SỰ THẬT VỀ GIÁO SĨ LẠM DỤNG TÌNH DỤC
Làm rõ sự thật và nguyên nhân
Nhà Xuất Bản Ignatius Press San Francisco
PHẦN II Nguồn gốc của Lạm dụng Tình dục bởi Giáo sĩ
Chương 10. Vai trò của Cách mạng Tình dục
Khi nghiên cứu của Đại học John Jay về “nguyên nhân và bối cảnh” của vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ được công bố vào năm 2011, nó đã vấp phải sự phản đối dữ dội từ các nhà phê bình tự do của Giáo Hội Công Giáo—một sự bộc lộ đáng kinh ngạc về sự thiếu hiểu biết xã hội học mà tôi từng thấy. Hết chuyên gia này đến chuyên gia khác lập luận rằng nghiên cứu có sai sót vì nó viện dẫn vai trò của cách mạng tình dục như một tác nhân gây ra vụ tai tiếng. Nếu các nhà khoa học xã hội không làm như vậy, họ sẽ trông thật ngớ ngẩn. Không có gì đáng ngạc nhiên, những người chỉ trích chủ yếu là các nhà báo và những người thuộc tầng lớp lắm lời: họ không được đào tạo về khoa học xã hội, và điều đó thể hiện rõ.
Người đầu tiên lên tiếng là Laurie Goodstein, một phóng viên tôn giáo của tờ New York Times. Bà chỉ trích nghiên cứu của Đại học John Jay vì đã thúc đẩy lời giải thích “đổ lỗi cho Woodstock”, một lời giải thích mà bà cho rằng đã tạo điều kiện thuận lợi cho giới chức cấp cao của Giáo hội. (1) Tất nhiên, không một nhân vật nào trong Giáo hội, hay các nhà nghiên cứu của Đại học John Jay, sử dụng thuật ngữ này; Goodstein đã bịa đặt ra và gán ghép sai cho họ. Trong một bài xã luận, tờ báo cho biết nghiên cứu đã viện dẫn “sự hỗn loạn về tình dục và xã hội của những năm 1960 như một yếu tố có thể dẫn đến tội ác của các linh mục”. Sau đó, tờ báo tỏ ra tức giận khi tuyên bố rằng “đây là một nỗ lực khá kỳ lạ nhằm hợp lý hóa xã hội học”. (2)
Goodstein và ban biên tập của tờ New York Times đã đọc nghiên cứu của Đại học John Jay như một tài liệu chạy tội, một tài liệu tìm cách chuyển gánh nặng trách nhiệm về vụ tai tiếng từ phẩm trật của Giáo hội sang ảnh hưởng của cuộc cách mạng tình dục. Nhưng thực tế không phải vậy. Đó là một phản hồi chuyên nghiệp. Các nhà xã hội học luôn xem xét môi trường xã hội và văn hóa—các lực lượng vĩ mô—giúp giải thích hành vi lệch lạc hoặc tội phạm do các nhóm hoặc tổ chức gây ra. Trừ khi lời giải thích trở nên quá mức và cố tình bào chữa hoặc giảm thiểu trách nhiệm cá nhân, nó nên được hiểu đúng bản chất của nó: một nỗ lực để đánh giá môi trường cụ thể trong đó hành vi sai trái của nhóm hoặc tổ chức diễn ra.
Tờ New York Times đang chơi trò chính trị. Khi nói đến việc hiểu các cuộc bạo loạn sắc tộc của những năm 1960, tờ báo nhanh chóng đề cập đến “nguyên nhân gốc rễ” của bạo lực. Bài báo viện dẫn những vấn đề như nghèo đói, cơ hội giáo dục hạn chế, phân biệt chủng tộc, và những vấn đề tương tự. Bài báo không xem các cuộc bạo loạn trong một bối cảnh xã hội biệt lập. Và cũng không nên như vậy. Nhưng khi nói đến lạm dụng tình dục của giáo sĩ, bất cứ sự đề cập nào đến bối cảnh xã hội của nó—cuộc cách mạng tình dục—đều bị coi là một thủ đoạn hoặc một “sự hợp lý hóa xã hội học”.
