Lễ Tạ Ơn trong Thánh Kinh
Kinh Thánh nói gì về ngày lễ này và việc tạ ơn.
Bạn có từng bao giờ nghĩ rằng mình sẽ dọn một bữa ăn thịnh soạn đầy đủ theo đúng nghĩa của Thánh Kinh trong Ngày Lễ Tạ Ơn sắp tới này không? Vì suy cho cùng, đó là một ý tưởng khá đặc biệt đấy. Những rủi thay, chúng ta có rất ít chỉ dẫn để chuẩn bị cho một bữa ăn như vậy. Mặc dầu việc ăn, uống, thức ăn và rượu, các bữa ăn và bữa tiệc rất thường hay được đề cập tới trong Thánh Kinh, thế nhưng, chẳng có chổ nào trong Thánh Kinh mà chúng ta có thể tìm thấy được một bữa ăn với đầy đủ các món như vậy?
Chúng ta chỉ có thể mơ tưởng rằng một ngày nào đó các nhà khảo cổ học Thánh Kinh sẽ tìm ra một bản kinh ngụy tác có chứa những món ăn có liên quan đến các đoạn trong Thánh Kinh. Thật là thú vị khi chúng ta muốn biết Bà Sarah đã dọn món thịt bê như thế nào cho ba vị khách lạ tại Mam’re qua đoạn Kinh Thánh trích trong sách Sáng Thế Ký, Chương 18, từ Câu 6-8: “Ông Áp-ra-ham vội vã vào lều tìm Bà Xa-ra mà bảo: ‘Bà mau mau lấy ba thúng tinh bột mà nhồi, rồi làm bánh.’ Ông chạy lại đàn vật, bắt một con bê mềm và ngon, giao cho người đầy tớ, và anh này vội vã làm thịt. Ông lấy sữa chua, sữa tươi và thịt bê đã làm, mà đãi khách; rồi ông đứng hầu dưới gốc cây, đang khi khách dùng bữa.”
Hoặc Bà Rebekah đã chuẩn bị món thịt nai, món ăn thích nhất của Isaac như thế nào (như trình thuật trong sách Sáng Thế, Chương 27), hay những món nào có trong thực đơn trong bữa tiệc cưới tại Cana (như trình thuật trong sách Gioan, Chương 2 từ Câu 1-12) chẳng hạn, đó là những gì mà chúng ta muốn biết phải không?
Thế nhưng tất cả những điều trên vẫn còn là sự phỏng đoán thuần túy mà thôi, và mãi cho đến bây giờ không ai có thể đưa ra một thực đơn đầy đủ về những bữa ăn hằng ngày hay những bữa ăn vào các dịp lễ trọng đại trong thời của thánh kinh. Dầu vậy, chúng ta biết được rằng: những người dân cổ xưa của Israel thường hay có các món ăn hay dùng các thành chất sau vào ngày lễ đó là: thịt bò, thịt cừu, thịt nai rừng, cá, bột mì, sữa, mật ong, dầu ôliu, rượu và trái cây, bao gồm luôn cả quả sung/vả (figs) và các quả chà là (dates). Họ cũng còn dùng các loại thảo mộc (herbs) và các đồ gia vị (spices) như: cây thìa là của Ai Cập (cumin), cây bạc hà (mint), cây mù tạc (mustard) và cây thì là (dill).
Thánh Kinh đề cao những gì có liên quan đến thực phẩm, các bữa ăn và lòng hiếu khách. Từ Thanksgiving là một ngữ từ chính trong phong cách cầu nguyện và tâm linh của người Israel cổ. Thức ăn, nhìn chung, được xem là một hồng ân, một sự chúc phúc đến từ Thiên Chúa. Ngay cả với Qohelet mang đầy tính hoài nghi, hay còn được biết dưới một tên gọi khác là Ecclesiastes, cũng bao gồm luôn cả việc ăn và uống như là một phần trong tín ngưỡng của Ông ta: “Đối với con người, không có gì tốt hơn là ăn uống và hưởng những thành quả do công lao khó nhọc mình làm ra! Nhưng chính tôi đã thấy là điều đó cũng do Thiên Chúa mà đến, vì có ai ăn uống, có ai cảm thấy vui mừng hoan hỉ mà không nhờ Thiên Chúa ban cho?” (trích sách Giảng Viên, Chương 2, từ Câu 24-25).
