Không ở đâu khác, điều học làm người trước tiên là ở gia đình, cũng không ở đâu khác, điều học để sống là hiếu đễ. Hiếu là thảo kính cha mẹ, đễ là yêu mến anh chị em. Hiếu như chiều dọc và đễ như chiều ngang. Con người có hai chiều kich chiều dọc và chiều ngang, đầu đội trời và chân đạp đất. Có là người hiếu đễ mới sống xứng với phẩm cách của con người. Sách Luận ngữ là cuốn sách ghi chép lại những lời nói của Khổng phu Tử. Từ thiên đầu tiên vào sách Khổng Tử đã nhấn mạnh đến việc học đạo làm người, cùng học nền tảng của đạo đức. Hiếu với cha mẹ và yêu mến anh chị em là gốc của đạo nhân và là nền của đạo đức.
Mạnh Vũ Bá hỏi đạo hiếu, Khổng Tử đáp: “phụ mẫu duy kỳ tật chi ưu”; cha mẹ chỉ lo cho con có bệnh tật.
Cha mẹ lo cho con đủ điều, trong các điều lo nhất theo Khổng Tử dạy cho Mạnh Vũ Bá là cái lo cho con bị bệnh tật. Theo chú giải của Chu Hy, Mạnh Vũ Bá là con nhà giàu sang, chơi bời quá độ, thường hay đau ốm, nên Khổng Tử dạy cho như thế. Như vậy, trong trường hợp này, hiếu có nghĩa là phải giữ gìn thân xác và tinh thần mà mẹ cha đã cho ta. Giữ gìn và làm cho thân này sáng trong chứ không làm cho thân này phải hư đi là một điều hiếu. Giữ cho thân này khỏi hư, tránh cho thân này khỏi điều xấu, và làm cho thân này được mọi người tôn trọng là hiếu.
Hiếu không chỉ là dưỡng mà còn là kính. “Tử Du vãn hiếu, Tử viết: “Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng, chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ”. Trần Trọng Kim dịch chương thứ bảy này như sau: “Hiếu ngày nay là bảo có thể nuôi được cha mẹ; đến như giống chó giống ngựa đều có người nuôi, nuôi mà không kính thì lấy gì mà phân biệt?”. Phan Bội Châu thì dịch: “người con hiếu ở đời nay, thông thường chỉ khen ở việc hay phụng dưỡng cha mẹ. tuy nhiên, chỉ biết một việc hay nuôi mà thôi, thời thử xem người trong một nhà, từ chức phận người làm con trở xuống, cho đến như con chó con ngựa, nó cũng biết đem năng lực của nó mà cung phụng chủ nhà, thảy hay có một cách nuôi người cả. nếu như con nuôi cha mẹ mà không biết cung kính, lấy gì khác được chó ngựa nữa ư?”. Lòng thành kính không hệ tại ở việc giàu nghèo, ai cũng có thể thành kính, người có lòng thành kính dẫu có dưỡng cha mẹ bằng gạo xấu, uống nước lã, thì cha mẹ vẫn vui. Lòng thành kính hoàn thành chữ hiếu. Phụng dưỡng với lòng thành kính không là bố thí với sắc mặt nhăn nhó, miễn cưỡng, Hiếu kính xuất phát từ thực tâm, tự nguyện, người Việt hay thường dùng chữ phải ngay cả khi tự nguyện làm những việc tốt. Điều tự nguyện, thực tâm không là bắt buộc, không dùng chữ phải, mà là niềm vui thúc đẩy. Ở chương tám ngay sau khi nói về lòng thành kính, Khổng Tử còn dạy cho Tử Hạ biết thêm lòng thành kính ấy còn được tỏ lộ qua sắc mặt trong khi phụng dưỡng cha mẹ, nhất là khi gặp hoàn cảnh khó khăn: “Tử hạ hỏi đạo hiếu: Khổng Tử đáp: “Khi thờ cha mẹ, duy có sắc mặt (hoà vui) là khó”. Sách Lễ ký, Khổng Tử bàn thêm: “Xuyết thúc ẩm thuỷ, tận kỳ hoan, tư chi vị hiếu”.