Ngay sau khi tờ Times sử dụng chiêu bài “đổ lỗi cho Woodstock”, hết nhà phê bình này đến nhà phê bình khác đều lặp lại cùng một luận điểm. Tony Auth đã đặt tiêu đề cho bức tranh biếm họa của mình về chủ đề này trên tờ Philadelphia Inquirer là “Đó là những năm 60, anh bạn ạ”. (3) Một cây bút khách mời của tờ Boston Globe đã đặt tiêu đề bài viết của mình là “Đổ lỗi cho những năm 60, anh bạn ạ”. (4) Jon Carroll đã đặt tiêu đề cho bài viết của mình trên tờ San Francisco Chronicle là “Những năm 60 đã khiến họ làm điều đó”. (5) Một nhà văn người Canada đã viết, “Nghiên cứu của Giáo hội đổ lỗi cho những năm 60 sôi động”. (6) Những người khác cũng lên tiếng, tất cả đều lặp lại luận điểm đã được thiết lập, bao gồm Marci Hamilton, Rabbi Shmuley Boteach và Mark Silk. Một số người sáng tạo hơn: một nhà văn ở Minnesota nói rằng Giáo hội đổ lỗi cho ban nhạc Jefferson Airplane, và một nhà văn ở Florida lập luận rằng Giáo hội đổ lỗi cho Janis Joplin. (7)
Năm 2019, Đức Giáo Hoàng hưu trí Bê-nê-đíc-tô XVI lại gây ra báo động khi ngài đề cập đến vai trò của cuộc cách mạng tình dục trong khi thảo luận về lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Ngài đề cập đến sự cần thiết phải thảo luận về “bối cảnh xã hội rộng lớn hơn” của vụ tai tiếng, “nếu không có nó thì vấn đề không thể được hiểu”. Ngài không hề phóng đại khi viết, “Có thể nói rằng trong 20 năm từ 1960 đến 1980, các tiêu chuẩn bình thường trước đây về tình dục đã hoàn toàn sụp đổ, và một chuẩn mực mới đã xuất hiện, hiện đang là đối tượng của những nỗ lực phá vỡ đầy khó khăn.” Ngài liên kết những gì đang xảy ra bên ngoài Giáo hội—một “sự tự do tình dục hoàn toàn”—với những gì đang xảy ra bên trong Giáo hội — “thần học luân lý Công Giáo đã bị sụp đổ.” (8) Đây chính là những gì đã xảy ra.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà tư tưởng và nhà văn tự do không đồng ý. Julie Hanlon Rubio, giảng viên tại Trường Thần học Dòng Tên thuộc Đại học Santa Clara, đã bày tỏ sự phẫn nộ trước việc Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô “sẵn sàng đổ lỗi cho một nền văn hóa dễ dãi và một nền thần học tiến bộ về một vấn đề mang tính nội tại và cấu trúc”. (9) Rachel Donadio của tờ Atlantic cho rằng việc Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô nói về các lực lượng “gây bất ổn” của cuộc cách mạng tình dục là “kỳ lạ”. (10) Brian Flanagan tại Đại học Loyola Marymount cho rằng việc đổ lỗi cho những năm 1960 và “sự sụp đổ được cho là của thần học luân lý” là “sai lầm đáng xấu hổ”.(11) Những người khác có quan điểm tương tự bao gồm giáo sư James Bretzke của Đại học Marquette, nhà báo David Von Drehle của tờ Washington Post, giáo sư R. Andrew Chesnut của Đại học Virginia Commonwealth và nhà sử học Christopher Bellitto. (12)
Cha Richard John Neuhaus, một trong những tiếng nói có ảnh hưởng nhất trong Giáo Hội Công Giáo vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, đã lưu ý đến vai trò của cuộc cách mạng tình dục, đặc biệt là “phong trào hoạt động vì quyền của người đồng tính” đã gây ra vụ tai tiếng. Ngài nói rằng Giáo hội đã khoác lên mình “một màu tím hoa cà rõ rệt”. Ngài nhấn mạnh rằng nạn nhân là thanh thiếu niên, chứ không phải trẻ nhỏ, do đó đây là một cuộc khủng hoảng đồng tính luyến ái. (13)
Tổng giám mục Rembert Weakland nói rằng, đối với nhiều linh mục, Công đồng Vatican II, diễn ra vào thời điểm bắt đầu cuộc cách mạng tình dục, đã biến tình dục “thành một điều tích cực”. (14) Cha Andrew Greeley nói rằng có thể tranh luận liệu một cuộc cách mạng tình dục có diễn ra trong xã hội Mỹ vào những năm 1960 và 1970 hay không, nhưng ngài nói thêm rằng “trong giới giáo sĩ Công Giáo Rô-ma có một sự thay đổi rõ rệt về giá trị tình dục, xa rời giáo lý Công Giáo truyền thống”. (15)
Để hiểu được cuộc cách mạng tình dục đã gây ra những biến động mạnh mẽ như thế nào, hãy xem xét sự khác biệt giữa những năm 1950 và những thập niên sau đó. Đó là thời kỳ ổn định về xã hội và kinh tế. Tỷ lệ lạm phát, ly hôn và tội phạm thấp. Mọi người kết hôn sớm, và rất ít người còn độc thân. Đó cũng là thời kỳ Giáo Hội Công Giáo nở rộ. Dân số của nó đã tăng gấp đôi từ năm 1940 đến năm 1960, và như Charles Morris kể lại, Tổng Giám mục Fulton J. Sheen đã trở thành “gương mặt đại diện của Công Giáo Mỹ trong những năm 1950”. Morris đã nhận xét một cách sắc sảo rằng “ngài có thể là diễn giả nổi tiếng xuất sắc nhất từng xuất hiện trên truyền hình”, giúp biến Giáo Hội Công Giáo trở thành định chế “nổi bật” trong xã hội. (16)
Không những không có cuộc cách mạng tình dục nào trong những năm 1950; không có thuốc tránh thai, có rất ít giáo dục giới tính trong trường học, và tỷ lệ sinh con ngoài hôn nhân, bệnh lây truyền qua đường tình dục và phá thai đều thấp. Lạm dụng tình dục của giáo sĩ có tồn tại, nhưng ở quy mô rất nhỏ, và nó không bao giờ được đưa lên trang nhất các báo. Thái độ về tình dục, đáng lưu ý là, ở một số khía cạnh, thoải mái hơn nhiều so với ngày nay. Lấy ví dụ trường hợp đàn ông bơi khỏa thân với các cậu bé.
