DỤC TÍNH: Nền móng hữu thể con người xét như một ‘cộng đồng yêu thương’

Một hiểu biết xác đáng về dục tính con người cùng những hệ quả của nó sẽ dẫn đến một một quan điểm xác đáng về luân lý dục tính. Trong ý hướng ấy, và nối tiếp loạt bài liên quan đến chủ đề ngừa thai được đề cập đến trong “Humanae Vitae,” xin giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của nữ tiến sĩ Janet Smith về vấn đề dục tính xét như nền móng của hữu thể con người trong tư cách là một ‘cộng đồng yêu thương’. Bài được đăng trong trang nhà của Tổng Giáo Phận Detroit: www.aodonline.org

Một trong những yếu tố căn bản của bản tính nhân loại chính là dục tính. Dù là nam hay nữ, căn tính này đóng một vai trò nền tảng trong cách chúng ta đáp lại đời sống. Dục tính con người không ở trên cùng bình diện với dục tính loài vật. Hành vi dục tính nơi loài vật thì chỉ có tính cách thuần túy thể lý; nghĩa là chỉ nhằm mục đích phát triển nòi giống. Nếu hỏi tại sao Thiên Chúa dựng nên giống đực và giống cái, thì hẳn câu trả lời sẽ là: để cho chúng có thể sinh sôi nẩy nở.

Thế nhưng hành vi dục tính nơi con người không thuần túy là thể lý; nó liên quan đến toàn thể nhân vị con người: cả thể lý, tâm lý, lẫn tinh thần. Các hành vi dục tính nơi con người phải tôn trọng các giá trị của những lãnh vực này. Nhân vị con người có một nhu cầu sâu xa về sự gắn bó thâm tình với người khác, tìm hiểu và yêu thương người khác một cách sâu xa, và đồng thời cũng cho phép người khác tìm hiểu và yêu thương mình. Loài vật không cần đến sự hiện diện đầy cam kết của bố mẹ chúng mà vẫn có thể tồn tại và phát triển được. Trong khi đó, trẻ con thật sự cần đến tình yêu vô điều kiện của cả cha lẫn mẹ biết hiến thân cho nhau. Trong khi con vật sinh sản, thì loài người tạo tác; trong khi loài vật tìm đến nhau cốt để thực hiện cho xong hành vi dục tính, thì con người ước muốn và cần đến những mối giao tiếp bền vững và đầy yêu thương, không chỉ cho chính bản thân mình mà còn cho lợi ích con cái mình nữa.

Nói đến con người, khi hỏi tại sao Thiên Chúa lại dựng nên hai phái tính thì câu trả lời sẽ rất khác với câu trả lời dành cho loài vật. Một lần nữa, đối với loài vật, các khác biệt phái tính chỉ là để phục vụ cho việc sinh sản. Trong khi đó, sự phân chia phái tính nơi con người là để phản ánh hoàn hảo hơn hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa chính là một cộng đồng, một kết hợp yêu thương của ba ngã vị; Ngài tạo dựng nên ta giống hình ảnh Ngài, để ta cũng trở thành một cộng đồng yêu thuơng. Dục tính chính là căn bản cho tính chất của con người xét như một cộng đồng yêu thương. Người nam và nữ phải yêu thương nhau bằng một tình yêu hiệp nhất, một tình yêu kết hợp họ lại trong một cộng đồng, đó là hôn nhân. Vì thế, tình yêu hiệp nhất cũng chính là tình yêu sáng tạo; một mầm sống mới, một nhân vị mới để yêu thương sẽ nẩy sinh từ tình yêu này. Cả hai nên một theo đúng nghĩa của ngôn từ trong sự khai sinh mầm sống mới: cha, mẹ và đứa con trong gia đình trở thành một thế tam vị, một kết hợp yêu thương vốn là nền tảng của mọi cộng đồng.

