Kết thúc Thần Học Xác Thân (THXT) của ĐGH Gioan Phaolô II:
Những Gợi Ý để thấu hiểu sự Hấp Dẫn Đồng Phái và các Hành Vi Đồng Tính Luyến Ái
Chúng ta không thể kết thúc loạt bài tìm hiểu nền THXT của ĐGH Gioan Phaolô II nếu không đề cập đến một vấn đề gai góc khác rất thời đại, rất nổi đình nổi đám, không chỉ đang xuất đầu lộ diện từ mọi ngóc ngách, mà còn như đang tự hào vươn lên xác định vị thế và đang cố gắng dành giật từng tấc từng gang đất sống trên mặt trận nhân sinh và pháp lý, trên quy mô quốc gia cũng như quốc tế: đó là vấn đề đồng phái. Trong bối cảnh này xin được giới thiệu cùng bạn đọc bản lược dịch bài phân tích có tựa đề nêu trên do James G. Knapp, S.J., đăng trên trang nhà christendom-awake.org vào ngày mùng 8 tháng 12 năm 2003 luận bàn về vấn đề đồng phái nhin qua lăng kính của nền THXT thời danh của ĐGH Gioan Phaolô II.
(tiếp theo và hết)
THXT của ĐGH Gioan Phaolô II
Bây giờ đã đến lúc ta nhìn vấn đề hấp dẫn đồng phái trong ánh sáng của nền THXT của ĐGH Gioan Phaolô II. Có ba điểm then chốt trong lời dậy của ĐGH về thân xác thật thích hợp cho ta luận bàn về sự hấp dẫn đồng phái và các hành vi đồng tính luyến ái. Ba chủ đề trong ‘chu kỳ thứ nhất’ được nói đến là: nỗi Cô Đơn Nguyên Thủy, sự Hợp Nhất Nguyên Thủy, và Ý Nghĩa Hôn Phối của Thân Xác. Trước hết ta sẽ tóm tắt từng điểm để rồi sau đó áp dụng vào đề tài về sư hấp dẫn đồng phái.
Nỗi Cô Đơn Nguyên Thủy
Những nét đặc trưng của nỗi Cô Đơn Nguyên Thủy chính là Ađam, “con người” cảm nghiệm mình như một chủ thể--một nhân vị--với cá tính và ý thức. Trong kinh nghiệm về mình như một chủ thể trong nỗi cô đơn nguyên thủy, ông thấy mình đứng trong thế tương quan với Thiên Chúa. Ông là “người bạn của Đấng Tuyệt Đối.” Con người ở trong tư thế tương quan rộng mở hướng về Tạo Hóa. Đời sống ông được Thiên Chúa tặng ban, không phải do ông tự tay kiếm được hoặc xứng đáng được tặng thưởng; nó là một món quà. Ông là thụ tạo bất tất, lệ thuộc vào Thiên Chúa, và có một tương quan cá vị với Ngài.
Con người cũng cảm thấy mình sống có bầu có bạn với các tạo vật khác. Thiên Chúa đem cây cỏ và muông thú đến trình diện với con người như một tặng vật. Con người đặt tên cho tạo vật, điều này cho thấy con người có quyền bá chủ trên muôn loài. Con người cũng thấy mình có quan hệ cả với loài vô sinh nữa, bởi vì con người có khả năng “thống trị mặt đất.” Nhận lệnh của Chúa, con người thực hiện quyền thống lĩnh trên các loài vô sinh vốn cũng là quà tặng của Ngài. Tạo vật thì tốt đẹp. Những tạo vật ở dưới mức con người trở thành quà tặng cho con nguời, và chính con người cũng là một quà tặng cho tạo vật nữa.
Sự Hợp Nhất Nguyên Thủy của Nam và Nữ: một Hiệp Thông Nhân Vị
Dù có tất cả những quà tặng như thế, con người vẫn thấy như “thiếu thốn” một cái gì đó trong nỗi Cô Đơn Nguyên Thủy của mình. Con người khác hẳn với muôn tạo vật khác, và không tìm đâu được một bầu bạn tương xứng với mình. Với Thiên Chúa, con người mang mối tương quan ngã vị đối với ngã vị. Trong khi đó, với muôn tạo vật còn lại, con người mang một quan hệ “Tôi và Nó.” Thế là Thiên Chúa dựng nên người nữ cho người nam (cũng là con người) để có bầu có bạn. Nhìn thấy nàng, người nam nhận ngay ra rằng nàng “là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2:27). Chàng thấy nàng cũng y như mình, là một nhân vị. Có hai cách trở thành nhân vị được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa: là nam hay là nữ,”bổ khuyết cho nhau.” Đó là hai chiều kích bổ túc lẫn nhau, chiều kích ý thức phản tỉnh và tự xác định, cũng là hai phương cách ý thức về ý nghĩa của thân xác. Nữ tính của nàng giúp chàng xác định và cảm nghiệm nam tính của mình, còn nam tính của chàng giúp nàng hiểu nữ tình của mình. Nỗi cô đơn nguyên thủy, nhờ món quà người nữ mà Thiên Chúa tặng ban, đã mở lối cho sự hợp nhất nguyên thủy.