Khi bể bơi trong nhà đầu tiên mở cửa tại YMCA Brooklyn vào năm 1885, đàn ông và các cậu bé được yêu cầu bơi khỏa thân. Hiệp hội YMCA đưa ra quan điểm này vì những bộ đồ bơi bằng len phổ biến vào thời điểm đó mang mầm bệnh và vi khuẩn, và các sợi vải làm tắc nghẽn hệ thống lọc của bể bơi. Nhưng vấn đề không chỉ dừng lại ở vệ sinh và hệ thống đường ống. Vào thời điểm đó, bơi khỏa thân được cho là để chuẩn bị cho các cậu bé bước vào tuổi trưởng thành. Năm 1926, Hiệp hội Y tế Công cộng Hoa Kỳ tuyên bố rằng “tại các bể bơi trong nhà chỉ dành riêng cho nam giới, việc tắm khỏa thân là bắt buộc” (tại các bể bơi trong nhà dành cho phụ nữ, họ được yêu cầu mặc đồ bơi “loại đơn giản nhất”). Trong thời gian đó, hình ảnh các cậu bé bơi khỏa thân thường thấy trên tạp chí Life. Thậm chí đến tận năm 1959, YMCA ở Bridgeport, Connecticut, vẫn ra quy định rằng “không được mặc đồ bơi trong bể bơi và các cậu bé sẽ không cần chúng trong suốt chương trình”. Việc các cậu bé lớn tuổi hơn bơi có mặc quần áo cùng với các cậu bé nhỏ tuổi hơn khỏa thân cũng rất phổ biến, và họ thường xuyên tham gia vào các trò chơi “đùa nghịch”. (17)
Sự trớ trêu thật đáng kinh ngạc. Ngày nay, chúng ta nghe nói rằng các biện pháp tránh thai, giáo dục giới tính và phá thai cần được phổ biến rộng rãi hơn để chúng ta có thể giảm thiểu việc sinh con ngoài hôn nhân và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Tuy nhiên, khi chưa có thuốc tránh thai, giáo dục giới tính hay phá thai hợp pháp, tỷ lệ sinh con ngoài giá thú và các bệnh lây truyền qua đường tình dục gần như không tồn tại. Hơn nữa, khi các cậu bé bơi khỏa thân với những người đàn ông lớn tuổi hơn, người ta ít bàn tán về việc các cậu bé bị lạm dụng tình dục. Đó là bởi vì sự kín đáo về tình dục là chuẩn mực được chấp nhận. Sau đó, cuộc cách mạng tình dục những năm 1960 đến, phá bỏ mọi sự kiềm chế.
“Những thay đổi về xã hội và văn hóa trong những năm 1960 và 1970 đã thể hiện ở mức độ gia tăng hành vi lệch lạc trong xã hội nói chung và cả trong số các linh mục của Giáo Hội Công Giáo ở Hoa Kỳ.” Đó là kết luận của các nhà khoa học xã hội tại Đại học John Jay. Trên thực tế, họ phát hiện ra rằng việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên bởi các linh mục “tăng đều đặn từ giữa những năm 1960 đến cuối những năm 1970, sau đó giảm vào những năm 1980 và tiếp tục duy trì ở mức thấp”. Tất nhiên, đây là thời điểm cuộc cách mạng tình dục nở rộ, khiến cho ý kiến cho rằng nó không ảnh hưởng đến Giáo hội trở nên không thuyết phục. “Sự gia tăng các vụ lạm dụng trong những năm 1960 và 1970 bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội trong xã hội Mỹ nói chung.” (18) Các nhà nghiên cứu của Đại học John Jay đã hoàn toàn chính xác.