Người Hiếu kính những sợ thời gian trôi mau, tuổi già của cha mẹ đến sớm, biết để mừng tuổi cha mẹ nhưng cũng biết để lo sợ thời gian đến mau: “phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dã; nhất tắc dĩ hỷ, nhất tắc dĩ cụ”. Tuổi của cha mẹ, không nên không biết: một là để mừng, một là để sợ. Vừa mừng vừa sợ, mừng vì cha mẹ còn thọ với con cháu, vừa sợ vì ngày của cha mẹ gần kề. Mỗi ngày càng tiến đến gần hơn sự chết. Thông thường, lòng hiếu đạo của người bình dân kỵ chữ chết, họ thường nói ngày mất, ngày về, ngày ra đi… để tránh từ chết.
Chính vì quý mến những thời gian khi cha mẹ còn sống mà người con hiếu thảo có hai điều chú ý: một là vô vi (Không trái lễ khi phụng hiếu trong cảnh thường) và hai là vô cải (Không thay đổi ngay cái đạo của cha mẹ khi cảnh biến). Khổng Tử viết : “Tam niên vô cải ư phụ chi đạo khả vi hiếu hỷ”; Trong ba năm không thay đổi đạo của cha, đáng gọi là hiếu vậy. Tại sao là ba năm? đó là thời gian thọ tang cha mẹ mà người con hiếu kính ghi nhớ.
Vô vi, Khổng Tử trả lời Mạnh Ý Tử khi hỏi hiếu. Phàn Trì không hiểu thế nào là vô vi, nên hỏi lại, Khổng Tử cho hay: “sinh sự chi dĩ lễ. Tử táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ”; “cha mẹ sống, phụng sự cho hợp lễ. Cha mẹ mất, tống táng cho hợp lễ; tế cho hợp lễ”. Lễ là trọng tâm của việc thực hành hiếu. người con phụng hiếu có Lễ là người con một lòng trước như sau, tôn kính hết lòng, lúc giàu cũng như lúc nghèo, lúc cha mẹ còn sống cũng như khi cha mẹ qua đời. Tuỳ theo hoàn cảnh mà giữ lễ cho trung dung, không thái quá cũng như không bất cập, một vừa hai phải mà không trái lễ.
Lấy Lễ phụng hiếu còn đòi buộc người con có hiếu lấy lẽ phải mà theo, hoặc nếu cha mẹ làm sai trái, có lỗi, người con cần nhẹ nhàng lấy lẽ phải mà can gián, không hùa theo cái sai lỗi của cha mẹ là người con có hiếu. “Sự phụ mẫu ky gián, kiến chí bất tòng, hựu kính bất nghịch; lao nhi bất oán”. Biết cha mẹ làm sai là phụng, không theo cha mẹ làm sai là dưỡng, dùng lời nhẹ nhàng khuyên ngăn là hiếu, dù khuyên ngăn cha mẹ không nghe theo mà vẫn một lòng yêu kính là tôn chỉ của đạo hiếu. Đạo hiếu là như thế, như một kỷ cương để uốn nắn chính bản thân của người con hiếu. Đường đi của Hiếu đạo là lẽ phải, không thiên về tình cảm, để nói cái sai là điều đúng.
Hiếu không phải cứ cha làm là con theo, cứ vua làm là quân hành. Sách Nho Giáo của Trần Trọng Kim có bàn: Ai Công nước Lỗ, có lần hỏi Khổng Tử: “Con theo mệnh cha có phải là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là Trung không?” hỏi đến ba lần Khổng Tử không đáp. Ra ngoài Khổng Tử hỏi thầy Tử Cống, Tử Cống thưa: “Con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là trung, còn ngờ gì nữa” - Khổng Tử nói: “ngươi không biết gì. đời xưa vua minh quân làm vua nước vạn thặng có tránh thần bảy người, thì vua không làm điều lỗi; làm vua nước thiện thặng, có tránh thần ba người, thì lộc vị không suy. Cha có tránh tử, thì không hãm vào điều vô lễ; kẻ sĩ có tránh hữu, thì không làm điều bất nghĩa. Cho nên con theo mệnh cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há là đã trung. Chỉ có biết xét cái đáng theo mà theo, mới gọi là hiếu, là trung vậy”. Đạo hiếu không dạy người con làm sai, cũng không dạy vì nghĩa mà làm sai, cứ đường ngay chính trực mà đi. Sai thì uốn, lỗi thì sửa, ấy cũng là tính cách của người quân tử.