Khi người nữ được tạo dựng nên từ người nam như một chủ thể khác và cũng là bầu bạn tương xứng với mình, cả hai đều nhận thức được rằng họ không chỉ “đồng hội đồng thuyền” mà còn được dựng nên cho nhau và vì nhau, trong khi vẫn mang sự dị biệt bất cân đối. Điều quan trọng là mỗi người phải là một “chủ thể độc đáo,” không thể được lập lại, không thể bị thâu hút hay biến mất khi nên một với nhau. Trong món quà nhưng không mà Thiên Chúa ban tặng là chủ thể tính, họ vẫn mãi là chủ thể, trong khi tính chất một-mà-hai của họ chính là kết quả của khả năng trở thành quà tặng người này cho người kia. Cái nghịch lý một-mà-hai và hai-mà-một chính là điều làm cho “datum” (tức là cái được tặng) trở thành một thực thể duy nhất với “donum” (tức là món quà tặng). Ở đây, ta thấy được ý nghĩa của thân xác. Tính chất một-mà-hai và hai-mà-một của đôi vợ chồng chính là một hình tượng--tức hình ảnh và phản ảnh--của đời sống nội tại nơi Chúa Ba Ngôi. Tính chất một-mà-hai và hai-mà-một của người nam và người nữ thì mở ngỏ cho việc sinh hoa kết trái, và có thể đem đến một “đệ tam nhân” qua mầu nhiệm và món quà sinh sản.
Đáp lại mầu nhiệm này, ĐGH đã dậy rằng con người là “hình ảnh Thiên Chúa”, không phải trong nỗi cô độc mà là trong sự thông hiệp. Hiệp thông nhân vị của nam và nữ chính là phản ảnh nhập thể của sự trao hiến vô vị lợi trong Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng tạo dựng nên họ. Sự hợp nhất hiện hữu trong sự dị biệt của họ thì sâu xa hơn tính “bổ khuyết” của hai cá nhân tương hợp nhau. Đây là sự hợp nhất trong dị biệt bất cân đối, được hình thành do sự thông hiệp yêu thương, biểu hiệu qua các hành vi tự hiến cho nhau.
Ý Nghĩa Hôn Phối của Thân Xác và Hành Vi Vợ Chồng
Nam và nữ nhìn thấy trong thực tại thể lý thân xác mình là được tạo dựng “cho nhau và vì nhau.” Là ngôi vị-xác thể, họ thấy thân xác mình thì “thích hợp cho hợp nhất” và “thích hợp cho tình yêu đổi trao.” Người nam nhận thức rằng chàng có thể khởi xướng việc tự trao hiến yêu thương, để rồi người nữ đón nhận và hòa nhập sự hiến trao của chàng cho mình. Cũng vậy, người nữ nhận thức rằng nàng có thể đón nhận quà tặng của người nam bằng cách đáp trả lại sáng kiến của chàng, và rồi hoàn tất món quà bằng cách trao tặng bản thân mình cho người nam. Thân thể người nam và người nữ thì thích hợp để biểu lộ, trao tặng và đón nhận tình yêu.
Hành vi vợ chồng, như biểu hiệu của hiệp thông nhân vị, phải được tìm thấy trong sự hợp nhất nam nữ. Được chọn lựa trong tự do, trong tự hiến hỗ tương tự phát, và mở ngỏ cho việc khai sinh mầm sống, hành vi vợ chồng chính là sự biểu lộ mang tính chất quy tắc của sự hợp nhất một xương một thịt. Là một am hiểu mang tính quy tắc bởi vì nó biểu lộ ý nghĩa nội tại và thực tại hữu thể học của chính hành vi. Sự am hiểu “đạo đức” về việc sử dụng thích hợp năng lực phái tính không phải là một cái gì ở bên ngoài hành vi, mà được áp đặt tự “bên trong,” hoặc do bởi Thiên Chúa, hoặc do bởi một uy quyền tôn giáo hay dân sự. Bởi vì ý nghĩa hôn phối của thân xác cấu thành ý nghĩa của thân xác và phái tính “ngay từ lúc khởi đầu,” do đó nó mang tính quy tắc cho bất cứ ai sử dụng năng lực phái tính của mình. Mà chính vì nó mang tính chất quy tắc phổ quát, cho nên bất kỳ một sử dụng khả năng dục tính ngoài vòng hành vi hôn nhân thì đều là thác loạn. Bất kỳ một hợp nhất phái tính nào nằm ngoài vòng quan hệ tự do, hỗ tương, độc chiếm và bất khả chia lìa của một người nam và một người nữ (tức hôn nhân) và mở ngỏ cho sự truyền sinh (tức mở ngỏ cho thụ tinh) thì đều là sai phạm tự gốc rễ. Hành vi vợ chồng biểu lộ một tương quan hôn nhân thực hữu, và mối quan hệ này được biểu lộ một cách thể lý trong hành vi vợ chồng.