Như đã lưu ý trước đó, không phải sự gia tăng số lượng người đồng tính vào hàng giáo sĩ mới là yếu tố quyết định; mà chính là sự thay đổi thái độ về tình dục mới là điều quan trọng nhất. Michael Rose đã nghiên cứu vấn đề này và kết luận rằng “cuộc cách mạng lớn trong các chủng viện đã xảy ra vào cuối những năm 1960, khi nhiều quy tắc kỷ luật bị loại bỏ để thay thế bằng một bầu không khí mới, tự do hơn nhiều, giống như trường đại học hơn với nhiều tự do và vân vân.” (19) Cha Eugene Kennedy, một nhà tâm lý học, nói, “Có rất nhiều người đồng tính trong số các linh mục cũ [trước Công đồng Vatican II], nhưng vấn đề được giải quyết khác nhau. Văn hóa vẫn còn nguyên vẹn; không có những hành vi lệch lạc như ngày nay.” (20) Ngài hoàn toàn đúng. Khi những người đồng tính trong hàng giáo sĩ được kỳ vọng phải cư xử đúng mực, hầu hết họ đều làm như vậy. Nhưng khi những quy định nghiêm ngặt được nới lỏng vào cuối những năm 1960—vào thời điểm diễn ra cuộc cách mạng tình dục trong xã hội—các linh mục đã được bật đèn xanh để hành động một cách ngang ngược. Họ đã làm vậy. Các tác giả của John Jay nhận thấy rằng những linh mục thiếu các mối quan hệ xã hội, và những người được nuôi dưỡng trong các gia đình hoặc nói xấu về tình dục hoặc hoàn toàn không nói gì về tình dục, có nhiều khả năng lạm dụng trẻ vị thành niên hơn những người khác. Các linh mục có hồ sơ như vậy rất phổ biến trong số những người được thụ phong vào những năm 1940 và 1950. (21) Nhưng cũng đúng là họ đã kiềm chế bản năng của mình vào thời điểm đó. Khi Giáo hội mất cảnh giác, bắt đầu từ cuối những năm 1960, một số người đã trở thành kẻ săn mồi. “Những người đàn ông được thụ phong vào những năm 1930, 1940 và 1950”, các tác giả của John Jay nói, “nói chung không lạm dụng trước những năm 1960 hoặc 1970. Những người đàn ông được thụ phong vào những năm 1960 và đầu những năm 1970 đã tham gia vào hành vi lạm dụng nhanh hơn nhiều sau khi họ bước vào thừa tác vụ.” (22) Sự thật không thể phủ nhận là cuộc cách mạng tình dục trong xã hội rộng lớn hơn đã tác động mạnh mẽ đến Giáo Hội Công Giáo như một cơn lốc. Những tư tưởng phóng túng đã tạo ra cuộc cách mạng tình dục bắt nguồn từ những năm 1960, nhưng đến những năm 1970, chúng mới phát triển mạnh mẽ về mặt hành vi, cả trong và ngoài Giáo hội. Thật dễ hiểu khi biết rằng “nhiều vụ lạm dụng xảy ra trong những năm 1970 hơn bất cứ thập niên nào khác, đạt tuyệt đỉnh vào năm 1980.” (23)
Năm 1978, khi Alexsandr Solzhenitsyn, nhà bất đồng chính kiến vĩ đại người Nga, phát biểu tại Đại học Harvard, ông đã nói với lớp sinh viên tốt nghiệp về sự thất vọng của mình đối với tình trạng tự do ở phương Tây. Ông nói rằng người ta nói nhiều về quyền lợi, nhưng lại ít nói về nghĩa vụ của con người. Ông lưu ý: “Sự tự kiềm chế tự nguyện hầu như không được biết đến”. (24) Thật vậy, sự tự kiềm chế được coi là điều cấm kỵ. Irving Kristol, một trí thức Do Thái xuất sắc, đã ghi nhận công lao của Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI trong việc hiểu rõ các dòng chảy xã hội và văn hóa đương thời. Ông nói rằng vị Giáo hoàng này “hoàn toàn đúng” khi cho rằng “một khi bạn cắt đứt mối liên hệ giữa tình dục và sinh sản và cho phép hoạt động tình dục trở thành mục đích khoái lạc tự thân, thì đủ loại điều khủng khiếp sẽ xảy ra với xã hội của bạn.” (25) Ngài có ý nói đến sự ra mắt thương mại của thuốc tránh thai vào năm 1960 và những kết quả có thể dự đoán được của nó. Cuộc cách mạng tình dục trùng hợp với phong trào quyền của người đồng tính. David Horowitz lưu ý: “Việc phô trương tình dục của mình được coi là một hành động cách mạng. Các nhà hoạt động giải phóng người đồng tính không chỉ đơn thuần cố gắng thu hút sự chú ý hay xúc phạm xã hội dị tính, hoặc quan trọng hơn, thuyết phục xã hội chấp nhận họ như những cá nhân theo cách riêng của họ. Họ đang cố gắng thay đổi thế giới bằng cách buộc xã hội chấp nhận tình dục công khai mạnh mẽ và quan trọng hơn, hành vi tình dục bừa bãi.” (26) Các nhà lãnh đạo đồng tính luyến ái đồng ý. Larry Kramer, người sáng lập