CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG NĂM B

Mùa Vọng : đón đợi Người về

Dẫn nhập đầu lễ : Anh chị em thân mến,

Chúng ta đang bước vào một năm Phụng vụ mới. Thời gian phụng vụ chính là phương thế Chúa dùng để ta tiến về với Ngài, tiến đến gặp gỡ Ngài hôm nay để dọn dường cho cuộc gặp gỡ trọn vẹn, vĩnh cửu trong Nước Trời mai hậu. Phụng vụ Chúa Nhật I MV hôm nay mời gọi chúng ta sống tâm tình hy vọng, đợi chờ “cuộc gặp gỡ đó” trong thái độ tỉnh thức. Đó chính là thái độ biết sống” cái vĩnh hằng trong giây phút hiện tại”, biết biến cuộc đời thành một cuộc “lên đường trong hy vọng và đầy tràn niềm vui”, biến các tương quan với Chúa và với anh em đồng loại trở thành mối giây bác ái yêu thương và phục vụ. Đó chính là ý nghĩa đích thực của Mùa Vọng Phụng vụ và Mùa Vọng của cuộc đời Kitô hữu.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta để xứng đáng cử hành Thánh lễ.

Giảng Lời Chúa :

Hình ảnh người mẹ già sau bao tháng năm mong mỏi, lần bước ra ngỏ sau đón đợi con về gần như đã thể hiện phần nào hai ý nghĩa cốt yếu của Mùa Vọng : Đón Đợi và Trở Về.

“Mẹ lần mò ra ngõ sau đón bước người xưa ngỡ trong giấc mơ…nắng vàng hoe, đôi mắt đã nhòe vì quá đợi chờ..” (Ngày trở về của Phạm Duy).

Thưa ông bà và anh chị em.

Phụng vụ Chúa Nhật I Mùa Vọng hôm nay cũng muốn gợi lên cho chúng ta tâm tình “đợi chờ”, “trông ngóng”, một tâm tình vươn về phía trước, hướng đến đàng xa, để “đón đợi”, để “gặp gỡ chính Chúa Kitô đang trở về, đang đến”. Chúng ta hãy cùng nhau dừng lại để chia sẻ với nhau đôi điều mà sứ điệp Lời Chúa hôm nay gọi mời chúng ta đón nhận để sống trên cuộc hành trình Mùa Vọng nầy.

1. Chúa đến : bởi vì tôi đang cần Ngài :

Tôi cần Ngài như dân ít-ra-en xưa, giữa một hoàn cảnh éo le và đầy tăm tối thất vọng của kiếp sống nô lệ, hậu quả của tội lỗi, bất trung và lệch xa Giao ước, đã khát khao sự can thiệp của Gia-vê Thiên Chúa bằng những lời cầu xin tha thiết : “Vì tình thương đối với tôi tớ là các chi tộc thuộc gia nghiệp của Ngài, xin Ngài mau trở lại. Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống cho núi non rung chuyển trước Thánh Nhan…Lạy Đức Chúa, Ngài là Cha chúng con; chúng con là đất sét, còn thợ gốm là Ngài” (BĐ 1)”.

Và nếu đặt ý nghĩa nầy trong bối cảnh của Phúc Âm. Thì tôi chợt thấy rằng : quả thật,

Tôi cần Ngài như Giakê sẵn sàng leo lên cây sung đón đợi để nhìn cho được gương mặt chí thánh của thầy Giêsu để xin Ngài may ra thương tình mà ngó ngàng đến thân phận tội lỗi xấu xa của một đời bon chen với bất công và tham lam dối trá. Và Ngài đã đến hoán cải cuộc đời Giakê.

Tôi cần Ngài như những người phung cùi bị xã hội ném ra ngoài hoang mạc chỉ còn kéo lê cuộc đời trong đau thương thất vọng, những người mù lê lết ăn xin bên vệ đường, những tên bị quỷ ám sống cù bơ cù bất nơi những nghĩa trang hoang lạnh, những người đàn bà mất con như bà góa thành Naim, những người chị mất em như Matta Bêtania, những bệnh nhân tiền mất tật mang như người phụ nữ loạn huyết Canan, hay như maria Mađalêna, cả một đời buông trôi trong kiếp “gái giang hồ’…. Và Ngài đã đến cho kẻ què được đi, người mù được thấy, kẻ phung cùi được sạch, người chết sống lại và ai mang thân phận tội lỗi hoang đàng được hồi tâm trở về làm lại cuộc đời trong tin yêu ân sủng.