Khi viết về dục tính con người, ĐGH Gioan Phaolô II đã nói đến “ý nghĩa hôn phối của thân xác.” Ngài nhận thấy ngay trong khía cạnh sinh lý con người, mỗi người chúng ta tự mình đều không hoàn toàn, mà phải cần đến một người khác phái, cần đến một quan hệ vợ chồng để làm cho mình được thành toàn. Sinh lý con người cho thấy rằng ta phải tự hiến cho người khác và đón nhận người khác. Phương cách tự nhiên nhất để hoàn tất sự kết hợp vợ chồng và tự trở thành món quà cho người khác chính là kết hôn. Những ai được kêu gọi sống đời tu trì hoặc độc thân thì sẽ hoàn tất mối tương quan vợ chồng trong sự quan hệ với Chúa Kitô, và sẽ trở thành món quà tự hiến cho người khác bằng việc tông đồ cho tha nhân. Thiên Chúa tạo dựng ta để yêu thương và được thương yêu. Ta được triển nở khi được người khác yêu thương; ta lớn lên và tăng tiến khi yêu thương người khác. Sức hấp dẫn của phái tính có thể cống hiến rất nhiều cho khả năng yêu thương và đáp trả yêu thương, thế nhưng hấp lực đó phải dành để phục vụ tình yêu và tòng thuộc những đòi hỏi của tình yêu. Hấp lực phái tính khiến ta hướng đến người khác một cách rất mãnh liệt; nó thúc đẩy ta vươn tới người khác, tìm cách làm bạn với người ấy, tìm hiểu người ấy. Nó có tiềm năng khiến ta phát triển một tình yêu nồng đậm và tồn tại mãi đối với người ấy. Thoạt tiên, sự hấp dẫn có thể chỉ mang tính chất thể lý, thế nhưng, bởi vì con người là một kết hợp hồn và xác, cho nên nếu cứ để cho hấp dẫn thể lý chế ngự hạnh kiểm của ta thì chính là giảm hạ người khác xuống hàng đối vật. Con người là một kết hợp hồn xác, là nhân vị tự mình có phẩm cách và giá trị; con người xứng đáng được tôn trọng và yêu thương; chứ không xứng đáng để bị lợi dụng. Con người có khả năng phân biệt và tôn trọng phẩm cách và giá trị của người khác, và một phần phẩm cách con người chính là không lạm dụng người khác hoặc cho phép người khác lợi dụng mình.

Cái xu hướng làm hạ giảm người khác xuống hàng đối vật cho nhục dục nơi con người có căn rễ từ nguyên tội. Do nguyên tội, dục vọng của ta trở thành thác loạn; hầu hết, nếu không phải tất cả, trong một khoảnh khắc nào đó, chúng ta đều bị cám dỗ thực hiện những quan hệ tình dục với những người mình không được làm, hoặc bằng những cách thức không nên làm; tất cả chúng ta đếu ít nhiều bị cám dỗ vi phạm quy luật của luân lý dục tính. Những cám dỗ này là kết quả của nguyên tội, và vì khoái lạc dục vọng rất mãnh liệt và nhu cầu thâm giao của con người rất sâu xa, cá nhân chúng ta rất dễ sa ngã trước những cám dỗ nhục dục. Do đó, nhu cầu thấu hiểu nền tảng luân lý của đạo đức tính dục là rất hệ trọng cũng như việc xác tín về nhân đức thanh tịnh là điều tối quan trọng.

Luân lý dục tính được xây dựng trên nền tảng nguyên lý này: nhân vị con người không bao giờ được sử dụng như một đối vật. Phẩm giá của nhân vị đòi buộc cả tác nhân lẫn người thụ nhận tác động phải xử sự sao cho thích đáng với tư cách là tạo vật có khả năng phân biệt điều chân thật và thiện hảo, đồng thời có tự do để hành động phù hợp với điều chân thật và thiện hảo ấy. Con người có khả năng thấu hiểu những điều thiện hảo gắn liền với dục tính và cũng có tự do trong việc tự kềm chế để tôn trọng những thiện hảo này.

Sống yêu thương và đảm nhận trách nhiệm, biết tự chủ và kềm chế dục vọng, điều đó có nghĩa là không được vướng vít vào những quan hệ tình dục trong khi chưa hề chuẩn bị cho những hệ quả của những liên hệ này. Quan hệ tình dục tạo ra những mối ràng buộc sâu xa và bền chặt với người khác; quả vậy, sự đồng thuận đi đến hành vi giao hợp phải có nghĩa là người này thực sự ao ước một tương quan đặc biệt cũng như những ràng buộc độc nhất với người kia. Sự trần truồng trong hành vi tình dục mang ý nghĩa của sự tự hiến hoàn toàn, thật thích ứng với hành vi ấy. Nhưng nó cũng nói lên tính chất rất dễ bị tổn thương của những ai tự trao phó bản thân cho người khác trong hành vi này. Việc tự hiến phải là trung thực, và tính dễ bị thương tổn phải được bảo vệ. Chỉ những lời hứa dệt nên trong bối cảnh hôn nhân (hôn ước) mới có thể tạo ra môi trường thích ứng cho việc tự hiến (chỉ trong môi trường này mới nên hy sinh tính dễ thương tổn vừa nói). Thực ra, có thể nói rằng các hành vi tình dục đều hàm chứa những lời hứa mặc nhiên, một trong những lời hứa này là phải chân thực và thích đáng với mối dây ràng buộc mà hành vi tình dục tạo ra.