Tổ chức Khủng hoảng Sức khỏe Nam giới Đồng tính ở New York và Liên minh Giải phóng Quyền lực chống AIDS (ACT UP), cho biết, “Phong trào những năm 60 và 70 đã hợp pháp hóa sự phóng túng tình dục.” (27) Thật không may, đối với nhiều người đồng tính, điều này có nghĩa là họ thường xuyên lui tới các nhà tắm công cộng dành cho người đồng tính. Nhà văn đồng tính Randy Shilts biết điều này dẫn đến đâu. “Các nhà tắm công cộng đảm bảo sự lây lan nhanh chóng của AIDS trong cộng đồng nam giới đồng tính.” (28) Thật đáng buồn khi lưu ý rằng các nhà hoạt động đồng tính đã yêu cầu các nhà tắm công cộng phải tiếp tục mở cửa, ngay cả sau khi sự lây lan của AIDS đã ở mức khủng hoảng.(29) Kramer, tức giận với những người đồng tính vì quan hệ tình dục ẩn danh của họ trong các nhà tắm công cộng, đã bùng nổ, “Bao nhiêu người trong chúng ta phải chết trước khi các người sợ hãi và hành động?” (30)
Boston tóm lược vấn đề
Những người tiếp tục phủ nhận rằng cuộc cách mạng tình dục đã tạo ra mảnh đất văn hóa màu mỡ dẫn đến lạm dụng tình dục của giáo sĩ phải giải thích tại sao Boston lại là tâm điểm của vụ tai tiếng. Thành phố này đã ăn mừng cuộc cách mạng tình dục không kém bất cứ thành phố nào khác trong cả nước, và những gì đã xảy ra giờ đây đã được ghi vào sử sách. Los Angeles, một trung tâm khác của cuộc cách mạng tình dục, cũng chứng kiến sự bùng nổ các vụ lạm dụng tình dục của giáo sĩ: Tổng giáo phận Los Angeles đã phải chi trả hàng trăm triệu đô la tiền bồi thường trong những năm 2000.
Vào những năm 1940 và 1950, Boston là một thành phố Công Giáo sôi động, với số lượng người đi nhà thờ ngày càng tăng và vai trò ngày càng mạnh mẽ trong chính trị. Ngày nay, Boston là một trong những thành phố lớn “ít người đi nhà thờ” nhất trong cả nước.(31) Những thay đổi bắt đầu vào những năm 1960, khi Tổng giáo phận Boston chứng kiến sự sụt giảm mạnh số lượng người được nhận vào chủng viện.(32) Cuộc cách mạng tình dục đã bén rễ, và điều này thể hiện rõ nhất trong cộng đồng người đồng tính. Vào những năm 1970, Boston là nơi đặt trụ sở văn phòng quốc tế của Dignity, một nhóm linh mục Công Giáo đồng tính luyến ái bác bỏ giáo lý của Giáo hội về tình dục. (33) Boston cũng là nơi đặt trụ sở của Hiệp hội Tình yêu Nam/Nam thiếu niên Bắc Mỹ, hay NAMBLA, một tổ chức của những người đồng tính luyến ái biện minh cho quan hệ tình dục giữa đàn ông trưởng thành và trẻ em. (34) Đoán xem ai đã tham dự hội nghị đầu tiên của NAMBLA vào năm 1978? Cha Paul Shanley. (35) Có thể nói rằng, Boston không chỉ là tâm điểm của vụ tai tiếng mà còn là tâm điểm của hoạt động vận động cho quyền của người đồng tính trong và ngoài Giáo hội. Khi vụ tai tiếng vỡ lở trên trang báo Boston Globe năm 2002, Thượng nghị sĩ Rick Santorum đã giải thích lý do tại sao Boston bị ảnh hưởng nặng nề như vậy. “Khi một nền văn hóa bị bệnh, mọi yếu tố trong đó đều bị nhiễm bệnh. Mặc dù điều đó không phải là lý do bào chữa cho vụ tai tiếng này, nhưng không có gì ngạc nhiên khi Boston—một trung tâm của chủ nghĩa tự do học thuật, chính trị và văn hóa ở Mỹ—lại nằm ở trung tâm của cơn bão.” (36)
Boston nổi tiếng với những chính trị gia trăng hoa, tất cả đều tiếp tục được bầu bất chấp những câu chuyện tầm phào. Gia đình Kennedy là một ví dụ điển hình. John, Bobby và Teddy đã cặp kè với nhiều người nổi tiếng và nhiều người khác mà không bao giờ phải trả giá tại hòm phiếu; họ học được cách sống đó từ cha của họ, Joe, người cũng là một kẻ trăng hoa. Cử tri cũng rất khoan dung với những người đồng tính luyến ái lăng nhăng với người yêu. Dân biểu Gerry Studds đã bị Hạ viện khiển trách vào năm 1983 vì quan hệ tình dục với một thiếu niên, nhưng ông vẫn tiếp tục được tái đắc cử. (Rõ ràng, những người Công Giáo Boston phẫn nộ về việc các linh mục lạm dụng tình dục lại dễ chấp nhận hơn nếu người phạm tội là một chính trị gia.) Dân biểu Barney Frank đã quan hệ với một mại dâm nam vào năm 1989, nhưng điều đó không làm phiền cử tri của ông, hầu hết trong số họ đã bỏ phiếu cho ông hết lần này đến lần khác với tỷ lệ chênh lệch lớn.
