1. Đức Hồng Y Parolin gặp gỡ Ngoại trưởng Đan Mạch và Quốc vương trong bối cảnh tranh cãi về Greenland.
Trong chuyến thăm Đan Mạch để kỷ niệm 1200 năm sứ mệnh của Thánh Ansgar tại nước này, Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, đã có cuộc gặp riêng vào ngày 26 Tháng Giêng với Ngoại trưởng Đan Mạch Lars Løkke Rasmussen tại Eigtveds Pakhus, trụ sở ngoại giao lịch sử của Vương quốc Đan Mạch.
Cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh căng thẳng quốc tế, khi chủ quyền của Greenland - một lãnh thổ tự trị thuộc Vương quốc Đan Mạch - trở thành một vấn đề nhạy cảm sau những phát ngôn gần đây của Tổng thống Trump, người đã ám chỉ rằng ông sẽ sử dụng vũ lực để sáp nhập lãnh thổ này.
Lịch trình chuyến đi của Parolin tại Copenhagen bắt đầu vào ngày 24 Tháng Giêng với buổi lễ cầu nguyện liên tôn tại nhà thờ Lutheran Vor Frue Domkirke (Nhà thờ Đức Mẹ) ở thủ đô Đan Mạch.
Trước cuộc gặp với Ngoại trưởng Rasmussen, Đức Hồng Y đã đến thăm Vua Frederik X tại Cung điện Amalienborg và sau đó đến thăm Chủng viện Redemptoris Mater ở Vedbæk.
Ngày 23 tháng Giêng, Văn phòng Báo chí Vatican đã công bố bức thư trong đó Đức Giáo Hoàng Lêô XIV ủy quyền cho Đức Hồng Y Parolin đại diện cho Tòa Thánh tham dự các lễ kỷ niệm tưởng nhớ vị tu sĩ dòng Bênêđíctô và nhà truyền giáo Thánh Ansgar, một nhân vật được kính trọng và được coi là nhà truyền giáo Kitô giáo đầu tiên ở Bắc Âu.
Để kỷ niệm dịp này, chính quyền Đan Mạch đã tổ chức một chương trình quốc gia bao gồm các nghi lễ tôn giáo, hành hương, hội nghị và các cuộc gặp gỡ liên tôn.
Sự thờ ơ không bao giờ là một lựa chọn.
Theo Vatican News, tại một buổi lễ cầu nguyện có sự tham dự của các thành viên Giáo hội Tin Lành, Đức Hồng Y Parolin nhấn mạnh sự cần thiết phải áp dụng “quan điểm phục vụ cụ thể và trách nhiệm chung” nếu muốn đạt được sự hiệp nhất trọn vẹn. Ngài giải thích: “Chứng nhân Kitô giáo không thể chỉ trừu tượng hoặc bị giới hạn bởi lời nói”.
Ngài cũng khẳng định rằng trước sự đau khổ của các cá nhân và quốc gia, “chúng ta không thể ngoảnh mặt làm ngơ, và sự thờ ơ không bao giờ là một lựa chọn.”
Tham khảo Thư của Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô, từ đó lấy chủ đề cho Tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô giáo, Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh lưu ý rằng sự hiệp nhất trong Giáo hội không phải là sự đồng nhất mà nên được coi là “sự hiệp thông sống động trong sự đa dạng”.
Vào Chúa Nhật, ngày 25 tháng Giêng, Đức Hồng Y Parolin đã cử hành Thánh lễ tại Nhà thờ Chính tòa Thánh Ansgar với tư cách là đặc phái viên của Đức Giáo Hoàng tham dự lễ kỷ niệm 1200 năm ngày bắt đầu sứ mệnh của Thánh Ansgar tại Đan Mạch.