Khi suy tư về sách Diễm Ca, ĐGH đã nói đến ‘eros’ (tình dục) và ‘agape’ (tình yêu) trong quan hệ vợ chồng: “Chỉ cần một phân tích tóm gọn về bản văn Diễm Ca cũng đủ cho ta nghe thấy ngôn ngữ xác thân vọng vang trong sự hấp dẫn hỗ tương. Khởi điểm và đích điểm của sự hấp dẫn này--tức là sự ngưỡng phục hỗ tương--thực ra chính là nữ tính của cô dâu và nam tính của chú rể, trong kinh nghiệm trực tiếp khi đối mặt nhau. Bởi đó, những lời yêu thương cả hai cùng thốt lên đều tập trung vào thân xác, không phải chỉ vì tự nó hình thành nguồn mạch của sự hấp dẫn hỗ tương, mà còn bởi vì, trên hết mọi sự, từ nơi thân xác sự hấp dẫn lan tỏa trực tiếp và ngay tức khắc đến với nhân vị kia, đến với “tha ngã”-nam hay nữ--là nguồn phát sinh tình yêu theo từng nhịp rung cảm của con tim.” [11]
Sinh hoa kết quả chính là trọng tâm lời giảng của ĐGH về hôn phối và hành vi vợ chồng. Trong một thế giới sa đọa, nơi trái tim con người trở thành chiến tuyến của tình yêu và lăng loàn, con người dễ trở thành vô cảm trước món quà tặng của người khác. Hành vi vợ chồng biểu lộ sự trân qúy đối với món quà, bởi vì nó diễn đạt sự tự hiến theo một cung cách mà tự bản chất luôn mở ngỏ cho một đệ tam nhân, tức là mở ngỏ cho món quà quý giá là mầm sống mới. Mở ngỏ cho mầm sống và chối bỏ tính lăng loàn chính là mấu chốt để con người khám phá ra chính mình xét như một “tạo vật duy nhất trên trần gian được Thiên Chúa yêu thương vì chính nó” và là tạo vật “chỉ có thể khám phá trọn vẹn bản ngã chân thật của mình khi chân thành trao hiến bản thân mình.” [12] Trong hành vi vợ chồng, sự tự hiến cho nhau của hai hữu thể bất cân đối mở ngỏ cho món quà tình yêu vốn khai sinh ra một đệ tam nhân, chính là phản ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi. Đây chính là nơi người nam và người nữ nhận ra mình là “imago Dei” (hình ảnh của Thiên Chúa).
Luận về thư Êphêsô, chương 5, sau khi khai triển sự hợp nhất có tính cách hôn phối giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, ĐGH rút ra những hàm ý của lời dậy này về mầu nhiệm hôn nhân Kitô giáo. Mary Shivanandan tóm lược tư tưởng của Đức Gioan Phaolô II về đoạn này như sau: “Tuy nhận thấy sự loại suy giữa mối quan hệ Chúa Kitô-Hội Thánh và hôn nhân thì không thỏa đáng để giúp thấu hiểu thực tại siêu việt, nhưng ngài nói rằng nó cũng có thể, trong một mức độ nào đó, đi sâu được vào cái cốt lõi của mầu nhiệm tình yêu của Chúa Kitô và Hội Thánh, để rồi phản ảnh lại tình yêu phu phụ. Tình yêu Chúa Kitô đúng là một “món quà tự hiến trọn vẹn và không hề đổi thay mà Thiên Chúa dành cho con người (nghĩa là cho cả cộng đoàn Kitô lẫn từng mỗi cá nhân) trong Chúa Kitô. Không như tình yêu của cha mẹ hoặc tình yêu cảm thông, tình yêu phu phụ mới phản ảnh món quà trọn vẹn này mà Thiên Chúa trao tặng cho con người nơi Chúa Kitô. Đây là món quà triệt để, cho dù nó chỉ có thể mặc lấy hình thức thông phần vào bản tính Thiên Chúa.” [13] Chính nơi đây, chồng và vợ nhận thức được mình là hình ảnh tình yêu của Chúa Kitô và Hội Thánh, là Hiền Thê của Ngài.
Suy Tư về Sự Hấp Dẫn Đồng Phái
Rõ ràng cái kiểu thức mà nền THXT của ĐGH Gioan Phaolô II đưa ra chính là thách đố trực tiếp cho cái ý niệm cho rằng hai người đồng phái có thể hình thành một kết hợp như một lựa chọn vững chắc tương đương với kết hợp phu phụ giữa nam và nữ. Hấp dẫn đồng phái và các hành vi đồng tính luyến ái thì đi ngược lại “sự thật về con người.” Được tạo dựng trong niềm cô đơn nguyên thủy, “con người” thấu cảm được nỗi thiếu vắng một bạn đường tương xứng. Thiên Chúa tạo dựng Evà từ chất liệu nơi Ađam để cả hai đều có kinh nghiệm về sự hợp nhất nguyên thủy trong nam tính và nữ tính của mình cũng như cảm nghiệm được ‘nỗi cô đơn kép’ so với muôn tạo vật còn lại. Điều này hình thành bản chất nội tại của loài tạo vật duy nhất mang hình ảnh Chúa và giống với Thiên Chúa. Tính bất cân đối giữa nam và nữ chính là một thành phần thiết yếu trong mối tương quan duy-nhất-trong-dị-biệt của họ và trong cách thức họ phản ảnh mối ‘hiệp thông ngã vị’ của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Suy tư của ĐGH Gioan Phaolô II về đoạn sách Diễm Ca minh chứng cho năng động tính tuyệt mỹ hiện diện nơi ngôn ngữ thân xác trong nam tính và nữ tính. Khi người nam nhìn thấy người nữ lần đầu tiên, cũng như khi nàng lần đầu tiên nhìn thấy chàng, một hấp lực trong ‘eros’ (tình dục) được truyền khiến để phát sinh ra ‘agape’ (tình yêu). Được cảm nghiệm qua sự trần truồng, hấp lực này rất quan trọng đối với đề tài ta đang bàn đến. Trong khoảnh khắc và một cách thực sự rõ ràng, người nam và người nữ nhận thức ngay rằng mình được tạo dựng là ‘để cho nhau.’ Cái ý thức về thân xác mình “thật thích đáng cho sự phối hợp thể lý’ do bởi cấu tạo phái tính dị biệt đã làm cho họ trân quý ý nghĩa hôn phối của thân xác mình và cũng cho họ thấy rằng việc tự hiến người này cho người kia một cách trọn vẹn và tròn đầy chính là một tác động kiến tạo nên sự ‘hiệp thông ngã vị’ vốn phản ảnh đời sống nội tại nơi Thiên Chúa Ba Ngôi. Đây chính là một phần kinh nghiệm nguyên thủy về mối tương quan của họ với Thiên Chúa và với nhau.
