203. VỀ CÙNG EM MIỆT DƯỚI
Tôi đến thăm em một buổi sáng đẹp trời, con xuồng tác ráng nhắm hướng Đồng Tháp, rẽ lục bình lướt tới, chở theo bao mộng ước.
Kìa hàng dừa soi bóng nước, có cây vươn thẳng lên trời xanh, có cây oằn mình xuống như muốn vờn với sóng nước Cửu Long. Mùa xoài đã đến, những giây xoài xanh lủng lẳng, rung rinh trong cơn gió sớm tạo nên một hình ảnh quê hương đẹp như mộng.
Nhưng vẫn không lãng mạng cho bằng hình ảnh cô thôn nữ xõa suối tóc đen lánh gội đầu bên bến nước một buổi sáng mùa xuân. Thật là ai khuấy nước, cho lòng ta dậy sóng? May thay, chỉ vài thước sau đó, cũng bên bến nước khác, một bà mẹ quê ngồi bồng thằng con nhỏ xi cho nó ấy ngay vào lòng sông!!! Cách đó vài bến, lũ trẻ thơ đang đợi đò sang sông đi học, vừa ăn vừa xả rác vào giòng sông.
Một giòng sông với biết bao nhiệm vụ!
Và cũng chính giòng sông ấy đưa tôi về bên em, mãi tận chốn nước mặn đồng chua, chốn trâu heo cũng ngủ mùng!
*****
Tôi nhớ mãi hình ảnh em xăm xăm từ ruộng lúa, tay giơ cao chiếc liềm hái, miệng gào lớn như át cả tiếng gió Chú Năm! Chú Năm!, rồi chạy vội lên con đường đất gồ ghề, đầy dẫy ổ gà, ổ nào ổ nấy to như ổ voi, để níu lấy tay tôi dìu vào ruộng!
Miệng em cười để lộ hai hàm răng trắng như ngà, mọc thật đều, không thua gì hình ảnh quảng cáo kem Hynos thuở xa xưa. Thật là chuyện lạ ở vùng phèn chua nước lợ này. Hai hàm răng quý giá này lại càng nổi bật vì nước da em chung màu với đất ruộng, khiến khách lạ tưởng chừng em là con gái gốc Miên.
Xuống đến ruộng, em oang oang giải thích thế nào là vụ Đông-Xuân, lúc nào vào Hè-Thu, khi nào mùa nước lại đến. Tay chỉ những cụm lúa vừa gặt, em than thở: Đáng lẽ, sau mỗi trận lụt lớn, phải được mùa, nhưng năm nay, chỉ vì vài trận mưa trái mùa, mà ruộng em không gặt được nhiều, thêm vào đó giá lúa năm nay xuống còn có 1,100 đồng một kí!
Chỉ trong phút chốc, em trở thành cô giáo nông trường, và tôi biến thành tên học trò khờ khạo từ thành phố về quê. Thật là một cuộc đảo lộn thích thú!
Em và bạn bè dạy tôi nhiều lắm. Nào là sạ lúa, xuốt lúa, phơi lúa, nào là tác ráng, dỏ, đò, ghe. Nhưng đặc biệt là lòng hiếu khách và tính hiếu học của các em.
Mỗi tối, sau khi mần guộng xong, em và bạn bè - các giáo lý viên miền quê - ăn vội ba hột cơm, rồi đạp xe hơn nửa giờ để đến học Kinh Thánh và Sư Phạm Giáo Lý với tôi ở Trường Tình Thương. Học xong, các em ngủ lại bên nhà thờ, và sáng mai, 4 giờ lại đạp xe ra đồng mần guộng. Mỗi em (52 em tất cả) được tặng một cuốn Kinh Thánh trọn bộ, các em quý và thích học Kinh Thánh lắm.
Hôm cuối khóa, giờ chia tay, em rưng rưng nước mắt dặn tôi:
- Lần tới chú Năm dìa, nhớ dìa mùa nước, chứ đừng dìa mùa lúa nghe!
Tôi thầm nghĩ, chắc các em sẽ rảnh rỗi hơn để mang tôi rong chơi, hoặc các em có giờ nhiều hơn để học thêm Kinh Thánh. Nhưng em đã vội tiếp:
- Dìa mùa nước, chúng con sẽ dẫn chú Năm đi bắn chuột!
Té ra, em tôi mùa nào cũng phải kiếm ăn!
*****
Vùng em tôi sống là vùng đồng chua nước phèn. Phèn nhiều đến độ chỉ có cây cừ tràm và lúa là sống nổi vùng này mà thôi. Những lúc dậy phèn, ngay cả cá cũng phải ngoai ngoải trong kênh, trẻ tha hồ lội xuống bắt khỏi cần lưới!!!