Thế nhưng, có một điều tế nhị khác Khổng Tử dạy đạo hiếu cũng cần giữ đạo Trung Dung. Diệp Công hỏi Khổng Tử: “xóm chúng tôi có người cứ lấy cái thẳng mà khiến mình; cha đi ăn trộm dê, mà con đi làm chứng”. Khổng Tử trả lời: “người hàng xóm chúng tôi khác thế; cha che chở cho con, con che chở cho cha, cái trực ở trong đó vậy”. Nói thế, Khổng Tử muốn dạy học trò: Đừng lấy cái điều dậy mà bêu xấu nhau; “cha che chở con, con che chở cha”; ở đây, Khổng Tử muốn nói rằng ngoài sự thật còn một nghĩa vụ khác, là tôn trọng phẩm giá của nhau. Cha che chở phẩm giá cho con, con che chở phẩm giá cho cha. Can gián, nhưng cẩn thận giữ gìn phẩm giá của người được sửa dậy. Như vậy, hàm ý khi sửa dậy cho nhau cần có sự riêng tư, không công khai ồn ào, không công khai chống phá, không làm mất danh dự của một con người. Con người chính trực là thế, nếu thiếu trung dung, thiếu tế nhị con người sẽ làm mất phẩm giá của nhau. Cha sẽ kiện con và con sẽ kiện cha làm mất đi con đường ngay của hiếu. Không vì hiềm oán mà bôi lọ, làm xấu nhau, nhưng vì nghĩa mà chỉ bảo, uốn nắn, hướng dẫn nhau. Người sửa dậy và người được sửa dậy đều được tôn trọng như nhau. Thiếu tôn trọng, con người làm cái đúng này lại vấp phải một cái sai khác. Đây là cái lẽ của đạo hiếu, sống hiếu mà đạt nhân, sống nhân mà đạt hiếu, Khổng Tử nói: “người quân tử hậu với cha mẹ thì dân hứng khởi làm điếu nhân; không bỏ sót những người cố cựu, thì dân không có bạc tục”.
Gốc của đạo nhân là ái và kính, lấy ái và kính làm nền cho hiếu đễ thì đạo hiếu phát triển, Khổng Tử nói: “Dựng lòng ái khởi từ cha mẹ, là dạy dân hoá mục vậy. Dựng lòng kính khởi đầu từ người huynh trưởng, là dạy dân kính thuận vậy. Lấy từ mục mà dạy dân, thì dân quý có cha mẹ; lấy kính người huynh trưởng mà dạy dân, thì dân biết quý sự theo mệnh lệnh người trên. Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận là để vâng mệnh người trên, đem những điều ấy mà thi thố ra thiên hạ, thì không có điều gì mà không làm được” (Lễ ký: Tế nghĩa, XXIV). Khổng Tử xây dựng ái theo chiều hướng từ cha mẹ, kính từ người huynh trưởng là bao gồm cho hiếu và đễ. Ái và kính đều xuất phát từ trong gia đình, gia đình không còn ái và kính thì không còn Lễ của đạo nhân. Muốn xây dựng lòng ái và kính là xây dựng từ trong tế bào gia đình, không có gia đình sẽ mất ngọn nguồn của tình thương và lòng kính. Khoa học tâm lý ngày nay phát triển đã chứng minh, nhân cách của một con người là được định hình ngay khi đứa trẻ lớn lên trong gia đình từ khi thai nhi cho đến khi trưởng thành. Muốn giữ lấy đạo nhân là giữ lấy cái đạo trong gia đình, mà đạo trong gia đình là đạo hiếu đễ. Củng cố đạo hiếu là củng cố lại giá trị của gia đình. Muốn xây dựng gì thì xây dựng nhưng không thể bỏ qua việc xây dựng những giá trị từ trong gia đình. Gia đình, nơi đó, con người bắt đầu là người và làm người. Không có gia đình, con người sẽ là mồ côi, cô đơn, lạc lõng, kình địch, thù oán, ghen ghét, khủng bố, chém giết. Học lấy đạo hiếu là học đào tạo lấy lòng ái và kính để hình thành đạo làm người, làm cha mẹ, làm người huynh trưởng và làm con.