Khi người nam nhìn thấy người nữ, chàng nhận ra một ngã vị-xác thể rất khác với chính thân xác mình nhưng đồng thời lại thấy thích hợp để thông truyền tình yêu với thân xác ấy. Thân xác nàng mời gọi sự tự hiến của người nam với khả thể trao nhận hỗ tương qua hành vi vợ chồng. Hành vi vợ chồng này tự trong bản chất đã mang theo sự mở ngỏ cho mầm sống mới và khả thể sinh sản. Với người nam, hành vi tự hiến này chỉ khả hữu khi người yêu thì khác biệt với mình--tức là một người nữ. Cũng thế, với người nữ, hành vi này chỉ khả hữu khi người yêu là một người nam.
Ta thử mường tượng năng động tính này trong tình huống người nam nhìn người nam và người nữ nhìn người nữ. Khi người nam nhìn người nam, chàng thấy một thân xác y chang như mình. Hấp lực hướng đến thân xác ấy chỉ giới hạn trong ‘tình dục’ (eros) mà thôi, bởi vì cái linh thiêng cấu thành hành vi vợ chồng thì bất khả hữu trong một tình huống “cân đối.” Càng thất vọng hơn nữa nếu ngưòi nam lại còn cảm thấy hấp lực tình dục đối với cùng một thứ xác thân mà minh đang có. Do đó, chàng có thể bị cám dỗ thực hiện tính lăng loàn không chỉ với thân xác người khác, mà còn cả với thân xác mình nữa. Thân xác mình trở thành đối tượng của thứ thân xác mà mình bị hấp lực hướng đến. Điều này mang tất cả mọi tiềm năng làm băng hoại điều Thiên Chúa trù định là: hấp lực hướng đến một hành vi biểu lộ một trao tặng vô vị lợi cho người khác, biến thành một hành vi tự yêu mình, tự hướng về mình. Hấp dẫn đồng phái hàm chứa dục vọng về các hành vi đồng tính vốn không thể đưa đến việc tự hiến, mà là đi vào ngõ vô sinh. Các hành vi ấy không thể là hành vi vợ chồng được.
Loại suy về sự kết hợp của Chúa Kitô với Hội Thánh và hôn nhân Kitô giáo mà Phaolô đề cập đến trong thư Ephêsô cũng được ĐGH dùng để khai triển nến thần học về hôn nhân Kitô giáo, điều này rất có ý nghĩa với đề tài ta đang nói đây. Tình yêu hôn nhân có đặc tính là tự hiến và sinh hoa kết quả cũng như xả thân vì người khác, như Chúa Kitô đã làm cho Hội Thánh. Đây không phải là tình thương của cha mẹ, tình anh chị em, hay tình bằng hữu cảm thông: nó là tình yêu phu phụ mang đấy nét bí tích. Nó là tình yêu hôn phối. Sự kết hợp của Chúa Kitô với hiền thê của Ngài là Hội Thánh, và sự kết hợp vợ chồng Kitô giáo, đều là những “mầu nhiệm lớn lao.”
Kết Luận
Một số người cho rằng giáo huấn của Hội Thánh về đồng tính luyến ái thì tiêu cực và nặng về luân lý. Ngay cả khi nói lên một sự thật nhưng với giọng điệu cảm thương thì thông điệp sẽ được đón nhân như một áp đặt và chỉ có giá trị giới hạn mà thôi. Đôi khi chính sứ giả còn bị cáo buộc là bất nhẫn, ‘sợ người’ và ghét người.
Thế nhưng, nơi THXT của ĐGH Gioan Phaolô II, ta tìm thấy cả một kho tàng vô giá để có thể đem ra dùng với anh chị em đồng phái. Chưa bao giờ có một nền thần học nào chứng minh tại sao sự kết hợp vợ chồng lại là một kết hợp linh thánh mà Thiên Chúa tặng ban cũng như kêu gọi tất cả những ai kết hôn, hay không kết hôn, phải sống hợp nhất, thủy chung, và khiết tịnh một cách chân tình và đầy lòng hy sinh. Nếu mỗi người chúng ta có thể thông truyền chân lý này đến cho các anh chị em đang phải chiến đấu với vấn đề hấp dẫn đồng phái, thì ta có thể giúp họ tìm thấy được nguồn sức mạnh thiêng liêng có khả năng thuyên chữa. Ta cũng có thể cống hiến cho họ cái lý lẽ để hiến dâng lòng khiết tịnh của mình như một món quà cho Thiên Chúa. Thân xác nói lên sự thật về con người. Thân xác diễn đạt nhân vị.