Cử tri Boston cũng thích các đạo luật ủng hộ người đồng tính. Năm 2003, cơ quan lập pháp tiểu bang đã tổ chức các phiên điều trần về một dự luật sẽ định nghĩa hôn nhân là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người phụ nữ. Không ai từ Tổng giáo phận Boston hay các giáo phận Worcester, Fall River và Springfield lên tiếng ủng hộ dự luật. Nhưng bốn linh mục đã làm chứng chống lại biện pháp này. Như Phil Lawler đã lưu ý, điều này có nghĩa là “trên thực tế, các cặp đôi đồng tính nên được phép hưởng đặc quyền kết hôn hợp pháp”. (37) Năm sau, Massachusetts trở thành tiểu bang đầu tiên công nhận “hôn nhân” đồng tính. Lawler đã nhận xét một cách thích đáng rằng điều này đại diện cho “sự sụp đổ của ảnh hưởng Công Giáo” trong tiểu bang. (38)
Chính tại Tổng giáo phận Boston, Cha James Porter, Cha John Geoghan và Cha Paul Shanley, ba trong số những kẻ lạm dụng khét tiếng nhất trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, đã hoành hành. Porter đã lạm dụng tình dục các bé trai và bé gái tại nhà riêng, trên bãi biển và trong khuôn viên nhà thờ, bao gồm cả trên bàn thờ. (39) Geoghan là một kẻ ấu dâm thực sự, thường chọn các bé trai tiểu học để lạm dụng, mặc dù một trong những nạn nhân của hắn chỉ mới bốn tuổi. (40) Trong khi Porter và Geoghan là những kẻ bệnh hoạn, thì chính Shanley mới là biểu tượng cho văn hóa Boston.
Khi Shanley được thụ phong linh mục vào năm 1960, ông là một chàng trai trẻ cạo râu sạch sẽ. Chỉ trong vài năm, ông để tóc dài, trông luộm thuộm và không còn mặc áo cổ bẻ nữa, thay vào đó chọn áo sơ mi trơn và quần jean xanh. Đây là khởi đầu cho những năm tháng "linh mục hippie" của ông. Ông không chỉ thay đổi ngoại hình mà còn thay đổi cả tư tưởng. Ông nhanh chóng nổi tiếng vì thách thức các giáo lý của Giáo hội về tình dục, đặc biệt là đồng tính luyến ái, và thường xuyên xung đột với Hồng Y Medeiros. Ông không chỉ tán thành một đạo đức tình dục phóng túng mà còn sống theo nó. Những cậu bé mà ông tư vấn là con mồi của ông. Như các phóng viên của tờ Boston Globe Spotlight đã nói, "Các buổi trị liệu trở thành nơi xảy ra hành vi quấy rối và cưỡng hiếp." (41) Một lý do khiến Shanley có thể thoát tội với hàng loạt hành vi phạm tội của mình là do sự thiếu giám sát hoàn toàn từ phía cấp trên. Trong những năm 1970, khi Giáo hội mất gân cốt, Shanley sống một mình trong một căn hộ ở Back Bay của Boston. Đó là nơi ông quan hệ tình dục với những cậu bé tuổi vị thành niên đến để trị liệu. (42) Shanley đã hoạt động tích cực trong cộng đồng người đồng tính từ những năm 1970, tìm kiếm các cậu bé vị thành niên để quan hệ tình dục bằng miệng và hậu môn. (43) Vô cùng phóng túng, ông ta mắc bệnh giang mai và dạy các cậu bé tuổi teen cách tiêm chích ma túy. Tất cả những điều này đều được cấp trên của ông ta biết: nó nằm trong hồ sơ nhân sự linh mục của ông. (44)
Vị “linh mục đường phố” này không chỉ tận hưởng một lối sống rất tự do; ông ta còn có một hệ tư tưởng chính trị rất tự do. Ông ta thúc đẩy việc hợp pháp hóa cần sa và đổ lỗi cho chính phủ liên bang về việc sử dụng heroin vì họ không cung cấp cần sa rộng rãi hơn. Vị linh mục săn mồi này cũng là người bênh vực người nghèo, một nhà hoạt động vì công lý xã hội nổi tiếng. Ông ta nổi tiếng vì thường xuyên chỉ trích người da trắng, gọi họ là những kẻ phân biệt chủng tộc và đổ lỗi cho cha mẹ của những đứa trẻ bỏ nhà đi. Ông ta cũng ghét cảnh sát, cáo buộc họ gài ma túy vào những thanh niên trẻ và đánh đập những người chống cự. (45) Shanley là một người đàn ông đang mâu thuẫn với chính mình, với Giáo Hội Công Giáo và với xã hội. Vì tất cả những điều này, giới cầm quyền tự do ở Boston đã đón nhận Shanley như thể ông ta là một anh hùng.