Sống hiếu đễ theo Khổng Tử là đạt đạo nhân, sống đạt đạo nhân là đạt đạo hiếu đễ. Không chú trọng hình thức “giàu sang sinh lễ nghĩa” nhưng cần thành thực, giản dị sống với nhau. Người thực tâm muốn sống ngay thẳng và thực tâm yêu thương người khác là người có đạo nhân và có đạo hiếu.
Mạnh Vũ Bá hỏi đạo hiếu, Khổng Tử đáp: “phụ mẫu duy kỳ tật chi ưu”; cha mẹ chỉ lo cho con có bệnh tật.
Cha mẹ lo cho con đủ điều, trong các điều lo nhất theo Khổng Tử dạy cho Mạnh Vũ Bá là cái lo cho con bị bệnh tật. Theo chú giải của Chu Hy, Mạnh Vũ Bá là con nhà giàu sang, chơi bời quá độ, thường hay đau ốm, nên Khổng Tử dạy cho như thế. Như vậy, trong trường hợp này, hiếu có nghĩa là phải giữ gìn thân xác và tinh thần mà mẹ cha đã cho ta. Giữ gìn và làm cho thân này sáng trong chứ không làm cho thân này phải hư đi là một điều hiếu. Giữ cho thân này khỏi hư, tránh cho thân này khỏi điều xấu, và làm cho thân này được mọi người tôn trọng là hiếu.
Hiếu không chỉ là dưỡng mà còn là kính. “Tử Du vãn hiếu, Tử viết: “Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng, chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ”. Trần Trọng Kim dịch chương thứ bảy này như sau: “Hiếu ngày nay là bảo có thể nuôi được cha mẹ; đến như giống chó giống ngựa đều có người nuôi, nuôi mà không kính thì lấy gì mà phân biệt?”. Phan Bội Châu thì dịch: “người con hiếu ở đời nay, thông thường chỉ khen ở việc hay phụng dưỡng cha mẹ. tuy nhiên, chỉ biết một việc hay nuôi mà thôi, thời thử xem người trong một nhà, từ chức phận người làm con trở xuống, cho đến như con chó con ngựa, nó cũng biết đem năng lực của nó mà cung phụng chủ nhà, thảy hay có một cách nuôi người cả. nếu như con nuôi cha mẹ mà không biết cung kính, lấy gì khác được chó ngựa nữa ư?”. Lòng thành kính không hệ tại ở việc giàu nghèo, ai cũng có thể thành kính, người có lòng thành kính dẫu có dưỡng cha mẹ bằng gạo xấu, uống nước lã, thì cha mẹ vẫn vui. Lòng thành kính hoàn thành chữ hiếu. Phụng dưỡng với lòng thành kính không là bố thí với sắc mặt nhăn nhó, miễn cưỡng, Hiếu kính xuất phát từ thực tâm, tự nguyện, người Việt hay thường dùng chữ phải ngay cả khi tự nguyện làm những việc tốt. Điều tự nguyện, thực tâm không là bắt buộc, không dùng chữ phải, mà là niềm vui thúc đẩy. Ở chương tám ngay sau khi nói về lòng thành kính, Khổng Tử còn dạy cho Tử Hạ biết thêm lòng thành kính ấy còn được tỏ lộ qua sắc mặt trong khi phụng dưỡng cha mẹ, nhất là khi gặp hoàn cảnh khó khăn: “Tử hạ hỏi đạo hiếu: Khổng Tử đáp: “Khi thờ cha mẹ, duy có sắc mặt (hoà vui) là khó”. Sách Lễ ký, Khổng Tử bàn thêm: “Xuyết thúc ẩm thuỷ, tận kỳ hoan, tư chi vị hiếu”.
Người Hiếu kính những sợ thời gian trôi mau, tuổi già của cha mẹ đến sớm, biết để mừng tuổi cha mẹ nhưng cũng biết để lo sợ thời gian đến mau: “phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dã; nhất tắc dĩ hỷ, nhất tắc dĩ cụ”. Tuổi của cha mẹ, không nên không biết: một là để mừng, một là để sợ. Vừa mừng vừa sợ, mừng vì cha mẹ còn thọ với con cháu, vừa sợ vì ngày của cha mẹ gần kề. Mỗi ngày càng tiến đến gần hơn sự chết. Thông thường, lòng hiếu đạo của người bình dân kỵ chữ chết, họ thường nói ngày mất, ngày về, ngày ra đi… để tránh từ chết.