____________________________________________________________________
[11] Gioan Phaolô II, Thần Học Xác Thân (Boston: nxb Pauline, 1997), 169
[12] Công Đồng Chung Vaticanô II, Vui Mừng và Hy Vọng, số 24
[13] Mary Shivanandan, Bước Qua Ngưỡng Cửa Tình Yêu (Washington D.C.: nxb CUA, 1999, 132
Nguyễn Kim Ngân
Những Gợi Ý để thấu hiểu sự Hấp Dẫn Đồng Phái và các Hành Vi Đồng Tính Luyến Ái
Chúng ta không thể kết thúc loạt bài tìm hiểu nền THXT của ĐGH Gioan Phaolô II nếu không đề cập đến một vấn đề gai góc khác rất thời đại, rất nổi đình nổi đám, không chỉ đang xuất đầu lộ diện từ mọi ngóc ngách, mà còn như đang tự hào vươn lên xác định vị thế và đang cố gắng dành giật từng tấc từng gang đất sống trên mặt trận nhân sinh và pháp lý, trên quy mô quốc gia cũng như quốc tế: đó là vấn đề đồng phái. Trong bối cảnh này xin được giới thiệu cùng bạn đọc bản lược dịch bài phân tích có tựa đề nêu trên do James G. Knapp, S.J., đăng trên trang nhà christendom-awake.org vào ngày mùng 8 tháng 12 năm 2003 luận bàn về vấn đề đồng phái nhin qua lăng kính của nền THXT thời danh của ĐGH Gioan Phaolô II.
(tiếp theo và hết)
THXT của ĐGH Gioan Phaolô II
Bây giờ đã đến lúc ta nhìn vấn đề hấp dẫn đồng phái trong ánh sáng của nền THXT của ĐGH Gioan Phaolô II. Có ba điểm then chốt trong lời dậy của ĐGH về thân xác thật thích hợp cho ta luận bàn về sự hấp dẫn đồng phái và các hành vi đồng tính luyến ái. Ba chủ đề trong ‘chu kỳ thứ nhất’ được nói đến là: nỗi Cô Đơn Nguyên Thủy, sự Hợp Nhất Nguyên Thủy, và Ý Nghĩa Hôn Phối của Thân Xác. Trước hết ta sẽ tóm tắt từng điểm để rồi sau đó áp dụng vào đề tài về sư hấp dẫn đồng phái.
Nỗi Cô Đơn Nguyên Thủy
Những nét đặc trưng của nỗi Cô Đơn Nguyên Thủy chính là Ađam, “con người” cảm nghiệm mình như một chủ thể--một nhân vị--với cá tính và ý thức. Trong kinh nghiệm về mình như một chủ thể trong nỗi cô đơn nguyên thủy, ông thấy mình đứng trong thế tương quan với Thiên Chúa. Ông là “người bạn của Đấng Tuyệt Đối.” Con người ở trong tư thế tương quan rộng mở hướng về Tạo Hóa. Đời sống ông được Thiên Chúa tặng ban, không phải do ông tự tay kiếm được hoặc xứng đáng được tặng thưởng; nó là một món quà. Ông là thụ tạo bất tất, lệ thuộc vào Thiên Chúa, và có một tương quan cá vị với Ngài.
Con người cũng cảm thấy mình sống có bầu có bạn với các tạo vật khác. Thiên Chúa đem cây cỏ và muông thú đến trình diện với con người như một tặng vật. Con người đặt tên cho tạo vật, điều này cho thấy con người có quyền bá chủ trên muôn loài. Con người cũng thấy mình có quan hệ cả với loài vô sinh nữa, bởi vì con người có khả năng “thống trị mặt đất.” Nhận lệnh của Chúa, con người thực hiện quyền thống lĩnh trên các loài vô sinh vốn cũng là quà tặng của Ngài. Tạo vật thì tốt đẹp. Những tạo vật ở dưới mức con người trở thành quà tặng cho con nguời, và chính con người cũng là một quà tặng cho tạo vật nữa.
Sự Hợp Nhất Nguyên Thủy của Nam và Nữ: một Hiệp Thông Nhân Vị
Dù có tất cả những quà tặng như thế, con người vẫn thấy như “thiếu thốn” một cái gì đó trong nỗi Cô Đơn Nguyên Thủy của mình. Con người khác hẳn với muôn tạo vật khác, và không tìm đâu được một bầu bạn tương xứng với mình. Với Thiên Chúa, con người mang mối tương quan ngã vị đối với ngã vị. Trong khi đó, với muôn tạo vật còn lại, con người mang một quan hệ “Tôi và Nó.” Thế là Thiên Chúa dựng nên người nữ cho người nam (cũng là con người) để có bầu có bạn. Nhìn thấy nàng, người nam nhận ngay ra rằng nàng “là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2:27). Chàng thấy nàng cũng y như mình, là một nhân vị. Có hai cách trở thành nhân vị được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa: là nam hay là nữ,”bổ khuyết cho nhau.” Đó là hai chiều kích bổ túc lẫn nhau, chiều kích ý thức phản tỉnh và tự xác định, cũng là hai phương cách ý thức về ý nghĩa của thân xác. Nữ tính của nàng giúp chàng xác định và cảm nghiệm nam tính của mình, còn nam tính của chàng giúp nàng hiểu nữ tình của mình. Nỗi cô đơn nguyên thủy, nhờ món quà người nữ mà Thiên Chúa tặng ban, đã mở lối cho sự hợp nhất nguyên thủy.
