức tin mà cả sứ ngôn Isaia lẫn Thánh Gioan Tẩy giả đều minh họa bằng những hình ảnh sống động : “Trong sa mạc hãy mở một con đường cho Thiên Chúa…thung lũng sẽ lấp đầy…núi đồi sẽ bạt xuống” (BĐ 1)…Gioan Tẩy Giả xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội…” (TM)

Sửa dọn những con đường ấy chính là quyết tâm đứng lên dẹp bỏ những tính hư tật xấu, mài dũa đi những góc cạnh, những mũi nhọn của ích kỷ, kiêu căng, là uốn nắn con tim và ý chí theo những kích thước của Tin Mừng, của bác ái yêu thương…

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta…

Giảng Lời Chúa :

Ở giữa khung trời Mùa Vọng, hình ảnh “con đường”, “dọn đường”… luôn thấp thoáng âm vang trong ca kinh lời nguyện của mọi tín hữu : “Có tiếng kêu từ nơi hoang vắng mau dọn đường cho Chúa…”, “dọn đường cho Chúa đi, dọn đường cho Chúa đi”…

Có một điều chắc chắn, “con đường của Mùa Vọng” không bao giờ là con đường nhằm gợi lên một nổi u uất buồn tênh hay dẫn lối vào vô vọng bế tắc như kiểu lời ca trong khúc nhạc “Đời gọi em biết bao lân” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn :

Đi về đâu hỡi em, khi trong lòng không chút nắng, giấc mơ đời xa vắng, bước chân không chờ ai đón. Một đời em mãi lang thang, lòng lạnh băng giữa đau thương”.

Con đường của Mùa Vọng là con đường dẫn lối đến “mùa xuân hy vọng”, là con đường khơi dậy niềm tin yêu; là con đường gọi mời một thái độ đức tin, một tác động của sự sống : một mở ra để đón nhận, một đổi đời để gặp gỡ.

1. Đã có một Tin Mừng như thế :

Ở giữa bối cảnh một Giêrusalem hoang tàn đang bị ngoại bang Babylon giày xéo, giữa một đoàn dân cúi đầu trước kiếp khổ nhục lưu đày, lời của Sứ ngôn Isaia vang lên như một Tin Mừng vĩ đại : “Hỡi kẻ loan tin mừng cho Sion, hãy trèo lên núi cao. Hỡi kẻ loan tin mừng cho Giêrusalem, hãy cất tiêng lên cho thật mạnh. Cất tiếng lên đừng sợ, hãy bảo các thành Giuđa rằng : “Kìa Thiên Chúa các ngươi”…” (BĐ 1). Đó là câu chuyện của thế kỷ VI trước công nguyên. Trong khi đó, cũng tại vùng đất Palestina khô cằn sõi đá, vào những năm đầu Công Nguyên, Philatô, tên tổng trấn Rôma đang cai trị Ít-ra-en bằng độc tài khát máu, thì Gioan ẩy Giả, trong vóc dáng của một “đạo sĩ rừng xanh”, một tiên tri lập dị đã lặp lại lời rao giảng của I-sa-ia :”Có tiếng người hô trong hoang mạc : hãy dọn đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi…” (TM).

Sau những lời sấm ngôn đó, quả thật đã có gì hiện thực ?

Lịch sử của dân tộc Ít-ra-en đã ghi rằng : Khoảng năm 539 trước công nguyên, Vua Kyro của Ba-Tư chiếm Ba-by-lon và đã ra sắc chỉ cho phép đoàn dân Do Thái lưu đày được hồi hương, Giê-ru-sa-lem được tái thiết. Hồi đó, một nỗi vui tràn trào dâng ngập lòng dân Ít-ra-en, họ đã cảm nhận tình thương cứu độ của Thiên Chúa dành cho họ quá thực, quá rõ như có thể mắt thấy tai nghe mà trích đoạn sách Isaia trong BĐ 1 hôm nay đã minh họa :

“Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa,

Tập trung cả đoàn dưới cánh tay.

Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng,

Bầy chiên mẹ cũng tận tình dẫn dắt.”