Một lời hứa khác mặc nhiên trong hành vi tình dục chính là lời hứa chăm sóc yêu thương những đứa con mà hành vi tình dục đã cưu mang lấy. Dục tính không chỉ cho phép con người thắng vượt nỗi cô đơn nguyên thủy, tìm thấy sự kết hợp với người khác vốn đem lại sự thỏa mãn sâu xa, bởi vì tới một mức độ nào đó, nó đáp ứng lại nhu cầu thâm giao của con người. Nó còn cho phép con người tham dự vào hành vi kỳ diệu là giúp khai sinh một mầm sống mới. Ngoài việc kiến tạo nên những mối dây ràng buộc, quan hệ tình dục còn đem lại một hệ quả khả hữu và tự nhiên, đó là khai mở mầm sống mới. Thế “tam vị” mà nhân vị con người phản ánh, được thể hiện tròn đầy nhất khi sự kết hợp vợ chồng đem lại mầm sống mới. Thiên Chúa vừa là người yêu, vừa là tạo hóa. Tình yêu của Ngài tràn xuống biến thành cuộc tạo dựng hữu thể mới. Như Humanae Vitae--Mạng Sống Con Người--số 1 viết: “Thiên Chúa đã trao phó cho vợ chồng cái sứ mệnh cực kỳ quan trọng là truyền đạt sự sống con người.” Thiên Chúa tạo dựng toàn thể vũ trụ ngõ hầu hữu thể mới có thể chia sẻ những kho tàng phong phú khôn tả của Hữu Thể Ngài. Ngài tạo dựng con người để họ có thể chia sẻ niềm hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài. Do đó, Ngài mong muốn có mầm sống mới của con người, và Ngài đã trao phó việc khai sinh mầm sống mới ấy cho đôi vợ chồng.

Việc khai sinh mầm sống mới này không phải là một hành vi thực hiện một lần là xong. Những bậc phụ huynh có trách nhiệm thì sẽ hiến thân trong việc nuôi nấng giáo dục con cái mình. Họ phải tạo dựng nên một mái gia đình trong đó mầm sống mới được chào đón và ôm ấp. Cũng nơi gia đình, các món quà tặng là các cá nhân với những tài năng và sở thích khác nhau được nuôi nấng. Gia đình vừa là tế bào xã hội, vừa là một hội thánh tại gia, nơi đó các phần tử học cách sống như một cộng đồng, biết chia sẻ và cầu nguyện chung với nhau. Gia đình có một bổn phận đặc biệt là nuôi dưỡng lòng hiếu khách, đồng thời biết mở rộng trước những kẻ đang cần đến một môi trường gia đình nồng ấm, yêu thương, bao gồm người cao niên, tàn tật, bị bỏ rơi, và nghèo khổ. Gia đình chính là một mái trường dậy tình yêu thương.

Điều răn thứ sáu là giới răn về dục tính. Cho dù nó minh thị chỉ ngăn cấm việc ngoại tình mà thôi, nhưng nó mặc nhiên ngăn cấm tất cả mọi hành vi sai quấy về tình dục. Tại sao Thiên Chúa lại chọn ngoại tình như là thứ tội tình dục cần phải bị ngăn cấm một cách minh nhiên, để qua đó cho thấy rằng tất cả mọi tội tình dục khác đều được che phủ một cách hợp lý dưới bóng cánh dù này? Trước hết, rõ ràng dục tính phải nằm trong, chứ không thể nằm ngoài vòng hôn nhân được. Nó nằm trong vòng hôn nhân bởi vì nó mang hai tiềm lực: tạo tác mối dây ràng buộc và sinh sản con cái, cả hai việc này đều là những điều thiện hảo phải được tôn trọng chỉ trong vòng hôn nhân mà thôi. Ngoại tình là vi phạm trắng trợn sự thiện hảo của mối dây ràng buộc mà dục tính đem lại. Ngoại tình là vi phạm sự thiện hảo của con cái, bởi vì không thể biện minh cho việc nuôi dậy những đứa trẻ được thai nghén với người phối ngẫu trong vụ ngoại tình. Tóm lại, ngoại tình cũng như các tội tình dục đều là các tội chống lại sự chung thủy, tức lòng trung thành mà người phối ngẫu này mắc nợ người phối ngẫu kia (Dục tính một người chỉ thuộc về một mình người phối ngẫu của mình mà thôi) và cũng là lòng trung thành mình mắc nợ con cái mình nữa (mọi hành vi tình dục đều phải phù hợp với sự thiện hảo của việc sinh sản.)