Thánh Ansgar sinh khoảng năm 801 tại vùng đất ngày nay là miền bắc nước Pháp và đã thực hiện công việc truyền giáo của mình ở Đan Mạch và Thụy Điển. Năm 831, ngài được bổ nhiệm làm Đức Tổng Giám Mục đầu tiên của Hamburg và sau đó lãnh đạo tổng giáo phận Bremen, cả hai đều thuộc Đức, nơi ngài qua đời năm 865.
Một sứ mệnh không dựa trên 'chiến lược hay thành công, mà dựa trên lòng trung thành với Chúa Giêsu'.
Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh nhấn mạnh tầm quan trọng lâu dài của các tu sĩ dòng Bênêđíctô trong một thế giới “bị tổn thương bởi những hình thức nô lệ mới — về kinh tế, văn hóa và tinh thần — và bị đánh dấu bởi sự loại trừ và thờ ơ.”
Ngài lưu ý: “Vào thế kỷ thứ chín, các tu sĩ dòng Bênêđíctô đã đến Bắc Âu để thực hiện một sứ mệnh không dựa trên 'chiến lược hay thành công, mà dựa trên lòng trung thành với Chúa Giêsu'.”
Trong bài giảng của mình, Đức Hồng Y Parolin đã điểm lại những giai đoạn chính trong cuộc đời của Thánh Ansgar, từ khi ngài gia nhập tu viện Corbie ở Pháp lúc còn nhỏ cho đến khi chuyển đến tu viện Corvey ở nước Đức ngày nay.
Vị giám mục nhấn mạnh rằng Thánh Ansgar chưa bao giờ nao núng, thể hiện “lòng can đảm và sự tự tin” khiến những người cùng thời phải ấn tượng. Trong sứ mệnh của mình, Thánh Ansgar “đã phải đối mặt với sự phản đối dữ dội và dường như thất bại, nhưng thành công không phải là điều ngài tìm kiếm”, vị Hồng Y nhận xét.
Theo lời vị ngoại giao Giáo hội, câu chuyện về Thánh Ansgar nhắc nhở chúng ta rằng Giáo hội phát triển “không chủ yếu về số lượng, mà chủ yếu ở những người nam và nữ sống cuộc đời trung thành, kiên trì và yêu thương: sứ mệnh bắt đầu từ những trái tim được biến đổi.”
Đức Hồng Y Parolin mời gọi người nghe “làm mới lòng can đảm truyền giáo” và “bảo vệ niềm hy vọng nơi lịch sử dường như mệt mỏi”, chứng minh rằng sự sinh sôi nảy nở “được sinh ra từ tình yêu thương kết nối và niềm tin vào sự hành động liên tục của Chúa, ngay cả trong những hoàn cảnh mong manh nhất.”
Đan Mạch, 'mang dấu ấn không thể phai mờ bởi di sản Kitô giáo'
Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng Đan Mạch “mang dấu ấn không thể xóa nhòa của di sản Kitô giáo” và cộng đồng Công Giáo, cùng với những người theo đạo Tin Lành và tất cả những người thiện chí, đóng góp “thông qua phục vụ, tình đoàn kết và tôn trọng phẩm giá con người”.
Trong thời gian lưu trú, Đức Hồng Y Parolin cũng đã đến thăm Tu viện dòng Carmelô Thánh Giuse ở Hillerød và gặp gỡ các nữ tu dòng Bênêđíctô của Tu viện Đức Mẹ ở Birkerød, như một cử chỉ thể hiện sự giao lưu mục vụ và tâm linh.
Source:EWTN
2. Giám mục người Tây Ban Nha cảnh báo về nguy cơ hiểu sai tính đồng nghị.
Đức Cha José Ignacio Munilla của Orihuela-Alicante ở Tây Ban Nha đã cảnh báo về hai rủi ro mà các tín hữu có thể gặp phải khi xem xét tính đồng nghị - synodality: đó là quên đi tính tông truyền – apostolicity- hoặc từ chối kho báu mà tính đồng nghị chứa đựng.