Chính vì quý mến những thời gian khi cha mẹ còn sống mà người con hiếu thảo có hai điều chú ý: một là vô vi (Không trái lễ khi phụng hiếu trong cảnh thường) và hai là vô cải (Không thay đổi ngay cái đạo của cha mẹ khi cảnh biến). Khổng Tử viết : “Tam niên vô cải ư phụ chi đạo khả vi hiếu hỷ”; Trong ba năm không thay đổi đạo của cha, đáng gọi là hiếu vậy. Tại sao là ba năm? đó là thời gian thọ tang cha mẹ mà người con hiếu kính ghi nhớ.
Vô vi, Khổng Tử trả lời Mạnh Ý Tử khi hỏi hiếu. Phàn Trì không hiểu thế nào là vô vi, nên hỏi lại, Khổng Tử cho hay: “sinh sự chi dĩ lễ. Tử táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ”; “cha mẹ sống, phụng sự cho hợp lễ. Cha mẹ mất, tống táng cho hợp lễ; tế cho hợp lễ”. Lễ là trọng tâm của việc thực hành hiếu. người con phụng hiếu có Lễ là người con một lòng trước như sau, tôn kính hết lòng, lúc giàu cũng như lúc nghèo, lúc cha mẹ còn sống cũng như khi cha mẹ qua đời. Tuỳ theo hoàn cảnh mà giữ lễ cho trung dung, không thái quá cũng như không bất cập, một vừa hai phải mà không trái lễ.
Lấy Lễ phụng hiếu còn đòi buộc người con có hiếu lấy lẽ phải mà theo, hoặc nếu cha mẹ làm sai trái, có lỗi, người con cần nhẹ nhàng lấy lẽ phải mà can gián, không hùa theo cái sai lỗi của cha mẹ là người con có hiếu. “Sự phụ mẫu ky gián, kiến chí bất tòng, hựu kính bất nghịch; lao nhi bất oán”. Biết cha mẹ làm sai là phụng, không theo cha mẹ làm sai là dưỡng, dùng lời nhẹ nhàng khuyên ngăn là hiếu, dù khuyên ngăn cha mẹ không nghe theo mà vẫn một lòng yêu kính là tôn chỉ của đạo hiếu. Đạo hiếu là như thế, như một kỷ cương để uốn nắn chính bản thân của người con hiếu. Đường đi của Hiếu đạo là lẽ phải, không thiên về tình cảm, để nói cái sai là điều đúng.
Hiếu không phải cứ cha làm là con theo, cứ vua làm là quân hành. Sách Nho Giáo của Trần Trọng Kim có bàn: Ai Công nước Lỗ, có lần hỏi Khổng Tử: “Con theo mệnh cha có phải là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là Trung không?” hỏi đến ba lần Khổng Tử không đáp. Ra ngoài Khổng Tử hỏi thầy Tử Cống, Tử Cống thưa: “Con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là trung, còn ngờ gì nữa” - Khổng Tử nói: “ngươi không biết gì. đời xưa vua minh quân làm vua nước vạn thặng có tránh thần bảy người, thì vua không làm điều lỗi; làm vua nước thiện thặng, có tránh thần ba người, thì lộc vị không suy. Cha có tránh tử, thì không hãm vào điều vô lễ; kẻ sĩ có tránh hữu, thì không làm điều bất nghĩa. Cho nên con theo mệnh cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há là đã trung. Chỉ có biết xét cái đáng theo mà theo, mới gọi là hiếu, là trung vậy”. Đạo hiếu không dạy người con làm sai, cũng không dạy vì nghĩa mà làm sai, cứ đường ngay chính trực mà đi. Sai thì uốn, lỗi thì sửa, ấy cũng là tính cách của người quân tử.