Từ ngày lập làng đến giờ, người dân ở đây chưa bao giờ được một mạch nước ngọt. Nay nhờ một số ân nhân ở San José giúp tiền, chúng tôi đã có thể thuê một công ty nhà nước đến khoan giếng cho dân làng. Lần khoan đầu tiên bị gảy, thợ khoan toan thắp nhan khấn vái, thì cha sở và các dì phước bảo để các ngài vào nhà thờ cầu nguyện cho. Sau đó, thợ khoan lần hai, khi khoan đến độ sâu 283 mét (gần 900 feet) thì mạch nước ngọt, trong lành phọt lên. Đem nước về Cao Lãnh phân chất, thì mọi chất trong nước đều đạt được tiêu chuẩn, còn quá tiêu chuẩn nửa là chứ! Thế là từ nay, dân có thể đến đây kiến nước về uống, khỏi cần nấu lại, khỏi cần lọc, mà nước uống vẫn trong, ngon, ngọt! Chúng tôi cũng đã giúp hoàn thành việc bơm nước lên một chateau deau nhỏ, tuy rằng vùng này chưa có điện! Hiện tại, dân làng đang mong chờ đợt hai: dẫn ống nước đến tận các nhà nghèo trong vùng, thay vì họ phải đến giếng kiến nước.
Nói là nhà, nhưng thật ra chỉ là những cái chòi cỏn con, lợp vài liếp lá, với vài thùng giấy hay mảnh ni-lông làm vách, còn cửa thì hoàn toàn bỏ ngõ, vì có của cải gì đâu mà phải khóa giữ. Nhưng thật ra, trong ấy chứa những báu vật vô giá, trường cửu: CON TIM CON NGƯỜI - Những Đền Thờ Sống Động của Thần Khí! (1Cô-rin-tô 6: 19)
Hôm đào giếng, thấy ông bí thư đảng bộ đi ngang, cha sở bèn mời ông ghé vào xem công trình. Ông bí thư cộng sản tỏ vẻ hài lòng với đóng góp xã hội này. Thấy thế, ông cố (cha sở) bèn gợi ý đề nghị ông bí thư cấp vài công ruộng cho các dì phước mần mà sống. Lạ thay, ông bí thư vui vẻ nhận lời, và hứa sẽ về cứu xét đề nghị này. Mong ông sẽ nghe và làm, chứ không phải nghe và lờ (NVL)!!!
*****
Từ dạo ấy, ông cố vẫn thường đèo tôi sau xe honda của ngài, dạo khắp đường làng, những con đường đất gồ ghề, lồi lõm, đầy cầu. Cứ mỗi lần qua cầu là tay tôi bắm chặt vai ông cố, chỉ vì sợ té xuống sông. Đã té sông một lần rồi, nay tôi ngại lắm! Cầu đường miền quê sau cơn lụt thấy mà sợ. Chân cầu xây bằng cây, nay đã xiêu vẹo. Sàn cầu lót gỗ, miếng còn miếng mất như hàm răng sún. Có lúc tôi đành xin cha sở dừng ở chân cầu và thưa: Cha cho con đi bộ qua bên đó chờ cha!
Chủ tâm của ông cố là chở tôi đi khắp thôn ấp để gián tiếp trình làng, tôi đây là chú Năm, người quen của ông cố, từ thành phố dìa! Thật vậy, trẻ thơ khi thấy tôi, thường la gọi: Chú Năm! Chú Năm! một cách hết sức thân tình theo kiểu Nam Kỳ. Dần dà, người lớn và họ cũng biết tôi là chú Năm, người quen, khỏi cần khai báo tạm trú gì trơn trọi. Ở miệt dưới này, không có bằng cấp nào cao hơn bằng quen, không có giấy tờ nào có hiệu lực cho bằng giấy quen. Lắm khi, chỉ cần làm quen qua vài bữa nhậu. Nhưng may thay, ông cố biết tửu lượng tôi quá kém, nên thói quen văn hóa này được tha, chứ không thì tôi cũng đã xỉn từ phia gồi (say từ khuya rồi!!!)
*****
Cái tên chú Năm mượn để ẩn mình, dần dà trở thành quen thuộc với chính tôi. Hôm chia tay, các em hỏi:
- Chừng nào chú Năm dìa lợi?
Tôi buột miệng đáp ngay:
- Thế nào, chú Năm cũng trở lại!
Và tôi cầu xin Chúa, không phải cho tôi được dịp trở lại một mình, mà sẽ được cùng ANH EM, CHỊ EM khác, cùng chung và liên kết trở về sống giữa, sống cùng, sống cho trẻ nghèo - hiện thân của Chúa Giê-su (Mát-thêu 25: 40), trong lòng dân tộc mà Ngài đã cho tôi yêu say đắm.