Các bữa ăn cũng chính là những giây phút tuyệt vời nhất để cùng sẽ chia và hiệp thông với nhau. Trong Sách Tân Ước, điều này thể hiện rõ qua việc Chúa Giêsu cùng dùng bữa với những người thu thuế, với các môn đệ, với những người biệt phái Pharixêu, với các cặp mới cưới, và với các bằng hữu của Ngài, quá nhiều đến nổi bọn biệt phái Pharixêu phải lên tiếng rằng: “Hãy nhìn kìa, Ngài lại ăn uống với quân thu thuế và phường tội lỗi” (sách Máthêu, Chương 11, từ Câu 18-19). Chúa Giêsu thích thú với cuộc sống và những bữa ăn của Ngài như là những giây phút thâm tình nhất để Ngài có thể đến với tất cả mọi người.
Và chúng ta cũng còn biết thêm là, tính hiếu khách rất ư là quan trọng trong các thời đại của thánh kinh và tại rất nhiều quốc gia. Nó không chỉ là vấn đề lịch sự hay văn minh hóa, mà mọi người đều có một xác tín rất cơ bản rằng tất cả các vị khách đều quan trọng cả, và cũng có thể họ là những sứ giả đến từ Thiên Chúa. Chính vì thế, tự bản chất họ rất niềm nở với tất cả những vị khách, cho dẫu họ có là bà con huyết thống hay là những người lạ mặt đi chăng nữa, và việc cùng dùng bữa với họ, không chỉ đơn thuần là việc sẽ chia các món ăn không thôi, mà nó còn là việc tạo ra sự hiệp thông trong cung cách và trong đời sống. Tác giả của lá thư gởi cho những người Do Thái nhắc nhớ tất cả chúng ta về tầm quan trọng của sự hiếu khách: “Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết” (trích sách Do Thái, Chương 13, Câu 2).
Bằng cách đối chiếu với bối cảnh chung của Thánh Kinh vừa mới nêu trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy được chiều kích tôn giáo và tâm linh của Ngày Lễ Tạ Ơn. Với ý tưởng gắn kết với mùa gặt, Tạ Ơn tất nhiên phù hợp với ngày lễ hội Suklot trong thời đại thánh kinh, vốn được cử hành vì sự trù phú và tốt tươi của đất đai. Ba lễ hội chính thức của người Do Thái là: Lễ Vượt Qua (Passover) (vào mùa Xuân và sự xanh tươi trở lại của tự nhiên); Lễ Ngũ Tuần (Pentecost) (tức vào mùa Hè và những hoa trái đầu mùa); và Lễ Tabernacles (tức người Do Thái mang hòm thánh đi theo khi lang thang trong hoang mạc - thường là vào mùa Thu, mùa gặt hái) - thì đó là những ngày lễ mang tính chất thuần nông trước khi chúng được lồng vào tính chất lịch sử hóa và tôn giáo hóa. Việc Tạ Ơn đến một rất tự nhiên cứ vào mỗi lần thay đổi mùa màng, và chính nó đã trở thành một ám chỉ về tôn giáo để hiện thể lòng biết ơn về những ơn huệ và lượng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa qua các hồng ân của thiên nhiên và các công trình của nhân loại.