Trong khi đó, vào những “năm thứ 15 dưới triều hoàng đế Ti-bê-ri-ô” sau những lời Gioan Tẩy giả loan báo bên bờ sông Gio-đan, đã có một “Giê-su người Na-gia-rét” xuất hiện với “quyền năng trong lời nói cũng như việc làm”; và rồi người ta đã kháo láo với nhau : “ở làng bên có kẻ mù thấy, kẻ què đi”, “bên thành phố nọ có mấy người phung cùi lành sạch, có kẻ bất toại đứng thẳng lên”, “và ở đâu đó, tại làng Bêtania thì phải, có chàng Lagiarô chết 4 ngày xác thịt đang thối rửa sống lại, cũng thế, ngay trên con đường thị trấn Naim, một thanh niên đang nằm trong quan tài để được an táng đã được phục sinh”; “và kìa, ngay giữa hoang mạc cả hàng ngàn người đói mệt được no nê chỉ với dăm chiếc bánh và vài con cá…

Rồi người ta lại nghe; ông trưởng tuy thuế vụ Giakê mang tiếng tham nhũng, xảo quyệt tham lam đã cải tà qui chánh, cô gái làng chơi Mai-đệ-Liên đã trở lại hoàn lương, anh chàng Lê-vi hay ngồi ở bàn thu thuế đã bỏ nghề đi làm sứ đồ, và người đàn bà nhà quê tội nghiệp lỡ phạm tôi ngoại tình được cứu thoát khỏi bị ném đá…

Và cứ như thế, toàn dân đâu đâu cũng đuợc nghe một “TIN MỪNG”, “Tin mừng Nước Thiên Chúa” đã đến, “Tin mừng Thiên Chúa là Cha yêu thương”, “Tin mừng về một Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta”, “Tin mừng về một cuộc tái sinh vào đời sống mới”, Tin mừng về một cuộc sống phục sinh sau cuộc đời dở dang tại thế nầy, Tin mừng về một thế giới được qui tụ thành một gia đình con cái Thiên Chúa…

2. Hãy mở lòng ra đón nhận Tin Mừng :

Hôm nay, sau 2000 năm, chúng ta lại được nghe lại những lời của ngôn sứ : “Hãy dọn đường cho Chúa đi, hãy mở đường cho Chúa đi !”. Và hy vọng điều gì sẽ xảy ra đây ? Những phép lạ, những cuộc đổi đời, những số phận bi đát tối tăm được nhìn thấy ánh sáng và hy vọng, những trái tim đổ nát hoang tàn được chữa lành băng bó ?

Vâng, thế giới hôm nay cũng mang trọn những dấu vết bất toàn của thế giới cách đây 2000 năm trước : một thế giới đang hằn sâu những dấu vết của nô lệ, của lưu đày, của què quặt, của đui mù, của cùi phung, của đói khát, một thế giới như một “Giê-ru-sa-lem hoang tàn vắng bóng Thiên Chúa”, vắng bóng những giá trị nhân bản và Tin Mừng đích thực để thay vào đó là hưởng thụ, dục lạc; một thế giới như một Ít-ra-en lưu đày nô lệ khi thay vì hòa bình an vui lại tràn lan bạo lực, khủng bố, chiến tranh, thay vì yêu thương, huynh đệ hiệp nhất, lại là ích kỷ, hận thù, cá nhân chủ nghĩa, thay vì được xây dựng trên nền tảng là các gia đình chung thủy, thánh thiêng, lại là các cuộc ly dị, ly thân, phá thai, suy đồi luân lý… Trong một thế giới như thế, quả thực chúng ta cần có “phép lạ xảy ra”, cần có “Tin Mừng chợt đến”.

Và trong thế giới đó có chúng ta. Những giám mục, linh mục, tu sĩ, nam nữ giáo dân. Có ai trong chúng ta lại không nhìn thấy mình trong hình ảnh Giuđa phản bội, Phêrô chối Chúa, Gakê thu thuế tham lam, biệt phái kiêu căng giả hình, tư tế độc đoán tham quyền cố vị…Nói cách khác, thế giới hôm nay, chúng ta hôm nay đang cần Chúa Giêsu và Tin Mừng cứu độ của Ngài. Và như thế, không còn con đường nào khác ngoài việc chúng ta phải mạnh dạn “đón mời Đức Kitô đến”, chúng ta phải mở rộng cõi lòng để cho những hạt giống Tin Mừng của Ngài được gieo vãi, hạt giống khó nghèo, yêu thương, xây dựng hòa bình, hiền lành, trong sạch…hạt giống khiêm hạ và phục vụ yêu thương, hạt giống khoan dung và tha thứ. Lời đầu tiên của Đức cố Giáo hoàng Gioan-Phaolô II khi Ngài lên ngôi Giáo Giáo hoàng, và cho đến mãi hôm nay Giáo Hội vẫn lặp lại đó là : “Anh chị em đừng sợ…Hãy mở toang mọi cánh cửa để đón nhận Đức Kitô”.

Phải chăng, Sứ điệp Mùa Vọng hôm nay cũng đang gọi mời ta mở lòng đón gặp Chúa Giêsu như thế.