- Cầu nguyện
- Quyết tâm
- Dấn thân
Tôi đến thăm em một buổi sáng đẹp trời, con xuồng tác ráng nhắm hướng Đồng Tháp, rẽ lục bình lướt tới, chở theo bao mộng ước.
Kìa hàng dừa soi bóng nước, có cây vươn thẳng lên trời xanh, có cây oằn mình xuống như muốn vờn với sóng nước Cửu Long. Mùa xoài đã đến, những giây xoài xanh lủng lẳng, rung rinh trong cơn gió sớm tạo nên một hình ảnh quê hương đẹp như mộng.
Nhưng vẫn không lãng mạng cho bằng hình ảnh cô thôn nữ xõa suối tóc đen lánh gội đầu bên bến nước một buổi sáng mùa xuân. Thật là ai khuấy nước, cho lòng ta dậy sóng? May thay, chỉ vài thước sau đó, cũng bên bến nước khác, một bà mẹ quê ngồi bồng thằng con nhỏ xi cho nó ấy ngay vào lòng sông!!! Cách đó vài bến, lũ trẻ thơ đang đợi đò sang sông đi học, vừa ăn vừa xả rác vào giòng sông.
Một giòng sông với biết bao nhiệm vụ!
Và cũng chính giòng sông ấy đưa tôi về bên em, mãi tận chốn nước mặn đồng chua, chốn trâu heo cũng ngủ mùng!
*****
Tôi nhớ mãi hình ảnh em xăm xăm từ ruộng lúa, tay giơ cao chiếc liềm hái, miệng gào lớn như át cả tiếng gió Chú Năm! Chú Năm!, rồi chạy vội lên con đường đất gồ ghề, đầy dẫy ổ gà, ổ nào ổ nấy to như ổ voi, để níu lấy tay tôi dìu vào ruộng!
Miệng em cười để lộ hai hàm răng trắng như ngà, mọc thật đều, không thua gì hình ảnh quảng cáo kem Hynos thuở xa xưa. Thật là chuyện lạ ở vùng phèn chua nước lợ này. Hai hàm răng quý giá này lại càng nổi bật vì nước da em chung màu với đất ruộng, khiến khách lạ tưởng chừng em là con gái gốc Miên.
Xuống đến ruộng, em oang oang giải thích thế nào là vụ Đông-Xuân, lúc nào vào Hè-Thu, khi nào mùa nước lại đến. Tay chỉ những cụm lúa vừa gặt, em than thở: Đáng lẽ, sau mỗi trận lụt lớn, phải được mùa, nhưng năm nay, chỉ vì vài trận mưa trái mùa, mà ruộng em không gặt được nhiều, thêm vào đó giá lúa năm nay xuống còn có 1,100 đồng một kí!
Chỉ trong phút chốc, em trở thành cô giáo nông trường, và tôi biến thành tên học trò khờ khạo từ thành phố về quê. Thật là một cuộc đảo lộn thích thú!
Em và bạn bè dạy tôi nhiều lắm. Nào là sạ lúa, xuốt lúa, phơi lúa, nào là tác ráng, dỏ, đò, ghe. Nhưng đặc biệt là lòng hiếu khách và tính hiếu học của các em.
Mỗi tối, sau khi mần guộng xong, em và bạn bè - các giáo lý viên miền quê - ăn vội ba hột cơm, rồi đạp xe hơn nửa giờ để đến học Kinh Thánh và Sư Phạm Giáo Lý với tôi ở Trường Tình Thương. Học xong, các em ngủ lại bên nhà thờ, và sáng mai, 4 giờ lại đạp xe ra đồng mần guộng. Mỗi em (52 em tất cả) được tặng một cuốn Kinh Thánh trọn bộ, các em quý và thích học Kinh Thánh lắm.
Hôm cuối khóa, giờ chia tay, em rưng rưng nước mắt dặn tôi:
- Lần tới chú Năm dìa, nhớ dìa mùa nước, chứ đừng dìa mùa lúa nghe!
Tôi thầm nghĩ, chắc các em sẽ rảnh rỗi hơn để mang tôi rong chơi, hoặc các em có giờ nhiều hơn để học thêm Kinh Thánh. Nhưng em đã vội tiếp:
- Dìa mùa nước, chúng con sẽ dẫn chú Năm đi bắn chuột!
Té ra, em tôi mùa nào cũng phải kiếm ăn!
*****
Vùng em tôi sống là vùng đồng chua nước phèn. Phèn nhiều đến độ chỉ có cây cừ tràm và lúa là sống nổi vùng này mà thôi. Những lúc dậy phèn, ngay cả cá cũng phải ngoai ngoải trong kênh, trẻ tha hồ lội xuống bắt khỏi cần lưới!!!