Khi người nữ được tạo dựng nên từ người nam như một chủ thể khác và cũng là bầu bạn tương xứng với mình, cả hai đều nhận thức được rằng họ không chỉ “đồng hội đồng thuyền” mà còn được dựng nên cho nhau và vì nhau, trong khi vẫn mang sự dị biệt bất cân đối. Điều quan trọng là mỗi người phải là một “chủ thể độc đáo,” không thể được lập lại, không thể bị thâu hút hay biến mất khi nên một với nhau. Trong món quà nhưng không mà Thiên Chúa ban tặng là chủ thể tính, họ vẫn mãi là chủ thể, trong khi tính chất một-mà-hai của họ chính là kết quả của khả năng trở thành quà tặng người này cho người kia. Cái nghịch lý một-mà-hai và hai-mà-một chính là điều làm cho “datum” (tức là cái được tặng) trở thành một thực thể duy nhất với “donum” (tức là món quà tặng). Ở đây, ta thấy được ý nghĩa của thân xác. Tính chất một-mà-hai và hai-mà-một của đôi vợ chồng chính là một hình tượng--tức hình ảnh và phản ảnh--của đời sống nội tại nơi Chúa Ba Ngôi. Tính chất một-mà-hai và hai-mà-một của người nam và người nữ thì mở ngỏ cho việc sinh hoa kết trái, và có thể đem đến một “đệ tam nhân” qua mầu nhiệm và món quà sinh sản.
Đáp lại mầu nhiệm này, ĐGH đã dậy rằng con người là “hình ảnh Thiên Chúa”, không phải trong nỗi cô độc mà là trong sự thông hiệp. Hiệp thông nhân vị của nam và nữ chính là phản ảnh nhập thể của sự trao hiến vô vị lợi trong Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng tạo dựng nên họ. Sự hợp nhất hiện hữu trong sự dị biệt của họ thì sâu xa hơn tính “bổ khuyết” của hai cá nhân tương hợp nhau. Đây là sự hợp nhất trong dị biệt bất cân đối, được hình thành do sự thông hiệp yêu thương, biểu hiệu qua các hành vi tự hiến cho nhau.
Ý Nghĩa Hôn Phối của Thân Xác và Hành Vi Vợ Chồng
Nam và nữ nhìn thấy trong thực tại thể lý thân xác mình là được tạo dựng “cho nhau và vì nhau.” Là ngôi vị-xác thể, họ thấy thân xác mình thì “thích hợp cho hợp nhất” và “thích hợp cho tình yêu đổi trao.” Người nam nhận thức rằng chàng có thể khởi xướng việc tự trao hiến yêu thương, để rồi người nữ đón nhận và hòa nhập sự hiến trao của chàng cho mình. Cũng vậy, người nữ nhận thức rằng nàng có thể đón nhận quà tặng của người nam bằng cách đáp trả lại sáng kiến của chàng, và rồi hoàn tất món quà bằng cách trao tặng bản thân mình cho người nam. Thân thể người nam và người nữ thì thích hợp để biểu lộ, trao tặng và đón nhận tình yêu.
Hành vi vợ chồng, như biểu hiệu của hiệp thông nhân vị, phải được tìm thấy trong sự hợp nhất nam nữ. Được chọn lựa trong tự do, trong tự hiến hỗ tương tự phát, và mở ngỏ cho việc khai sinh mầm sống, hành vi vợ chồng chính là sự biểu lộ mang tính chất quy tắc của sự hợp nhất một xương một thịt. Là một am hiểu mang tính quy tắc bởi vì nó biểu lộ ý nghĩa nội tại và thực tại hữu thể học của chính hành vi. Sự am hiểu “đạo đức” về việc sử dụng thích hợp năng lực phái tính không phải là một cái gì ở bên ngoài hành vi, mà được áp đặt tự “bên trong,” hoặc do bởi Thiên Chúa, hoặc do bởi một uy quyền tôn giáo hay dân sự. Bởi vì ý nghĩa hôn phối của thân xác cấu thành ý nghĩa của thân xác và phái tính “ngay từ lúc khởi đầu,” do đó nó mang tính quy tắc cho bất cứ ai sử dụng năng lực phái tính của mình. Mà chính vì nó mang tính chất quy tắc phổ quát, cho nên bất kỳ một sử dụng khả năng dục tính ngoài vòng hành vi hôn nhân thì đều là thác loạn. Bất kỳ một hợp nhất phái tính nào nằm ngoài vòng quan hệ tự do, hỗ tương, độc chiếm và bất khả chia lìa của một người nam và một người nữ (tức hôn nhân) và mở ngỏ cho sự truyền sinh (tức mở ngỏ cho thụ tinh) thì đều là sai phạm tự gốc rễ. Hành vi vợ chồng biểu lộ một tương quan hôn nhân thực hữu, và mối quan hệ này được biểu lộ một cách thể lý trong hành vi vợ chồng.