3. Để đón nhận tin Mừng, phải có những con đường như thế :

Tuy nhiên, nếu cuộc hành trình từ viễn xứ lưu đầy về lại cố hương Giê-ru-sa-lem là cả một cuộc xuất hành nhiêu khê, đòi hỏi nhiều gian nan, từ bỏ, khó nhọc, phấn đấu…Cũng thế, để đón nhận Đức Kitô và sứ điệp của Ngài, luôn phải là một “cuộc xuất hành mới” cam go hơn, thử thách hơn, vất vả hơn. Thật vậy, trong cuộc lên đường để gặp gỡ Thiên Chúa không chỉ phải “bạt xuống nhưng đồi núi của kiêu căng, hợm hĩnh, của tham vọng ngông cuồng”, mà còn phải “lấp đi những hố sâu của hận thù chia rẽ, ghen ghét giận hờn, đố kỵ, cách ngăn”. Có nghĩa là để đón nhận Đức Kitô và sứ điệp Tin Mừng Nước Thiên Chúa, chúng ta phải “vác thập giá”, phải “đổi đời” (metanoia), phải sửa dọn con đường thích hợp. Chúng ta cần sửa dọn “con đường tâm hồn” ta, “con đường cuộc sống” ta. Chúng ta cần sửa dọn những con đường đến với anh em, những con đường là các tương quan người với người trong gia đình, trong cộng đoàn, trong môi trường xã hội quanh ta…

Câu chuyện “con đường giữa hai cái hang” sau đây có thể là một minh họa rõ nét cho câu chuyện “dọn đường, sửa đường đón Chúa” mà chúng ta chia sẻ với nhau hôm nay :

Tại một vùng núi nọ, người ta truyền tụng cho nhau câu chuyện nầy : Ngày xưa, có hai thầy dòng quyết tâm nên thánh bằng cách chọn con đường ẩn tu. Để thực hiện việc nầy, cả hai thầy lên núi, tìm hai hang động cách xa nhau làm chỗ dung thân để qua hết cuôc đời trong thinh lặng và kết hợp với Chúa. Để cuôc sống ẩn tu đạt kết quả cao, và để khỏi bận tâm, chia trí về những "sự thế gian", cả hai quyết định, hang ai nấy ở, mỗi người môt không gian riêng, một thế giới riêng, không liên hệ, không giao tiếp với nhau và với mọi người… Rồi năm tháng qua đi. Cả hai chết lúc nào không ai biết. Hai hang động trở thành hoang phế, như nhai chiếc mồ hoang lạnh giữa rừng sâu. Thời gian sau đó, có hai tên cướp bị săn đuổi, đã thay tên, đổi họ, lần mò trốn lên núi nầy để ẩn danh tìm chút bình an cho cuộc sống thừa. Gặp được hai cái hang hoang lạnh của người xưa, cả hai nẩy sinh sáng kiến : chọn nơi đây làm chốn dừng chân để sám hối và làm lại cuộc đời. Thế là cả hai dọn sạch hang cũ và bắt đầu cuộc sống mới của những người "ẩn tu bất đắc dĩ." Chỉ khác với hai thầy dòng trước một điều là cả hai quyết định làm một con đường nối liền hai hang để thường xuyên qua lại, thăm viếng, giúp đỡ, ủi an …Dần dà, dọc theo con đường nối hai hang đã mọc đầy hoa, xung quanh hang động cảnh trí phô đầy sức sống và vẻ đẹp. Hai tên cướp năm nào giờ đây đã trở thành hai vị ẩn tu hiền lành, thánh thiện, đến nổi hương thơm thánh đức lan toả khắp vùng khiến nhiều người cất công lên núi để xin "Hai Thầy" cầu nguyện và hưóng dẫn đạo đức…Và rồi, hai "thầy tướng cướp ẩn tu" đó qua đời. Vì đời sống thánh thiện và vì có những phép lạ xảy ra cho một số người lên núi cầu xin, nên dân chúng vùng đó "tự động" phong thánh cho hai "thầy cướp ẩn tu" nầy…

Con đường đến với Thiên Chúa và đến với anh em của mỗi người chúng ta trong Mùa Vọng nầy cũng phải được phát quang và trồng đầy hoa như thế. Và chỉ có những con đường “hiệp thông, chia sẻ, bác ái, khoan dung, quảng đại, tha thứ…như thế mới có thể biến những “hang đá tâm hồn” lạnh lẽo hiu quạnh của những tên cướp trở thành thánh nhân, mới biến chúng ta trở nên những Kitô hữu đích thực, mới biến thế giới quanh ta trở thành an vui hòa bình, và đặc biệt, biến Mùa Vọng, Mùa Giáng sinh năm nay trở thành một “Tin Vui đích thực” cho chính chúng ta và cho mọi người quanh ta. Amen.