Mọi tội lỗi không chỉ vi phạm sự thiện hảo của con người (ở đây là dục tính), mà còn vi phạm nhân đức con người nữa. Sách Giáo lý minh định rằng tội nghịch lại sự thiện hảo của dục tính thì đều là tội chống lại nhân đức thanh tịnh.

Thanh tịnh là nhân đức tự chủ khiến ta có thể kiểm soát được dục vọng của mình. Đó là nhân đức khiến ta sử dụng năng lực tình dục một cách thích đáng. Người thanh tịnh là người làm chủ dục vọng chứ không để dục vọng làm chủ mình. Đức thanh tịnh giải thoát ta khỏi bị thống trị bởi đam mê tình dục. Cần thiết cả cho người kết hôn lẫn người không kết hôn, đức thanh tịnh nằm sâu trong niềm kính trọng đối với người khác vốn không hề được sử dụng như một phương tiện thuần túy hầu thoả mãn dục vọng của mình. Năng lực dục tính cho phép ta tự hiến bản thân mình cho người khác. Một lần nữa, thanh tịnh là nhân đức giúp ta sử dụng thích đáng năng lực này. Nó đòi hỏi việc dành riêng hành vi dục tính chỉ để nhằm biểu lộ sự cam kết giữa vợ với chồng và chồng với vợ. Chính vì thế mà phải tránh những tư tưởng, cơ hội, hoặc hành vi có thể làm phương hại đến đức thanh tịnh. Cầu nguyện, năng chịu các phép bí tích, hiểu mình, thực hành tu đức, đều là những phương thức trợ giúp cho việc bảo vệ duy trì đức thanh tịnh. Thực hành nhân đức thanh tịnh là một điều phải phấn đấu suốt cả cuộc đời, nhất là sống giữa những nền văn hóa của giải trí khi các phương tiện truyền thông liên tục tìm cách khơi dậy đam mê nhục dục của con người bằng những phương thức không thích hợp. Tội lỗi về dâm dục đều là kết quả của việc thiếu vắng hay suy sụp nhân đức thanh tịnh. Thanh tịnh cho phép ta thắng vượt những hậu qủa của nguyên tội vốn làm cho đam mê của ta trở thành thác loạn.

Mọi tội lỗi không chỉ vi phạm sự thiện hảo hoặc nhân đức của con người; tội lỗi còn là nhựng hành vi bất công đối với Thiên Chúa nữa. Tội lỗi chống lại chính Tình Yêu. Thiên Chúa đã ban cho con người món quà qúy báu là dục tính vốn phải đưa ta đến những quan hệ yêu thương thâm tình, cũng như cho phép con người tham dự vào công trình tạo dựng gia đình mang đầy ý nghĩa sâu xa và thỏa mãn. Do đó, lạm dụng tình dục chính là lạm dụng món quà cao quý Thiên Chúa ban; đó là tỏ ra vô ơn bội nghĩa với người thi ân cho mình; đó cũng là hành động không mang dấu yêu thương đối với người khác, với chính mình và với Thiên Chúa.

Hội Thánh Công giáo khai thác sự hiểu biết của mình về dục tính con người ngay giữa lòng một nền văn hoá đang mang nhiều quan điểm méo mó về sự thiện hảo của dục tính con người. Việc bán dâm, sát hại thơ nhi, hành vi đồng tính luyến ái, lăng nhăng, khinh miệt năng lực sinh sản của dục tính, cùng với mọi hình thức sa đọa tình dục vẫn đang được một xã hội ngoại đạo hăm hở thực hành cũng như hùng hồn biện minh cho. Kitô giáo nâng hôn nhân lên hàng bí tích, trở thành một ơn gọi, một phương tiện phụng sự Thiên Chúa. Kitô giáo rất đề cao dục tính. Kitô giáo mong ước người nam cũng như người nữ biết tôn trọng lẫn nhau và đi đến một kết hợp hoà điệu và yêu thương. Cho tới hôm nay, sự hiểu biết Kitô giáo chân thật về dục tính đã trở thành một dấu chỉ mâu thuẫn đối với những phương thức thực hành tình dục trong các nền văn hóa thời đại do ở điều này là: nó đòi hỏi dục tính phải lệ thuộc phẩm gía nhân vị con người, lệ thuộc lòng thủy chung vợ chồng, sự thiện hảo của con cái, và dục tính phải được hưởng thụ bằng một phong cách không vị kỷ.