Đại kết Đông Phương và Đức Maria
Nhiều người trong nhóm các anh em ly khai Đông Phương vẫn tôn kính Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. (Hiến chế Giáo hội 69). Tín điều căn bản về Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập Thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria đã được định tín tại Đông phương (Hiến chế Hiệp nhất 14). Chính thống Đông Phương, mà lòng sùng kính Đức Maria vốn rất đặc biệt, đã tham gia vào quá trình đối thoại Đại kết với Công giáo Rôma ngay từ những năm đầu thập niên 1920. Quá trình này dần dần đã lôi kéo được cuộc đối thoại giữa Giáo Hội Công giáo Rôma và các nhóm tiêu biểu không Công giáo bên Tây phương (Philibert Zobel, Dictionary of Mary, Catholic Book Publishing, New York, bản Việt ngữ của Ngọc Đính C.M.C, page 142).
1- Phụng vụ Đông Phương:
Các Giáo Hội Đông Phương dành cho Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa một địa vị nổi bật trong việc mừng kính mọi mầu nhiệm của Chúa Kitô. Sự kiện ấy cho thấy quyết tâm của anh em Các Giáo Hội Đông Phương kiên quyết không tách rời Đức Trinh Nữ ra khỏi Kitô Giáo. Đối với Giáo hội Chính Thống Đông Phương, giáo thuyết truyền thống Thánh mẫu thuộc về chính cốt lõi đức tin. Một Kitô giáo tách rời đức Trinh Nữ sẽ là một thứ Kitô giáo què quặt, hoàn toàn xa lạ với bản chất giáo huấn đã được thiết lập. (P. Zobel, sách đd, bản Việt ngữ p.142)
2- Đối thoại với Các Giáo Hội Đông Phương:
- Với Giáo Hội Công Giáo Đông Phương: tuy khác nhau về quy chế, nghi lễ phụng vụ, giáo luật và di sản tinh thần, nhưng tất cả đều được đặt dưới quyền cai quản mục vụ của Giáo Hoàng La Mã, Toà Thánh La Mã rất tôn trọng các nghi lễ phung vụ của họ. Xét theo phẩm giá, các Giáo Hội đều ngang hàng với nhau.
-Đối với Đông Phương ly khai: đặc biệt là Chính Thống, Giáo hội Công Giáo vẫn tự xem mình ở trong mối hiệp thông hoàn toàn. Hành động có ý nghĩa nhất của Đức Phaolô VI và Thượng Phụ Athenagoras là vào năm 1964, là các Ngài đã rút vạ tuyệt thông hai bên áp đặt cho nhau kể từ năm 1054. Đức GH Gioan Phaolo II coi việc phát triển quan hệ với Chính Thống là ưu tiên hàng đầu. Những sự kiện quan trọng gần đây liên quan tới các mối quan hệ giữa Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Đông Phương: Tông thư “Anh sáng từ Đông phương” (Orientle Lumen, 5-5-1995); “Để họ nên một” (Ut sint unum, 30-5-1995).
- Giáo Hội Asssyrya Đông Phương: Năm 1984, trong chuyến viếng thăm Toà Thánh Roma của Đức Mar Dinkha IV, Giáo chủ Giáo Hội Đông Phương Assyria đã yêu cầu người ta đừng gọi Giáo Hội của Ngài là Nestorius nữa, vì giáo thuyết Nestorius không chấp nhận Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Đến ngày 11-11-1994 Tuyên ngôn Kitô Học được ký kết giữa Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II và Đức Thượng Phụ Giáo chủ Mar Dinkha IV, trong đó, cả hai bên đều tuyên xưng cùng một Đức tin như nhau về mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria (Niên Giám Giáo Hội CGVN 1984, trang 135).
3- Triển khai đề tài Đức Maria:
Trong việc đối thoại với Giáo Hội Đông Phương, chúng ta thấy rõ địa vị của Đức Maria trong quan hệ với Con của Mẹ là Chúa Kitô, địa vị của Mẹ trong lãnh vực Đức tin, phượng tự và đời sống hiệp thông của Giáo Hội. Đề tài ấy cũng giúp chúng ta và các anh em ly khai thấy được con đường đạt đến một sự quân bình hơn, nhờ Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần, giữa các mối quan hệ cá nhân, địa phương và toàn cầu( P. Zobel, sách đd, bản Việt ngữ p. 143)
Kết luận: Công đồng Vat. II, trong Sắc lệnh Orientalium Ecclesiarum, nói rõ các Giáo Hội Công giáo Đông Phương thông hảo với Toà Thánh Roma, có trọng trách đặc biệt phải xúc tiến việc hiệp nhất các Kitô hữu, nhất là các Kitô hữu Đông Phương ly khai. Đó cũng là bổn phận hàng đầu của mỗi người Công giáo đối với các anh em ly khai. “Trong công cuộc đại kết, người Công giáo phải hết sức quan tâm đến các anh em ly khai, cầu nguyện cho họ, chia xẻ cho họ về Giáo Hội, đi bước trước để đến với họ, và nên chứng tá sắc nét và trung thực hơn về những giáo huấn và những định chế đã được truyền lại từ Chúa Kitô qua các Tông đồ (“Giáo Hội Công giáo toàn cầu” trong Niên Giám Giáo Hội CGVN 2004, trang 137-138).
Phong trào đại kết đã trở thành một trong những sự kiện lớn nhất của thời đại chúng ta.Công Đồng Vat. II dạy chúng ta cố gắng loại bỏ những lời nói, phán đoán và hành động không phản ánh sự thật, và không công bằng đối với hoàn cảnh của các anh em ly khai, điều đó làm cho các mối quan hệ trở nên khó khăn hơn (HN 4).