Người ta sẽ không cần “Chúa đến”, không cần Chúa viếng thăm, Chúa thương xót khi tự hào mình đang có những “vỏ bọc an toàn”, những “tháp canh kiên cố”, những”kho lẫm” vững chắc đầy những công trạng, đạo đức, như kiểu người biệt phái lên đền thờ cầu nguyện, không phải để trông chờ Chúa đến mà là để “dâng công bộ” vì bao công đức của mình, hay như người thanh niên giàu có đã xụ mặt quay đi bởi vì “anh ta có nhiều của cải”.

Tôi cần Ngài như người thu thuế đang thiết tha mong chờ “Chúa đến” bằng thái độ khiêm hạ đấm ngực ăn năn với lời nguyện cầu tha thiết “Lạy Chúa xin thương xót con vì con là người tội lỗi”.

Tôi cần Ngài khi tôi chẳng khác nào như những anh chàng ngư phủ xứ Galilê suốt cuộc đời chỉ biết con thuyền tấm lưới và kéo lê cuộc sống trong sự tầm thường, ích kỷ, nhỏ nhen thì Ngài đã đến gọi tôi để dẫn tôi dấn thân trên những nẽo đường lý tưởng, phục vụ tha nhân, loan báo Tin mừng.

Và như thế, sống đức tin phải chăng là sống một Mùa Vọng triền miên, bởi vì có khi nào mà chúng ta lại không cần Chúa Đến !

Vã lại, xét cho cùng,

- đức tin không phải là một “chuyện đã qua”, một kỷ niệm của quá khứ để thỉnh thoảng ngồi ôn lại một cách bâng quơ hờ hững.

- Đức tin cũng không phải là một con đường mòn quen thuộc, một tập quán đơn điệu, máy móc để mỗi ngày bước đi, mỗi ngày thực hiện như cuộc vận hành của một chiếc máy mù lòa theo quán tính.

Không ! Đức tin Kitô giáo, Đạo của Chúa Giêsu, Thiên Chúa của người Kitô hữu luôn luôn là một hiện thực mới mẻ, tinh khôi, đang đến, đang trở về và đang hiện diện.

Ý nghĩa đầu tiên của Mùa Vọng, Mùa “Ad-ven-tồ”, phải chăng là giúp mỗi người tín hữu chúng ta sống và cảm nhận, thực hiện và bước tới gặp gỡ một Thiên Chúa, một Đức Kitô, một Tin Mừng trong chiều kích đầy hoan vui và hiện thực đó.

2. Chúa đến : bởi vì đó chính là Tin Vui

Tin Vui đó chắc chắn không phải là một thứ “Rừng Mơ của Tào Tháo” chỉ để giải quyết tạm thời, chỉ để mị dân và lừa phĩnh; 600 năm sau những lời cầu nguyện tha thiết của Ít-ra-en : “xin Chúa xé trời ngự xuống”, thì Đấng là Em-ma-nu-en, là Hoàng tử Bình An, là Đấng Cứu thế, là Thiên Chúa Làm Người đã xuất hiện, không phải để chiếm lại một giải đất Pa-les-tine khô cằn sỏi đá hay đắc chí ngồi trên ngai vàng để thống trị vài chục triệu dân; nhưng là để giải phóng toàn diện lịch sử con người, là qui tụ toàn nhân loại trong một Vương Quốc bao la vĩnh cửu; cũng không phải để tái dựng một đền thờ Giê-ru-sa-lem bằng đá gạch, nhưng là một Đền Thờ Mới vĩnh hằng vì “đã đến lúc người ta không còn thờ Cha trên núi nầy núi nọ, hay tại Giê-ru-sa-lem…. nhưng là thờ Cha trong thần khí và sự thật…” (Ga 4, 20-24).

Hôm nay, bước vào Mùa Vọng, khai mạc một Năm Phụng vụ mới, Lời Chúa cũng muốn nhắn gởi chúng ta chính lời tiên tri ấy. Vâng, hãy bắt đầu lại, hãy ngẩng cao đầu, hãy nhìn về phía trước, “hãy vươn tâm hồn lên” để đón nhận Tin Vui. Hãy vứt bỏ đi những nổi chán chường, thất vọng của một lối sống đức tin mang đầy dấu vết của nô lệ, của lưu đầy. Hãy vứt bỏ đi lối sống buông trôi, lờ lững, không biết tới ngày mai, không dám đối diện với tương lai. Hãy vứt bỏ đi cuộc sống chỉ có biết bon chen, cặm cụi với cái lãi cái lời vật chất, cặm cụi đầu tư bất kể cho những thứ chóng qua mà chẳng tính gì đến chuyện vĩnh hằng tối hậu. Và cũng vứt bỏ đi cái lối sống đạo và hành xử đức tin vụ hình thức, giả tạo, biệt phái và kiêu căng. Hãy nhìn rõ cái tôi tội lỗi yếu hèn để khát khao lòng khoan dung tha thứ như tâm tình của Ít-ra-en :