Leon Podles, tác giả một cuốn sách quan trọng về lạm dụng tình dục của giáo sĩ đã gọi Shanley là “người được yêu mến của giới tự do Boston”. (46) Vị “linh mục hippie” này đã giành được Giải thưởng Công dân của Thị trưởng Boston và được giới trẻ yêu mến vì điều hành một vũ trường với tất cả ánh sáng ảo giác quen thuộc. (47) Dân biểu Barney Frank, biểu tượng đồng tính luyến ái tự do, đã làm việc với ông khi còn là một nhà lập pháp tiểu bang, và con trai của cựu thị trưởng John B. Hynes đã tìm đến ông để trị liệu. Các nữ tu, cả hiện tại và trước đây, đều ca ngợi công việc của ông với những thanh thiếu niên gặp rắc rối, mà không bao giờ đề cập đến việc ông đã góp phần tạo ra rắc rối cho họ. Luật sư của các nạn nhân, Carmen Durso, đã đại diện cho một số nạn nhân của Shanley, nhưng ông nói, “Nếu ông ta không phải là một kẻ biến thái đáng nguyền rủa, [ông ta] sẽ là người hùng của tôi.” (48)
Giới tinh hoa thế tục cánh tả ở Boston bị thu hút bởi Shanley, cũng như các linh mục đang công khai nổi loạn chống lại Giáo hội. Vào những năm 1970, các linh mục lạc lối, đặc biệt ở Boston, những người ủng hộ Shanley có thể làm hầu hết mọi thứ họ muốn, và điều này càng đúng hơn đối với những người bất đồng chính kiến. Khi Shanley mâu thuẫn với Hồng Y Medeiros, tổng giám mục chưa bao giờ đối đầu với ông ta theo cách mà ông ta nên làm. Điều quan trọng cần lưu ý là kẻ hiếp dâm trẻ em này được Hiệp hội các Linh mục Đô thị Boston, một nhóm bất đồng chính kiến, ủng hộ. Một số người đã viết thư ủng hộ Shanley, và các nhà lãnh đạo thành phố cũng vậy.
Vào cuối những năm 1970, ĐHY Medeiros đã cố gắng kiềm chế Shanley, nhưng đã quá muộn. Shanley đã chuyển sang thế tấn công và nhờ những người bạn của mình từ Hiệp hội các Linh mục Đô thị Boston đứng ra bảo vệ mình. Ông ta liên hệ với giới truyền thông, nói với họ rằng tổng giám mục không còn tiếp cận những người đồng tính nữa. Ông ta trực tiếp đến tờ New York Times và Associated Press với những câu chuyện về việc mình là nạn nhân, và ĐHY Medeiros bị cáo buộc là đang đàn áp. Shanley không dừng lại ở đó. Ông ta đã chiêu mộ sự ủng hộ từ những người hâm mộ tự do của mình trong các trường cao đẳng và đại học. Các nhà hoạt động vì quyền của người đồng tính cũng viết những điều tích cực về ông ta. Cuối cùng, vào năm 1979, ĐHY Medeiros nói với Shanley rằng ông bị cách chức khỏi thừa tác vụ phụ trách thanh thiếu niên lạc lối. Shanley nổi cơn thịnh nộ, nhưng lần này, vị tổng giám mục, biết rằng Rome đang theo dõi những diễn biến này, đã giữ vững lập trường của mình. (49) Bi kịch này giống như một vở kịch, mặc dù nó diễn ra trong thời gian thực. Những người theo chủ nghĩa tự do ở Boston đã chọn phe, bỏ phiếu cho kẻ hiếp dâm đồng tính hàng loạt.