Đặc điểm thứ hai của Ngày Lễ Tạ Ơn của chúng ta chính là tầm quan trọng được nhấn mạnh đến qua bữa ăn. Thánh Kinh có rất nhiều bữa ăn đáng để ghi nhớ. Có một đoạn rất đáng chú ý trong Sách Cựu Ước như là một kết luận về toàn bộ kinh nghiệm tại Sinai đó là: “Người không ra tay hại những bậc vị vọng của Ít-ra-en; họ được chiêm ngưỡng Thiên Chúa, và sau đó họ ăn uống” (trích sách Xuất Hành, Chương 21, Câu 11). Những tác giả Thánh Kinh tóm tắt lại kinh nghiệm nền tảng về Sinai với hai thành phần chính: suy niệm về Thiên Chúa và cử hành việc ăn uống. Việc sẽ chia một bữa ăn là một thói quen mang tính tập quán của những người thuộc vùng cận Đông cổ.
Ý nghĩa mang tính tôn giáo này được tiên trị Isaiah tài tình khai triển về bữa tiệc cánh chung như sau:
“Ngày ấy, trên núi này,
Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc:
tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon,
thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế.”
(Trích sách Isaia, Chương 25, Câu 6).
Bắt nguồn rất sâu trong một truyền thống mang tính tiên tri như vậy, chính Chúa Giêsu đã biến hình ảnh của bữa tiệc, trở thành trọng tâm trong việc giảng dạy của Ngài về vương quốc của Thiên Chúa: “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình” (trích sách Máthêu, Chương 22, Câu 2). Hình ảnh của Thiên Chúa qua việc Ngài qui tụ mọi quốc gia chung quanh bàn tiệc của Ngài, và muốn trao ban thật nhiều ơn huệ cứu chuộc dồi dào của Ngài cho tất cả mọi người, cũng được đề cập một cách hào hùng trở lại trong Sách Khải Huyền, Chương 19, Câu 9: “Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên!”
Chẳng phải là ngẫu nhiên khi động từ yadah trong tiếng Do Thái, thường hay được dịch là tạ ơn (give thanks), nhằm ám chỉ việc tạ ơn một cách sâu sa chứ không phải là một sự biết ơn bình thường, giản đơn. Đó chính là sự đáp đền và nhớ ơn về những ơn huệ được trao ban, dẫu rằng động từ đó có nghĩa chính yếu là tuyên xưng (profess) hay thú nhận (confess). Cùng đích của Lễ Tạ Ơn mới chính là vấn đề và đó cũng là một cử chỉ của đức tin.
Nghĩa tương đương của động từ yadah trong Sách Tân Ước chính là eucharistein, tức Thánh Thể. Khi Chúa Giêsu làm phép bánh, tức Ngài hóa bánh ra nhiều (như trong sách Mátcô, Chương 8, Câu 6 có trình thuật lại), và khi Ngài đọc lời thánh hóa bánh và rượu trong Bữa Tiệc Ly (theo sách Luca, Chương 22, từ Câu 17-19), cũng trong ý hướng của việc tạ ơn, mà bánh và rượu được trở nên của ăn nuôi dưỡng tâm linh cho tất cả mọi người. Và đến khi chúng ta tham dự vào việc cử hành Phép Thánh Thể và tỏ bày lòng biết ơn của chúng ta đến cho Thiên Chúa, chúng ta tuyên xưng đức tin bằng chính cuộc sống tràn đầy ơn nghĩa Ngài ban: “Cảm tạ Chúa, là Chúa Tể Càn Khôn. Qua sự nhân từ của Ngài, chúng con có được bánh … và rượu…”
Do vậy, khi chúng ta cùng nhau đón mừng Ngày Lễ Tạ Ơn năm nay, chúng ta hãy luôn nhớ điều quan trọng nhất, theo Kinh Thánh, chính là:
“Thà bữa rau bữa cháo mà yêu thương nhau
Còn hơn mâm cao cỗ đầy mà bất hoà bất thuận.”
(Trích sách Châm Ngôn, Chương 15, Câu 17).
Phỏng dịch theo bản tiếng Anh, bài viết của Tổng Biên Tập Viên của tờ báo Ngôi Lời Của Thiên Chúa Trong Thời Đại Ngày Nay (God’s Word Today) là Jean-Pierre Prévost, được trích trong tạp chí Catholic Digest số ra tháng 11/2005 từ trang 100 đến trang103.