Khi suy tư về sách Diễm Ca, ĐGH đã nói đến ‘eros’ (tình dục) và ‘agape’ (tình yêu) trong quan hệ vợ chồng: “Chỉ cần một phân tích tóm gọn về bản văn Diễm Ca cũng đủ cho ta nghe thấy ngôn ngữ xác thân vọng vang trong sự hấp dẫn hỗ tương. Khởi điểm và đích điểm của sự hấp dẫn này--tức là sự ngưỡng phục hỗ tương--thực ra chính là nữ tính của cô dâu và nam tính của chú rể, trong kinh nghiệm trực tiếp khi đối mặt nhau. Bởi đó, những lời yêu thương cả hai cùng thốt lên đều tập trung vào thân xác, không phải chỉ vì tự nó hình thành nguồn mạch của sự hấp dẫn hỗ tương, mà còn bởi vì, trên hết mọi sự, từ nơi thân xác sự hấp dẫn lan tỏa trực tiếp và ngay tức khắc đến với nhân vị kia, đến với “tha ngã”-nam hay nữ--là nguồn phát sinh tình yêu theo từng nhịp rung cảm của con tim.” [11]
Sinh hoa kết quả chính là trọng tâm lời giảng của ĐGH về hôn phối và hành vi vợ chồng. Trong một thế giới sa đọa, nơi trái tim con người trở thành chiến tuyến của tình yêu và lăng loàn, con người dễ trở thành vô cảm trước món quà tặng của người khác. Hành vi vợ chồng biểu lộ sự trân qúy đối với món quà, bởi vì nó diễn đạt sự tự hiến theo một cung cách mà tự bản chất luôn mở ngỏ cho một đệ tam nhân, tức là mở ngỏ cho món quà quý giá là mầm sống mới. Mở ngỏ cho mầm sống và chối bỏ tính lăng loàn chính là mấu chốt để con người khám phá ra chính mình xét như một “tạo vật duy nhất trên trần gian được Thiên Chúa yêu thương vì chính nó” và là tạo vật “chỉ có thể khám phá trọn vẹn bản ngã chân thật của mình khi chân thành trao hiến bản thân mình.” [12] Trong hành vi vợ chồng, sự tự hiến cho nhau của hai hữu thể bất cân đối mở ngỏ cho món quà tình yêu vốn khai sinh ra một đệ tam nhân, chính là phản ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi. Đây chính là nơi người nam và người nữ nhận ra mình là “imago Dei” (hình ảnh của Thiên Chúa).
Luận về thư Êphêsô, chương 5, sau khi khai triển sự hợp nhất có tính cách hôn phối giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, ĐGH rút ra những hàm ý của lời dậy này về mầu nhiệm hôn nhân Kitô giáo. Mary Shivanandan tóm lược tư tưởng của Đức Gioan Phaolô II về đoạn này như sau: “Tuy nhận thấy sự loại suy giữa mối quan hệ Chúa Kitô-Hội Thánh và hôn nhân thì không thỏa đáng để giúp thấu hiểu thực tại siêu việt, nhưng ngài nói rằng nó cũng có thể, trong một mức độ nào đó, đi sâu được vào cái cốt lõi của mầu nhiệm tình yêu của Chúa Kitô và Hội Thánh, để rồi phản ảnh lại tình yêu phu phụ. Tình yêu Chúa Kitô đúng là một “món quà tự hiến trọn vẹn và không hề đổi thay mà Thiên Chúa dành cho con người (nghĩa là cho cả cộng đoàn Kitô lẫn từng mỗi cá nhân) trong Chúa Kitô. Không như tình yêu của cha mẹ hoặc tình yêu cảm thông, tình yêu phu phụ mới phản ảnh món quà trọn vẹn này mà Thiên Chúa trao tặng cho con người nơi Chúa Kitô. Đây là món quà triệt để, cho dù nó chỉ có thể mặc lấy hình thức thông phần vào bản tính Thiên Chúa.” [13] Chính nơi đây, chồng và vợ nhận thức được mình là hình ảnh tình yêu của Chúa Kitô và Hội Thánh, là Hiền Thê của Ngài.
Suy Tư về Sự Hấp Dẫn Đồng Phái
Rõ ràng cái kiểu thức mà nền THXT của ĐGH Gioan Phaolô II đưa ra chính là thách đố trực tiếp cho cái ý niệm cho rằng hai người đồng phái có thể hình thành một kết hợp như một lựa chọn vững chắc tương đương với kết hợp phu phụ giữa nam và nữ. Hấp dẫn đồng phái và các hành vi đồng tính luyến ái thì đi ngược lại “sự thật về con người.” Được tạo dựng trong niềm cô đơn nguyên thủy, “con người” thấu cảm được nỗi thiếu vắng một bạn đường tương xứng. Thiên Chúa tạo dựng Evà từ chất liệu nơi Ađam để cả hai đều có kinh nghiệm về sự hợp nhất nguyên thủy trong nam tính và nữ tính của mình cũng như cảm nghiệm được ‘nỗi cô đơn kép’ so với muôn tạo vật còn lại. Điều này hình thành bản chất nội tại của loài tạo vật duy nhất mang hình ảnh Chúa và giống với Thiên Chúa. Tính bất cân đối giữa nam và nữ chính là một thành phần thiết yếu trong mối tương quan duy-nhất-trong-dị-biệt của họ và trong cách thức họ phản ảnh mối ‘hiệp thông ngã vị’ của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Suy tư của ĐGH Gioan Phaolô II về đoạn sách Diễm Ca minh chứng cho năng động tính tuyệt mỹ hiện diện nơi ngôn ngữ thân xác trong nam tính và nữ tính. Khi người nam nhìn thấy người nữ lần đầu tiên, cũng như khi nàng lần đầu tiên nhìn thấy chàng, một hấp lực trong ‘eros’ (tình dục) được truyền khiến để phát sinh ra ‘agape’ (tình yêu). Được cảm nghiệm qua sự trần truồng, hấp lực này rất quan trọng đối với đề tài ta đang bàn đến. Trong khoảnh khắc và một cách thực sự rõ ràng, người nam và người nữ nhận thức ngay rằng mình được tạo dựng là ‘để cho nhau.’ Cái ý thức về thân xác mình “thật thích đáng cho sự phối hợp thể lý’ do bởi cấu tạo phái tính dị biệt đã làm cho họ trân quý ý nghĩa hôn phối của thân xác mình và cũng cho họ thấy rằng việc tự hiến người này cho người kia một cách trọn vẹn và tròn đầy chính là một tác động kiến tạo nên sự ‘hiệp thông ngã vị’ vốn phản ảnh đời sống nội tại nơi Thiên Chúa Ba Ngôi. Đây chính là một phần kinh nghiệm nguyên thủy về mối tương quan của họ với Thiên Chúa và với nhau.