Bách khoa toàn thư Công Giáo định nghĩa tính tông truyền là “dấu chỉ mà nhờ đó Giáo hội ngày nay được nhận biết là đồng nhất với Giáo hội do Chúa Giêsu Kitô thành lập trên các tông đồ”.
Trong chương trình tiếng Tây Ban Nha “Lục địa thứ sáu”, do vị giám mục này dẫn chương trình trên Đài phát thanh María Tây Ban Nha, Đức Cha Munilla tuyên bố rằng “đôi khi, nhiều điều ngớ ngẩn được nói ra nhân danh tính đồng nghị”, bởi vì nó bị “đồng hóa với việc quên đi tính tông truyền của Giáo hội, với một kiểu diễn giải theo chiều ngang, như thể Giáo hội là một tổ chức công đoàn”.
Nhiều người hiểu tính đồng nghị như là tính “nghị viện”. Cụ thể, người ta hiểu tính đồng nghị như khả năng xét lại, tranh cãi và bỏ phiếu tán thành hay bác bỏ tất cả mọi đạo lý và kỷ luật của Giáo Hội, kể cả các đạo lý và kỷ luật của Giáo Hội đã được chính Chúa Giêsu truyền dạy hay đã được Giáo Hội thiết định từ lâu. Thái độ này “gây tổn hại cho nhiều tín hữu”, đến mức “một số người Công Giáo thậm chí kinh hoàng với tính đồng nghị đến mức phản ứng ngược lại và rơi vào cái bẫy phản đối tính đồng nghị, và từ chối kho tàng quý giá của tính đồng nghị”.
Vị giám mục nói thêm rằng giá trị của tính đồng nghị nằm ở việc “học cách cùng nhau bước đi, đón nhận những ân sủng của Chúa Thánh Thần để tạo nên bản giao hưởng của thân thể huyền nhiệm của Chúa Kitô”.
Tuy nhiên, Đức Cha Munilla than thở rằng “thật không may, một số hội nghị thượng hội đồng đang góp phần làm sống lại những sai lầm cũ trong lĩnh vực giáo hội học”, đó là “sự di căn” của những phương pháp thần học “pha trộn giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa Mác”, mà ngài nhắc lại, “đã bị Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo bác bỏ về cơ bản”.
Vị giám mục người Tây Ban Nha đã đưa ra những nhận xét này theo yêu cầu của một số người nghe, những người đã báo cho ngài biết về một bài giảng của Cha Eduardo Arens thuộc Hội Dòng Đức Mẹ, người gốc Đức nhưng lớn lên ở Peru.
Được đào tạo tại Trường Champagnat của Hội Dòng Đức Mẹ, nơi ngài gia nhập năm 1961, Cha Arens đã vướng vào nhiều năm tranh chấp với Đức Hồng Y Juan Luis Cipriani, người hiện là Đức Tổng Giám Mục danh dự của Lima, người đã thu hồi quyền giảng dạy theo giáo luật của Arens tại Học viện Thần học Lima vào năm 2009.
Phản bác luận điểm của Arens
Theo Đức Cha Munilla, trong bài giảng của mình, Cha Arens đã đối lập “giáo lý đúng đắn với thực hành đúng đắn” và tỏ ra tự hào vì “đã bị Bộ Giáo Lý Đức Tin nhắc nhở”.
Đức Cha Munilla chỉ ra rằng “tiền đề sai lầm ngay từ đầu của tác giả này” là cho rằng “việc truyền giáo đã bị nhầm lẫn với việc dạy giáo lý”, đánh đồng việc dạy giáo lý với việc nhồi nhét tư tưởng.
Mặc dù có thể nói rằng “trong mỗi lời nói của cha ấy đều có một phần sự thật”, nhưng Đức Cha Munilla đã chỉ ra “một sai lầm cơ bản, đó là tách rời việc truyền giáo khỏi bất kỳ giáo lý khách quan nào”, là điều mà theo ý kiến của vị giám mục là “một sự đối lập phi lý”.