Kinh Thánh nói gì về ngày lễ này và việc tạ ơn.
Bạn có từng bao giờ nghĩ rằng mình sẽ dọn một bữa ăn thịnh soạn đầy đủ theo đúng nghĩa của Thánh Kinh trong Ngày Lễ Tạ Ơn sắp tới này không? Vì suy cho cùng, đó là một ý tưởng khá đặc biệt đấy. Những rủi thay, chúng ta có rất ít chỉ dẫn để chuẩn bị cho một bữa ăn như vậy. Mặc dầu việc ăn, uống, thức ăn và rượu, các bữa ăn và bữa tiệc rất thường hay được đề cập tới trong Thánh Kinh, thế nhưng, chẳng có chổ nào trong Thánh Kinh mà chúng ta có thể tìm thấy được một bữa ăn với đầy đủ các món như vậy?Chúng ta chỉ có thể mơ tưởng rằng một ngày nào đó các nhà khảo cổ học Thánh Kinh sẽ tìm ra một bản kinh ngụy tác có chứa những món ăn có liên quan đến các đoạn trong Thánh Kinh. Thật là thú vị khi chúng ta muốn biết Bà Sarah đã dọn món thịt bê như thế nào cho ba vị khách lạ tại Mam’re qua đoạn Kinh Thánh trích trong sách Sáng Thế Ký, Chương 18, từ Câu 6-8: “Ông Áp-ra-ham vội vã vào lều tìm Bà Xa-ra mà bảo: ‘Bà mau mau lấy ba thúng tinh bột mà nhồi, rồi làm bánh.’ Ông chạy lại đàn vật, bắt một con bê mềm và ngon, giao cho người đầy tớ, và anh này vội vã làm thịt. Ông lấy sữa chua, sữa tươi và thịt bê đã làm, mà đãi khách; rồi ông đứng hầu dưới gốc cây, đang khi khách dùng bữa.”
Hoặc Bà Rebekah đã chuẩn bị món thịt nai, món ăn thích nhất của Isaac như thế nào (như trình thuật trong sách Sáng Thế, Chương 27), hay những món nào có trong thực đơn trong bữa tiệc cưới tại Cana (như trình thuật trong sách Gioan, Chương 2 từ Câu 1-12) chẳng hạn, đó là những gì mà chúng ta muốn biết phải không?
Thế nhưng tất cả những điều trên vẫn còn là sự phỏng đoán thuần túy mà thôi, và mãi cho đến bây giờ không ai có thể đưa ra một thực đơn đầy đủ về những bữa ăn hằng ngày hay những bữa ăn vào các dịp lễ trọng đại trong thời của thánh kinh. Dầu vậy, chúng ta biết được rằng: những người dân cổ xưa của Israel thường hay có các món ăn hay dùng các thành chất sau vào ngày lễ đó là: thịt bò, thịt cừu, thịt nai rừng, cá, bột mì, sữa, mật ong, dầu ôliu, rượu và trái cây, bao gồm luôn cả quả sung/vả (figs) và các quả chà là (dates). Họ cũng còn dùng các loại thảo mộc (herbs) và các đồ gia vị (spices) như: cây thìa là của Ai Cập (cumin), cây bạc hà (mint), cây mù tạc (mustard) và cây thì là (dill).