“Tát cả chúng con đã nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ. Tất cả chúng con héo tàn như lá úa, và tội ác chúng con đã phạm, tựa cơn gió, cuốn chúng con đi…” (BĐ 1)

Một cuộc vứt bỏ như thế để làm lại cuộc đời trong thánh thiện yêu thương phải chăng là một cuộc “bừng mắt dậy sau đêm dài của giấc ngủ tội lỗi đen tối” theo cách nói của Thánh Phaolô trong thư gởi giáo đoàn Rôma: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những hành vi đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu…”. Điều đó sẽ dẫn đến cuộc sống phong phú trong Đức Kitô như lời xác quyết của Thánh Phaolô tông đồ trong BĐ 2 hôm nay : “Quả vậy trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện, phong phú vì được nghe Lời Chúa và hiểu biết mầu nhiệm của Người”.

3. Chúa đến nên tôi phải tỉnh thức

Tỉnh thức của Mùa Vọng trước hết, không chỉ là một “giải pháp tình thế”, một thái độ mang tính “đối phó” đột xuất chỉ cần phải có khi đối diện với hiểm nguy, khi cận kề sự chết.

Không. Tỉnh thức của Mùa vọng là chuyện của cả con người, của cả cuộc đời. Tỉnh thức không phải chỉ để “dọn mình chết lành”, mà phải là “để sống cho ra sống”.

Sống một cách “tỉnh thức’ đó là không ngừng trang bị cho mình một đôi tai thính để biết lắng nghe tiếng Chúa, lắng nghe lẽ phải, lắng nghe lương tâm, lắng nghe Hội Thánh…

Sống tỉnh thức đó chính là luôn có đôi mắt sáng để nhận ra Chúa nơi anh chị em và thấy Chúa hiện diện trong mọi biến cố của đời thường.

Sống tỉnh thức là luôn trang bị cho mình một trí khôn minh mẩn để nhận ra đâu là thánh ý Thiên Chúa, đâu là dấu chỉ của Ngài để thực thi các trung thành và can đảm.

Sống tỉnh thức là luôn có đôi tay mở rộng để phục vụ, đôi chân nhiệt thành loan báo tin Mừng, và trái tim nhạy cảm để yêu thương và biết nghiêng mình trên những thân phận khổ đau bất hạnh của đồng loại.

Trong trích đoạn Tin mừng hôm nay, Thánh Mát-cô đã thuật lại một bài giáo lý của Đức Kitô mà nội dung cốt lỏi cũng chính là thể hiện niềm tin bằng lối sống luôn là “sắp sẳn, tỉnh táo như người đầy tớ đang đón đợi chủ về”. Đây không phải là chuyện dễ ợt, mà là một cuộc phấn đấu nhọc mệt, là cả một cuộc hành trình cam go và mạo hiểm, một cuộc sống khôn ngoan biết tiên liệu và tỉnh táo sắp sẳn cho dù “chủ trở về lúc chặp tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng”. (TM)

Trong sử thi “Cuộc chiến tthành Troa” có câu chuyện nàng Penelope chờ đợi chồng là tráng sĩ Ullisse chiến đấu phương xa không nản lòng, không mệt mõi và khước từ mọi cám dỗ bằng cách “dệt cho xong tấm khăn”. Ban ngày dệt, ban đêm tháo. Mãi 20 năm sau mới gặp lại chồng…

Vâng, sống Mùa Vọng là sống như thế đó. Mùa Vọng không chỉ là một khoảng “thời gian trái độn” để có thời giờ trang trí Giáng Sinh, hay là một chuổi dài ngày mặc áo tím hát “Trời cao xin đổ sương mai” ve vuốt một tâm tình ũy mị sướt mướt. Mùa Vọng của Phụng vụ cũng chính là Mùa Vọng của cuộc đời. Một cuộc đời biết “không ngừng đón đợi Chúa đang đến”, một cuộc đời biết tỉnh táo luôn luôn để chào đón và gặp gỡ Chúa trở về. Mà thật sự Chúa “đang trở về” hôm nay, ở đây trong thánh lễ nầy, ở giữa cộng đoàn nầy. Chính vì thế, không phải chúng ta hát mà là thực sự sống chính cái ý nghĩa của lời ca Nhập Lễ vừa vang lên lúc khởi đầu : “Con vươn linh hồn lên tới Chúa”. Amen