Hơn nữa, vị giám mục người Tây Ban Nha cũng lưu ý rằng nhà thần học Dòng Đức Mẹ phủ nhận “một học thuyết về tận thế sau khi chết” và thu hẹp thông điệp của Chúa Giêsu thành “một cố gắng nhân bản hóa thế giới này”, chế giễu thiên đường và địa ngục, và “phủ nhận thực tại của trạng thái cứu rỗi hay bị đọa đày”, điều này tương đương với việc “làm cho nội dung lời rao giảng của Chúa Kitô trở nên trống rỗng”.
Về vấn đề này, Đức Cha Munilla giải thích rằng trong các sách Phúc Âm, “có 22 đoạn mà Chúa Giêsu nói về sự cứu rỗi đời đời hoặc sự kết án. Và nếu chúng ta tính cả các dụ ngôn về Ngày Phán Xét Cuối Cùng, thì có khoảng 30 hoặc 32 đoạn trong các sách Phúc Âm nói về sự cứu rỗi hoặc sự kết án của con người.”
Đức Cha Munilla cũng lưu ý rằng Cha Arens cho rằng cái chết của Chúa Kitô chỉ được giải thích bằng sự đối đầu của Ngài với các thế lực cầm quyền thời bấy giờ, chứ không phải là một sự hy sinh mang tính cứu chuộc.
Đức Cha Munilla nói rằng để bác bỏ sai lầm giáo lý này, người ta chỉ cần tham khảo đoạn Kinh Thánh mô tả việc thiết lập Bí tích Thánh Thể, khi Chúa Giêsu phán: “Đây là Mình Ta, phó nộp vì các con; đây là Máu Ta, đổ ra để tha tội cho các con.”
Vị giám mục cũng chỉ trích Cha Arens vì hiểu sự hy sinh của Chúa Kitô như một minh chứng cho “một vị thần tàn bạo chấp nhận máu của Con mình”, trong khi theo giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo, đó là “bằng chứng không thể chối cãi về tình yêu mà Chúa Kitô đáp lại ý muốn của Chúa Cha, thể hiện khát vọng cứu chuộc chúng ta”.
Trên chương trình phát thanh, vị giám mục nói về Cha Arens rằng “không thể nói những điều lố bịch hơn trong thời gian ngắn hơn” và bác bỏ những tuyên bố khác chế giễu “sự thật rằng tội lỗi xúc phạm đến Chúa” hoặc rằng Chúa Kitô “không muốn thành lập một tôn giáo, một Giáo hội.”
Sau khi giải thích những điều này, Đức Cha Munilla nhận thấy rằng “vấn đề về cơ bản luôn mang tính chất Kitô học”, liên quan đến việc “không thừa nhận Chúa Giêsu là ai”, từ đó nảy sinh những lạc giáo phủ nhận thần tính hoặc nhân tính của Ngài.
“Nói những lời vô nghĩa như vậy có thể gây tổn hại đến đức tin của những người dân chất phác đến mức đáng sợ!” Đức Cha Munilla nói thêm về những phát ngôn của Cha Arens.
Vị giám mục này cũng chỉ trích nhà thần học Tin Lành Rudolf Karl Bultmann, người mà ngài coi là “cha đẻ của thần học duy lý” và “nhà thần học giải huyền thoại”.
Đức Cha Munilla cáo buộc Cha Arens không dám công khai nói về việc áp dụng những nguyên tắc này cho Đức Trinh Nữ Maria, điều đó ngụ ý phủ nhận sự trinh khiết của Đức Mẹ, bởi vì khi đó “tất cả các hồi chuông cảnh báo sẽ vang lên” trong số khán giả của ngài, những người mà ngài cho rằng “có khả năng hạn chế trong việc hiểu tất cả những luận giải thần học này”.