Thánh Kinh đề cao những gì có liên quan đến thực phẩm, các bữa ăn và lòng hiếu khách. Từ Thanksgiving là một ngữ từ chính trong phong cách cầu nguyện và tâm linh của người Israel cổ. Thức ăn, nhìn chung, được xem là một hồng ân, một sự chúc phúc đến từ Thiên Chúa. Ngay cả với Qohelet mang đầy tính hoài nghi, hay còn được biết dưới một tên gọi khác là Ecclesiastes, cũng bao gồm luôn cả việc ăn và uống như là một phần trong tín ngưỡng của Ông ta: “Đối với con người, không có gì tốt hơn là ăn uống và hưởng những thành quả do công lao khó nhọc mình làm ra! Nhưng chính tôi đã thấy là điều đó cũng do Thiên Chúa mà đến, vì có ai ăn uống, có ai cảm thấy vui mừng hoan hỉ mà không nhờ Thiên Chúa ban cho?” (trích sách Giảng Viên, Chương 2, từ Câu 24-25).Các bữa ăn cũng chính là những giây phút tuyệt vời nhất để cùng sẽ chia và hiệp thông với nhau. Trong Sách Tân Ước, điều này thể hiện rõ qua việc Chúa Giêsu cùng dùng bữa với những người thu thuế, với các môn đệ, với những người biệt phái Pharixêu, với các cặp mới cưới, và với các bằng hữu của Ngài, quá nhiều đến nổi bọn biệt phái Pharixêu phải lên tiếng rằng: “Hãy nhìn kìa, Ngài lại ăn uống với quân thu thuế và phường tội lỗi” (sách Máthêu, Chương 11, từ Câu 18-19). Chúa Giêsu thích thú với cuộc sống và những bữa ăn của Ngài như là những giây phút thâm tình nhất để Ngài có thể đến với tất cả mọi người.
Và chúng ta cũng còn biết thêm là, tính hiếu khách rất ư là quan trọng trong các thời đại của thánh kinh và tại rất nhiều quốc gia. Nó không chỉ là vấn đề lịch sự hay văn minh hóa, mà mọi người đều có một xác tín rất cơ bản rằng tất cả các vị khách đều quan trọng cả, và cũng có thể họ là những sứ giả đến từ Thiên Chúa. Chính vì thế, tự bản chất họ rất niềm nở với tất cả những vị khách, cho dẫu họ có là bà con huyết thống hay là những người lạ mặt đi chăng nữa, và việc cùng dùng bữa với họ, không chỉ đơn thuần là việc sẽ chia các món ăn không thôi, mà nó còn là việc tạo ra sự hiệp thông trong cung cách và trong đời sống. Tác giả của lá thư gởi cho những người Do Thái nhắc nhớ tất cả chúng ta về tầm quan trọng của sự hiếu khách: “Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết” (trích sách Do Thái, Chương 13, Câu 2).
Bằng cách đối chiếu với bối cảnh chung của Thánh Kinh vừa mới nêu trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy được chiều kích tôn giáo và tâm linh của Ngày Lễ Tạ Ơn. Với ý tưởng gắn kết với mùa gặt, Tạ Ơn tất nhiên phù hợp với ngày lễ hội Suklot trong thời đại thánh kinh, vốn được cử hành vì sự trù phú và tốt tươi của đất đai. Ba lễ hội chính thức của người Do Thái là: Lễ Vượt Qua (Passover) (vào mùa Xuân và sự xanh tươi trở lại của tự nhiên); Lễ Ngũ Tuần (Pentecost) (tức vào mùa Hè và những hoa trái đầu mùa); và Lễ Tabernacles (tức người Do Thái mang hòm thánh đi theo khi lang thang trong hoang mạc - thường là vào mùa Thu, mùa gặt hái) - thì đó là những ngày lễ mang tính chất thuần nông trước khi chúng được lồng vào tính chất lịch sử hóa và tôn giáo hóa. Việc Tạ Ơn đến một rất tự nhiên cứ vào mỗi lần thay đổi mùa màng, và chính nó đã trở thành một ám chỉ về tôn giáo để hiện thể lòng biết ơn về những ơn huệ và lượng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa qua các hồng ân của thiên nhiên và các công trình của nhân loại.