Khi người nam nhìn thấy người nữ, chàng nhận ra một ngã vị-xác thể rất khác với chính thân xác mình nhưng đồng thời lại thấy thích hợp để thông truyền tình yêu với thân xác ấy. Thân xác nàng mời gọi sự tự hiến của người nam với khả thể trao nhận hỗ tương qua hành vi vợ chồng. Hành vi vợ chồng này tự trong bản chất đã mang theo sự mở ngỏ cho mầm sống mới và khả thể sinh sản. Với người nam, hành vi tự hiến này chỉ khả hữu khi người yêu thì khác biệt với mình--tức là một người nữ. Cũng thế, với người nữ, hành vi này chỉ khả hữu khi người yêu là một người nam.
Ta thử mường tượng năng động tính này trong tình huống người nam nhìn người nam và người nữ nhìn người nữ. Khi người nam nhìn người nam, chàng thấy một thân xác y chang như mình. Hấp lực hướng đến thân xác ấy chỉ giới hạn trong ‘tình dục’ (eros) mà thôi, bởi vì cái linh thiêng cấu thành hành vi vợ chồng thì bất khả hữu trong một tình huống “cân đối.” Càng thất vọng hơn nữa nếu ngưòi nam lại còn cảm thấy hấp lực tình dục đối với cùng một thứ xác thân mà minh đang có. Do đó, chàng có thể bị cám dỗ thực hiện tính lăng loàn không chỉ với thân xác người khác, mà còn cả với thân xác mình nữa. Thân xác mình trở thành đối tượng của thứ thân xác mà mình bị hấp lực hướng đến. Điều này mang tất cả mọi tiềm năng làm băng hoại điều Thiên Chúa trù định là: hấp lực hướng đến một hành vi biểu lộ một trao tặng vô vị lợi cho người khác, biến thành một hành vi tự yêu mình, tự hướng về mình. Hấp dẫn đồng phái hàm chứa dục vọng về các hành vi đồng tính vốn không thể đưa đến việc tự hiến, mà là đi vào ngõ vô sinh. Các hành vi ấy không thể là hành vi vợ chồng được.
Loại suy về sự kết hợp của Chúa Kitô với Hội Thánh và hôn nhân Kitô giáo mà Phaolô đề cập đến trong thư Ephêsô cũng được ĐGH dùng để khai triển nến thần học về hôn nhân Kitô giáo, điều này rất có ý nghĩa với đề tài ta đang nói đây. Tình yêu hôn nhân có đặc tính là tự hiến và sinh hoa kết quả cũng như xả thân vì người khác, như Chúa Kitô đã làm cho Hội Thánh. Đây không phải là tình thương của cha mẹ, tình anh chị em, hay tình bằng hữu cảm thông: nó là tình yêu phu phụ mang đấy nét bí tích. Nó là tình yêu hôn phối. Sự kết hợp của Chúa Kitô với hiền thê của Ngài là Hội Thánh, và sự kết hợp vợ chồng Kitô giáo, đều là những “mầu nhiệm lớn lao.”
Kết Luận
Một số người cho rằng giáo huấn của Hội Thánh về đồng tính luyến ái thì tiêu cực và nặng về luân lý. Ngay cả khi nói lên một sự thật nhưng với giọng điệu cảm thương thì thông điệp sẽ được đón nhân như một áp đặt và chỉ có giá trị giới hạn mà thôi. Đôi khi chính sứ giả còn bị cáo buộc là bất nhẫn, ‘sợ người’ và ghét người.
Thế nhưng, nơi THXT của ĐGH Gioan Phaolô II, ta tìm thấy cả một kho tàng vô giá để có thể đem ra dùng với anh chị em đồng phái. Chưa bao giờ có một nền thần học nào chứng minh tại sao sự kết hợp vợ chồng lại là một kết hợp linh thánh mà Thiên Chúa tặng ban cũng như kêu gọi tất cả những ai kết hôn, hay không kết hôn, phải sống hợp nhất, thủy chung, và khiết tịnh một cách chân tình và đầy lòng hy sinh. Nếu mỗi người chúng ta có thể thông truyền chân lý này đến cho các anh chị em đang phải chiến đấu với vấn đề hấp dẫn đồng phái, thì ta có thể giúp họ tìm thấy được nguồn sức mạnh thiêng liêng có khả năng thuyên chữa. Ta cũng có thể cống hiến cho họ cái lý lẽ để hiến dâng lòng khiết tịnh của mình như một món quà cho Thiên Chúa. Thân xác nói lên sự thật về con người. Thân xác diễn đạt nhân vị.
____________________________________________________________________
[11] Gioan Phaolô II, Thần Học Xác Thân (Boston: nxb Pauline, 1997), 169
[12] Công Đồng Chung Vaticanô II, Vui Mừng và Hy Vọng, số 24
[13] Mary Shivanandan, Bước Qua Ngưỡng Cửa Tình Yêu (Washington D.C.: nxb CUA, 1999, 132
Nguyễn Kim Ngân