“Đức tin vào Đức Mẹ cuối cùng trở thành điểm mấu chốt để phân biệt lạc giáo,” bởi vì “để vượt qua bài kiểm tra về sự chính thống của Giáo Hội Công Giáo, tất cả những gì bạn cần làm là hỏi một vài câu hỏi về suy nghĩ của người này đối với Đức Trinh Nữ Maria”.
Source:EWTN
3. Hai phép lạ mới được ghi nhận nhờ sự cầu bầu của Thánh Charbel trong năm 2026.
Kể từ đầu năm 2026, đã có hai phép lạ mới được tường trình do Thánh Charbel Makhlouf thực hiện – một ở Hoa Kỳ và một ở Li Băng – mỗi phép lạ đều liên quan đến việc chữa lành cho một phụ nữ trái với mọi dự đoán của y học.
Được các tín hữu tôn kính như “thầy thuốc của bầu trời”, Thánh Charbel, một tu sĩ và linh mục dòng Maronite người Li Băng, hiện được tường trình gắn liền với hơn 30.000 phép lạ. Từ am thất của ngài trên núi ở Li Băng đến các phòng bệnh viện trên khắp các châu lục, sự cầu bầu của ngài tiếp tục đến với những người cần giúp đỡ, vượt qua biên giới, văn hóa và thế hệ.
Một trường hợp điều trị từ Hoa Kỳ.
Luật sư Georgianne Walker, sinh năm 1975 tại South Bend, Indiana, cho biết bà đã trải qua phẫu thuật vùng bụng vào tháng 12 năm 2024, và ngay sau đó bị nhiễm trùng nghiêm trọng ở vùng bụng dưới. Nhiễm trùng gây ra đau đớn dữ dội và lo lắng kéo dài, sau sáu tuần điều trị bằng kháng sinh. Mặc dù các triệu chứng dần thuyên giảm, vết mổ vẫn hở, viêm nhiễm và không lành.
Mặc dù được bác sĩ phẫu thuật và các chuyên gia y tế khác theo dõi sát sao, vết thương của bà vẫn không có dấu hiệu cải thiện. Trong 10 tháng, Walker phải thay băng hàng ngày do chảy máu liên tục. Vì không có tiến triển, bác sĩ phẫu thuật cuối cùng kết luận rằng cần phải phẫu thuật lần thứ hai để loại bỏ mô bị viêm và lên lịch cho ca phẫu thuật mới.
Vào tháng 9 năm 2025, Walker kể rằng bà đã được George Issa, một người bạn Li Băng, đến thăm. Issa đã được chữa lành nhờ sự cầu bầu của Thánh Charbel Makhlouf ba năm trước đó. Issa mang theo một lọ dầu nhỏ có liên quan đến vị thánh và khuyến khích bà cầu nguyện xin ngài can thiệp và xức dầu đó lên vết thương của mình.
Việc sử dụng dầu thánh đã là một tập tục lâu đời trong truyền thống Kitô giáo Đông phương và vẫn tiếp tục đến ngày nay. Trong trường hợp của Thánh Charbel, phong tục cổ xưa này vẫn được duy trì một cách tích cực. Các tu sĩ tại Tu viện Thánh Maron ở Annaya tiếp tục làm phép dầu bằng cách sử dụng thánh tích của vị thánh và phân phát cho các tín hữu cầu xin sự cầu bầu của ngài để được chữa lành và các ơn lành khác.
Bà Walker cho biết bà đã cầu nguyện và thoa dầu lên vết thương, sau đó vết thương đã lành hoàn toàn. Bà cho biết mình đã hồi phục hoàn toàn và không còn cần phải phẫu thuật theo lịch trình nữa. Bà nói rằng bà tin sự chữa lành này là nhờ sự cầu bầu của Thánh Charbel và bày tỏ lòng biết ơn đối với cả vị thánh và Issa vì điều mà bà mô tả là một sự kiện thay đổi cuộc đời.