Đặc điểm thứ hai của Ngày Lễ Tạ Ơn của chúng ta chính là tầm quan trọng được nhấn mạnh đến qua bữa ăn. Thánh Kinh có rất nhiều bữa ăn đáng để ghi nhớ. Có một đoạn rất đáng chú ý trong Sách Cựu Ước như là một kết luận về toàn bộ kinh nghiệm tại Sinai đó là: “Người không ra tay hại những bậc vị vọng của Ít-ra-en; họ được chiêm ngưỡng Thiên Chúa, và sau đó họ ăn uống” (trích sách Xuất Hành, Chương 21, Câu 11). Những tác giả Thánh Kinh tóm tắt lại kinh nghiệm nền tảng về Sinai với hai thành phần chính: suy niệm về Thiên Chúa và cử hành việc ăn uống. Việc sẽ chia một bữa ăn là một thói quen mang tính tập quán của những người thuộc vùng cận Đông cổ.
Ý nghĩa mang tính tôn giáo này được tiên trị Isaiah tài tình khai triển về bữa tiệc cánh chung như sau:
“Ngày ấy, trên núi này,
Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc:
tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon,
thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế.”
(Trích sách Isaia, Chương 25, Câu 6).
Bắt nguồn rất sâu trong một truyền thống mang tính tiên tri như vậy, chính Chúa Giêsu đã biến hình ảnh của bữa tiệc, trở thành trọng tâm trong việc giảng dạy của Ngài về vương quốc của Thiên Chúa: “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình” (trích sách Máthêu, Chương 22, Câu 2). Hình ảnh của Thiên Chúa qua việc Ngài qui tụ mọi quốc gia chung quanh bàn tiệc của Ngài, và muốn trao ban thật nhiều ơn huệ cứu chuộc dồi dào của Ngài cho tất cả mọi người, cũng được đề cập một cách hào hùng trở lại trong Sách Khải Huyền, Chương 19, Câu 9: “Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên!”
Chẳng phải là ngẫu nhiên khi động từ yadah trong tiếng Do Thái, thường hay được dịch là tạ ơn (give thanks), nhằm ám chỉ việc tạ ơn một cách sâu sa chứ không phải là một sự biết ơn bình thường, giản đơn. Đó chính là sự đáp đền và nhớ ơn về những ơn huệ được trao ban, dẫu rằng động từ đó có nghĩa chính yếu là tuyên xưng (profess) hay thú nhận (confess). Cùng đích của Lễ Tạ Ơn mới chính là vấn đề và đó cũng là một cử chỉ của đức tin.
Nghĩa tương đương của động từ yadah trong Sách Tân Ước chính là eucharistein, tức Thánh Thể. Khi Chúa Giêsu làm phép bánh, tức Ngài hóa bánh ra nhiều (như trong sách Mátcô, Chương 8, Câu 6 có trình thuật lại), và khi Ngài đọc lời thánh hóa bánh và rượu trong Bữa Tiệc Ly (theo sách Luca, Chương 22, từ Câu 17-19), cũng trong ý hướng của việc tạ ơn, mà bánh và rượu được trở nên của ăn nuôi dưỡng tâm linh cho tất cả mọi người. Và đến khi chúng ta tham dự vào việc cử hành Phép Thánh Thể và tỏ bày lòng biết ơn của chúng ta đến cho Thiên Chúa, chúng ta tuyên xưng đức tin bằng chính cuộc sống tràn đầy ơn nghĩa Ngài ban: “Cảm tạ Chúa, là Chúa Tể Càn Khôn. Qua sự nhân từ của Ngài, chúng con có được bánh … và rượu…”
Do vậy, khi chúng ta cùng nhau đón mừng Ngày Lễ Tạ Ơn năm nay, chúng ta hãy luôn nhớ điều quan trọng nhất, theo Kinh Thánh, chính là:
“Thà bữa rau bữa cháo mà yêu thương nhau
Còn hơn mâm cao cỗ đầy mà bất hoà bất thuận.”
(Trích sách Châm Ngôn, Chương 15, Câu 17).
Phỏng dịch theo bản tiếng Anh, bài viết của Tổng Biên Tập Viên của tờ báo Ngôi Lời Của Thiên Chúa Trong Thời Đại Ngày Nay (God’s Word Today) là Jean-Pierre Prévost, được trích trong tạp chí Catholic Digest số ra tháng 11/2005 từ trang 100 đến trang103.