Từ ngày lập làng đến giờ, người dân ở đây chưa bao giờ được một mạch nước ngọt. Nay nhờ một số ân nhân ở San José giúp tiền, chúng tôi đã có thể thuê một công ty nhà nước đến khoan giếng cho dân làng. Lần khoan đầu tiên bị gảy, thợ khoan toan thắp nhan khấn vái, thì cha sở và các dì phước bảo để các ngài vào nhà thờ cầu nguyện cho. Sau đó, thợ khoan lần hai, khi khoan đến độ sâu 283 mét (gần 900 feet) thì mạch nước ngọt, trong lành phọt lên. Đem nước về Cao Lãnh phân chất, thì mọi chất trong nước đều đạt được tiêu chuẩn, còn quá tiêu chuẩn nửa là chứ! Thế là từ nay, dân có thể đến đây kiến nước về uống, khỏi cần nấu lại, khỏi cần lọc, mà nước uống vẫn trong, ngon, ngọt! Chúng tôi cũng đã giúp hoàn thành việc bơm nước lên một chateau deau nhỏ, tuy rằng vùng này chưa có điện! Hiện tại, dân làng đang mong chờ đợt hai: dẫn ống nước đến tận các nhà nghèo trong vùng, thay vì họ phải đến giếng kiến nước.
Nói là nhà, nhưng thật ra chỉ là những cái chòi cỏn con, lợp vài liếp lá, với vài thùng giấy hay mảnh ni-lông làm vách, còn cửa thì hoàn toàn bỏ ngõ, vì có của cải gì đâu mà phải khóa giữ. Nhưng thật ra, trong ấy chứa những báu vật vô giá, trường cửu: CON TIM CON NGƯỜI - Những Đền Thờ Sống Động của Thần Khí! (1Cô-rin-tô 6: 19)
Hôm đào giếng, thấy ông bí thư đảng bộ đi ngang, cha sở bèn mời ông ghé vào xem công trình. Ông bí thư cộng sản tỏ vẻ hài lòng với đóng góp xã hội này. Thấy thế, ông cố (cha sở) bèn gợi ý đề nghị ông bí thư cấp vài công ruộng cho các dì phước mần mà sống. Lạ thay, ông bí thư vui vẻ nhận lời, và hứa sẽ về cứu xét đề nghị này. Mong ông sẽ nghe và làm, chứ không phải nghe và lờ (NVL)!!!
*****
Từ dạo ấy, ông cố vẫn thường đèo tôi sau xe honda của ngài, dạo khắp đường làng, những con đường đất gồ ghề, lồi lõm, đầy cầu. Cứ mỗi lần qua cầu là tay tôi bắm chặt vai ông cố, chỉ vì sợ té xuống sông. Đã té sông một lần rồi, nay tôi ngại lắm! Cầu đường miền quê sau cơn lụt thấy mà sợ. Chân cầu xây bằng cây, nay đã xiêu vẹo. Sàn cầu lót gỗ, miếng còn miếng mất như hàm răng sún. Có lúc tôi đành xin cha sở dừng ở chân cầu và thưa: Cha cho con đi bộ qua bên đó chờ cha!
Chủ tâm của ông cố là chở tôi đi khắp thôn ấp để gián tiếp trình làng, tôi đây là chú Năm, người quen của ông cố, từ thành phố dìa! Thật vậy, trẻ thơ khi thấy tôi, thường la gọi: Chú Năm! Chú Năm! một cách hết sức thân tình theo kiểu Nam Kỳ. Dần dà, người lớn và họ cũng biết tôi là chú Năm, người quen, khỏi cần khai báo tạm trú gì trơn trọi. Ở miệt dưới này, không có bằng cấp nào cao hơn bằng quen, không có giấy tờ nào có hiệu lực cho bằng giấy quen. Lắm khi, chỉ cần làm quen qua vài bữa nhậu. Nhưng may thay, ông cố biết tửu lượng tôi quá kém, nên thói quen văn hóa này được tha, chứ không thì tôi cũng đã xỉn từ phia gồi (say từ khuya rồi!!!)
*****
Cái tên chú Năm mượn để ẩn mình, dần dà trở thành quen thuộc với chính tôi. Hôm chia tay, các em hỏi:
- Chừng nào chú Năm dìa lợi?
Tôi buột miệng đáp ngay:
- Thế nào, chú Năm cũng trở lại!
Và tôi cầu xin Chúa, không phải cho tôi được dịp trở lại một mình, mà sẽ được cùng ANH EM, CHỊ EM khác, cùng chung và liên kết trở về sống giữa, sống cùng, sống cho trẻ nghèo - hiện thân của Chúa Giê-su (Mát-thêu 25: 40), trong lòng dân tộc mà Ngài đã cho tôi yêu say đắm.
- Cầu nguyện
- Quyết tâm
- Dấn thân