Việc hồi phục đã được chính thức tiến bước vào ngày 17 tháng Giêng.
Một trường hợp hồi phục không rõ nguyên nhân y khoa ở Li Băng.
Phép lạ thứ hai được ghi nhận trong năm được kể lại bởi Racha Charbel (không rõ có quan hệ họ hàng với Thánh Charbel hay không), cô sinh năm 1987 tại Jezzine, một thị trấn miền núi ở miền nam Li Băng.
Racha vào bệnh viện vào ngày 1 tháng 10 năm 2025 sau khi bị đau lưng dữ dội. Kết quả chụp cộng hưởng từ, gọi tắt là MRI dưới sự giám sát của bác sĩ điều trị, Tiến sĩ Christian Atiya, một chuyên gia về phẫu thuật thần kinh và phẫu thuật mạch máu, cho thấy một khối u ở cột sống được xác định là u màng não, có kích thước dài 2,3 cm và dày 0,3 cm.
Theo bác sĩ của cô, khối u không đáp ứng với thuốc, gây nguy hiểm cho các dây thần kinh và mạch máu cột sống, và chỉ có thể được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ. Một cuộc chụp MRI tiếp theo đã được lên lịch ba tháng sau đó để theo dõi sự tiến triển của khối u, và ngày vào bệnh viện dự kiến là ngày 7 Tháng Giêng năm 2026, nếu cần phải phẫu thuật.
Racha kể lại rằng vào đêm 6 tháng Giêng, một bức tranh Thánh Charbel được treo phía trên giường cô. Cô nói rằng cô đã đặt tay lên bức tranh và cầu xin được chữa lành trước khi ngủ.
Sáng ngày 7 tháng Giêng, cô quay lại bệnh viện để chụp MRI lần nữa. Cô được thông báo rằng cuộc kiểm tra sẽ mất khoảng 45 phút và có thể kéo dài hơn nếu cần. Quá trình chụp hoàn tất trong khoảng 20 phút và cho thấy một phát hiện bất ngờ: Khối u đã biến mất hoàn toàn.
Theo lời Racha, bác sĩ của cô nói rằng không có lời giải thích y học nào cho sự biến mất đó và khối u như vậy không thể biến mất nếu không phẫu thuật.
Ngày 17 tháng Giêng, Racha Charbel đã đến thăm Tu viện Thánh Maron ở Annaya để tạ ơn, nơi cô chính thức báo cáo việc được chữa lành và nộp các báo cáo y tế liên quan. Sau đó, cô cho biết trải nghiệm này đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời cô và củng cố thêm đức tin của cô.
Một vị thánh và dòng sông của lòng thương xót
Vị thánh người Li Băng, một linh mục và tu sĩ ẩn dật thuộc nghi lễ Maronite, được biết đến rộng rãi nhờ những lời cầu bầu được tường trình do ngài ban tặng cho người Công Giáo, người Hồi giáo và tín hữu của các tôn giáo khác như Druze.
Thánh Charbel qua đời vào ngày 24 tháng 12 năm 1898. Ngài được Giáo hoàng Phaolô VI phong chân phước vào ngày 5 tháng 12 năm 1965 và được chính vị giáo hoàng này phong thánh vào ngày 9 tháng 10 năm 1977.
Tháng 12 năm 2025, Giáo hoàng Lêô XIV trở thành vị giáo hoàng đầu tiên đến thăm mộ Thánh Charbel trong chuyến đi đến Li Băng.
Trong chuyến thăm, Đức Giáo Hoàng đã mô tả sự cầu bầu của vị thánh như “một dòng sông thương xót”, đặc biệt nhắc đến cuộc hành hương hàng tháng được tổ chức vào ngày 22 mỗi tháng để tưởng nhớ phép lạ được ban cho một người phụ nữ tên là Nouhad El Chami — một lòng sùng kính tiếp tục thu hút hàng ngàn người hành hương.
Source:EWTN