Thế nhưng, có một điều tế nhị khác Khổng Tử dạy đạo hiếu cũng cần giữ đạo Trung Dung. Diệp Công hỏi Khổng Tử: “xóm chúng tôi có người cứ lấy cái thẳng mà khiến mình; cha đi ăn trộm dê, mà con đi làm chứng”. Khổng Tử trả lời: “người hàng xóm chúng tôi khác thế; cha che chở cho con, con che chở cho cha, cái trực ở trong đó vậy”. Nói thế, Khổng Tử muốn dạy học trò: Đừng lấy cái điều dậy mà bêu xấu nhau; “cha che chở con, con che chở cha”; ở đây, Khổng Tử muốn nói rằng ngoài sự thật còn một nghĩa vụ khác, là tôn trọng phẩm giá của nhau. Cha che chở phẩm giá cho con, con che chở phẩm giá cho cha. Can gián, nhưng cẩn thận giữ gìn phẩm giá của người được sửa dậy. Như vậy, hàm ý khi sửa dậy cho nhau cần có sự riêng tư, không công khai ồn ào, không công khai chống phá, không làm mất danh dự của một con người. Con người chính trực là thế, nếu thiếu trung dung, thiếu tế nhị con người sẽ làm mất phẩm giá của nhau. Cha sẽ kiện con và con sẽ kiện cha làm mất đi con đường ngay của hiếu. Không vì hiềm oán mà bôi lọ, làm xấu nhau, nhưng vì nghĩa mà chỉ bảo, uốn nắn, hướng dẫn nhau. Người sửa dậy và người được sửa dậy đều được tôn trọng như nhau. Thiếu tôn trọng, con người làm cái đúng này lại vấp phải một cái sai khác. Đây là cái lẽ của đạo hiếu, sống hiếu mà đạt nhân, sống nhân mà đạt hiếu, Khổng Tử nói: “người quân tử hậu với cha mẹ thì dân hứng khởi làm điếu nhân; không bỏ sót những người cố cựu, thì dân không có bạc tục”.
Gốc của đạo nhân là ái và kính, lấy ái và kính làm nền cho hiếu đễ thì đạo hiếu phát triển, Khổng Tử nói: “Dựng lòng ái khởi từ cha mẹ, là dạy dân hoá mục vậy. Dựng lòng kính khởi đầu từ người huynh trưởng, là dạy dân kính thuận vậy. Lấy từ mục mà dạy dân, thì dân quý có cha mẹ; lấy kính người huynh trưởng mà dạy dân, thì dân biết quý sự theo mệnh lệnh người trên. Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận là để vâng mệnh người trên, đem những điều ấy mà thi thố ra thiên hạ, thì không có điều gì mà không làm được” (Lễ ký: Tế nghĩa, XXIV). Khổng Tử xây dựng ái theo chiều hướng từ cha mẹ, kính từ người huynh trưởng là bao gồm cho hiếu và đễ. Ái và kính đều xuất phát từ trong gia đình, gia đình không còn ái và kính thì không còn Lễ của đạo nhân. Muốn xây dựng lòng ái và kính là xây dựng từ trong tế bào gia đình, không có gia đình sẽ mất ngọn nguồn của tình thương và lòng kính. Khoa học tâm lý ngày nay phát triển đã chứng minh, nhân cách của một con người là được định hình ngay khi đứa trẻ lớn lên trong gia đình từ khi thai nhi cho đến khi trưởng thành. Muốn giữ lấy đạo nhân là giữ lấy cái đạo trong gia đình, mà đạo trong gia đình là đạo hiếu đễ. Củng cố đạo hiếu là củng cố lại giá trị của gia đình. Muốn xây dựng gì thì xây dựng nhưng không thể bỏ qua việc xây dựng những giá trị từ trong gia đình. Gia đình, nơi đó, con người bắt đầu là người và làm người. Không có gia đình, con người sẽ là mồ côi, cô đơn, lạc lõng, kình địch, thù oán, ghen ghét, khủng bố, chém giết. Học lấy đạo hiếu là học đào tạo lấy lòng ái và kính để hình thành đạo làm người, làm cha mẹ, làm người huynh trưởng và làm con.
Sống hiếu đễ theo Khổng Tử là đạt đạo nhân, sống đạt đạo nhân là đạt đạo hiếu đễ. Không chú trọng hình thức “giàu sang sinh lễ nghĩa” nhưng cần thành thực, giản dị sống với nhau. Người thực tâm muốn sống ngay thẳng và thực tâm yêu thương người khác là người có đạo nhân và có đạo hiếu.