Không phải chỉ có ĐHY Medeiros không xử lý vụ tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ theo cách ngài nên làm; Hồng Y Bernard Law cũng phải chịu trách nhiệm rất lớn. Biết tất cả những gì ngài biết về Geoghan, ngài vẫn ca ngợi hắn vào cuối năm 1996, khi kẻ ấu dâm hàng loạt này nghỉ hưu. “Cuộc đời phục vụ của ngài rất hiệu quả, nhưng thật đáng tiếc là bị cản trở bởi bệnh tật. Thay mặt những người mà ngài đã phục vụ tận tâm, và nhân danh chính tôi, tôi muốn cảm ơn ngài.” (50) Khi vụ tai tiếng bùng nổ trên truyền thông vào tháng 1 năm 2002, HY Law đã không mất thời gian nói rằng ông “vô cùng hối tiếc” vì đã cử Geoghan đến một nhiệm vụ mới vào năm 1984. (51)
Năm 1996, khi Shanley nghỉ hưu, ĐHY Law nói, “Không nghi ngờ gì nữa, trong suốt những năm tháng chăm sóc hào phóng và nhiệt thành này, cuộc sống và trái tim của nhiều người đã được chạm đến bởi sự chia sẻ Thánh Linh Thiên Chúa của ngài. Ngài thực sự được trân trọng vì tất cả những gì ngài đã làm.” (52)
ĐHY Law không biết gì hay có ác ý? Ngài không hề không biết gì: Ngài biết những gì Geoghan và Shanley đã làm. Ngài có ác ý không? Không. Những người ngưỡng mộ ngài, bao gồm cả Phil Lawler, nói rằng kết luận như vậy là không công bằng. Lawler nhấn mạnh nhiều điều tốt đẹp mà Đức Hồng Y Law đã làm, thường là không tìm kiếm sự chú ý. Ông nhấn mạnh rằng ĐHY Law không phải là “kẻ bạo chúa tàn nhẫn” như nhiều người đã miêu tả. (53)
Vậy nếu ĐHY Law không phải là người thiếu hiểu biết hay độc ác, điều gì giải thích cho việc ngài không thể kiềm chế các linh mục quấy rối tình dục? Ngài có thể là một người bảo thủ về thần học, nhưng ngài không biết cách cai quản những linh mục ngang bướng. Đó là thất bại lớn nhất của ngài. Điểm yếu này đã để lại dấu ấn trong di sản của nhiều giám mục: họ cho phép một số người đàn ông bệnh hoạn hành động sai trái, không bao giờ ngăn chặn hay nắm quyền kiểm soát giáo phận của mình. Thật đáng tiếc là Hồng Y Law đã không cai trị nghiêm khắc như những người chỉ trích ngài cáo buộc.
Một số giáo phẩm thực sự thiếu hiểu biết. Tổng giám mục Philadelphia, Đức Hồng Y John Krol, một người bảo thủ kiên định về thần học, đã bị các linh mục đồng tính luyến ái làm việc dưới quyền ông chế giễu. Trên các trang của Communication, một bản tin dành cho các giáo sĩ đồng tính luyến ái, họ đã khoe khoang về những nỗ lực của mình trong việc thúc đẩy chương trình nghị sự đồng tính luyến ái cấp tiến. “Đức Hồng Y Krol chẳng hề biết những hoạt động lớn lao nào đang âm thầm diễn ra dưới chiếc ô của ngài”, ám chỉ những mục tiêu mang tính lật đổ của họ. (54) Nhưng phần lớn, các giám mục bảo thủ đã để cho sự bất đồng về thần học định hình nên quan điểm và sợ hãi không dám thách thức nó. Đó là kết luận mà nhà sử học James Hitchcock đã đưa ra.
Hitchcock chỉ ra những cải cách của Công đồng Vatican II được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục. Thế hệ giám mục cũ đã không thể kiểm soát được quá trình giáo dục hậu Công đồng, dẫn đến những kết quả tai hại. Điều này có nghĩa là “các chức sắc Giáo hội—từ chính các giám mục đến giáo viên mẫu giáo—đã được đưa vào một cách có hệ thống quan điểm về ‘sự đổi mới’ ngày càng trái ngược với giáo huấn chính thức và với chính những lời của Công đồng.” Ông nói rằng, tầng lớp quản lý trung gian trong Giáo hội đã trở thành một ổ chứa sự bất đồng. Hơn nữa, trong những năm 1970, một loạt các giám mục tự do đã được bổ nhiệm. Nhưng ngay cả ở những giáo phận nơi một giám mục bảo thủ được bổ nhiệm, chủ nghĩa tự do vẫn thắng thế. “Bất kể ý định của ông ta là gì,” Hitchcock viết, “một giám mục mới nhanh chóng phát hiện ra rằng những người theo chủ nghĩa tự do kiểm soát chặt chẽ bộ máy giáo phận như thế nào—văn phòng trường học, hội đồng linh mục, văn phòng công lý xã hội và các cơ quan khác—và ông nhận ra rằng việc loại bỏ những người như vậy sẽ không dễ dàng và sẽ khó chịu.” (55) Ở Washington, họ có câu nói, “Nếu muốn hòa thuận, hãy cứ thuận theo.” Điều này cũng đúng với Giáo Hội Công Giáo.
Còn tiếp