Suy tư nhân ngày Chúa nhật Truyền Giáo 23-10-2005:
MỘT THOÁNG CHÂN DUNG NGƯỜI TRUYỀN GIÁO
Đọc lại Thư mục vụ năm 2003 (TMV2003) về chủ đề Truyền Giáo (phần II, số 9) của Hội Đồng Giám Mục VN ban hành ngày 10-10-2003, ta thấy có đoạn viết như sau :
“Việc truyền giáo phải đặt nền tảng trên lời cầu nguyện và thái độ sẵn sàng dấn thân lên đường theo Đức Kitô, dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên để chân lý Phúc Âm trở nên trong suốt, dễ hiểu, dễ đón nhận, ta phải dùng những phương tiện phù hợp với con người ngày hôm nay.
“Đó là biết sử dụng ngôn ngữ, cách diễn tả phù hợp với văn hóa và tâm lý người đương thời.
“Đó là cung cách thấm nhuần tinh thần Phúc Âm, được diễn đạt với thái độ khiêm nhu, chân tình, thân ái.
“Đó là thái độ kính trọng, đối thoại với người nghe.
“Đó là vận dụng sáng tạo những kỹ thuật hiện đại phục vụ cho việc loan báo Tin Mừng.”
Những chỉ dẫn trên trong TMV2003 có thể là một gợi ý nào đó giúp chúng ta hình dung một cách khái quát “Chân Dung Người Truyền Giáo” của ngày hôm nay. Bàn về vấn đề này cũng là dịp để chúng ta làm rõ hơn phẩm chất cũng như thái độ thực hành của những người đã, đang và sẽ “đáp lời mời gọi của Chúa Giêsu Kitô, hăng hái lên đường…và ra đi với một nhiệt tình tông đồ mới…” (x.TMV2003 - 6).
Thực vậy, những ai đang thao thức về vấn đề truyền giáo đều hướng theo giáo huấn của Hội Thánh trong việc xem trọng nhiệm vụ truyền giáo, đặc biệt trong thiên niên kỷ mới, bởi vì “việc loan báo Tin Mừng là chân tính của Hội Thánh lữ hành, Hội Thánh không ngừng nhắc nhở con cái mình tập trung mọi nỗ lực vào việc truyền giáo, đồng thời phải thích ứng để có thể đem Tin Mừng cho nhân loại trong thời đại này…” (x.TMV2003 - 5).
Tuy nhiên, để những nỗ lực và sự thích nghi trong việc rao giảng Tin Mừng đem lại kết quả thực sự, thì cần chú tâm đến vai trò và phẩm chất của người truyền giáo. Các tông đồ, trong thời Hội Thánh sơ khai, đã vâng lệnh Chúa Giêsu hăng hái dấn thân loan báo Tin Mừng, đã hy sinh mạng sống để làm chứng về ơn cứu rỗi trong Đức Kitô tử nạn và phục sinh (x.TMV2003 - 4). Với tư cách là chứng nhân, các ngài trước hết đã nói những điều mình tin và sống, đồng thời đã từng sống và tin những gì mình muốn nói ra.
Chứng nhân trong truyền giáo, tại sao ?
Thực vậy, “trước khi rao giảng bằng lời nói, hãy rao giảng bằng đời sống” (x.TMV2003 - 10), và “người đương thời sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn là những thầy dạy…” (x.TMV2003 - 12). Chính vì lý do đó, việc phác họa và định hướng chân dung người truyền giáo của ngày hôm nay quả là điều cần thiết và ưu tiên hàng đầu.
Trong bài “ Vài kinh nghiệm truyền giáo” gửi các linh mục tu sĩ giáo phận Long Xuyên tháng 10/1994, Đức cha GB Bùi Tuần đã chia sẻ như sau :
“Tại địa phương này, trong mấy năm nay, số người vào đạo Công Giáo tăng đáng kể.
“Tôi coi việc vào đạo chỉ là bước đầu, còn việc phúc-âm-hóa, thay đổi con người nên tạo vật mới là mục đích chính yếu của việc truyền giáo.
“Sau khi phân tích hành trình vào đạo và những chuyển biến nơi các người được phúc-âm-hóa tại địa phương này, tôi có nhận định như sau : Kết quả việc truyền giáo tùy thuộc rất nhiều vào một số hình ảnh trong trái tim người được truyền giáo.
“Trước hết là hình ảnh người truyền giáo.
“Người truyền giáo ở đây được hiểu về những ai đưa nguời ta vào đạo, những ai dạy giáo lý cho họ, những ai huấn luyện họ về đời sống đạo. Người truyền giáo ảnh hưởng đến người được qua nội dung bài vở mình giảng dạy và nhất là qua chính con người của mình.
“Nội dung các sách tôn giáo rất là mênh mông. Người truyền giáo có kinh nghiệm sẽ biết nhận định những gì cần nêu lên trước và cần nhấn mạnh hơn, cũng như cần nhận thức việc truyền giáo không chỉ đơn thuần là truyền đạt các chân lý tôn giáo, mà còn là chia sẻ lửa tin yêu trong lòng mình, và nhất là biết cởi mở đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, Đấng soi sáng cho mình và cho người nghe hiểu đúng được những gì Đức Kitô đã làm và đã dạy.
“Lúc đó, người nghe sẽ không cảm thấy mình tiếp thu một mớ lý thuyết vô hồn, nhưng là đón nhận những chân lý sự sống, như một dòng chảy sức mạnh giải thoát tâm hồn.
“Sức hấp dẫn của một chiếc máy thường xuất phát từ những hoạt động của nó. Chiếc máy không chạy sẽ chẳng hấp dẫn gì. Tương tự cũng thế, sức hấp dẫn của đức tin hoạt động của người truyền giáo đối với Chúa và đối với con người sẽ minh chứng đức tin của mình có sức hấp dẫn hay không. Do đó, hình ảnh đẹp của người truyền giáo là hình ảnh con người làm chứng hơn là người giảng dạy.
“Bằng đời sống, họ làm chứng họ vâng lời Đức Kitô, luôn trở về với Cha trên trời bằng những cố gắng thường xuyên bỏ đàng tội lỗi, sống đời sống mới của người con Chúa.
“Khi làm chứng đúng lúc, đúng nơi, đúng cách những gì cần phải làm chứng, người truyền giáo sẽ tạo ra được một hình ảnh đẹp và dễ thương trong tâm hồn kẻ được truyền giáo. Hình ảnh này được coi là yếu tố đáng kể trong việc truyền giáo. “ (ĐGM GB. Bùi Tuần, Gp Long Xuyên, tập tĩnh tâm tháng 10/1994).
§ Chân dung người truyền giáo ?
Nói một cách chính xác và đơn giản, hình ảnh đẹp nhất và ấn tượng nhất về người truyền giáo sẽ khắc họa theo hình ảnh của Đức Kitô Cứu Thế. Chính Ngài đã sai họ đi và làm chứng cho Ngài, về Ngài. Ngài muốn họ đồng hóa với Ngài để giới thiệu và đem Ngài đến với thế giới. Ngài đã nhấn mạnh về sức mạnh và vẻ hấp dẫn của người được sai đi, như sau :
“Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.
“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che dấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lại đặt bên dưới cai thùng, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5, 13-16).
* Từ vẻ đẹp nội tâm …
Trong cơ chế thị trường ngày nay, khi làm ra, giới thiệu và tiếp thị các sản phẩm, người ta luôn quan tâm ưu tiên đến yếu tố “chất lượng”. Bởi thị hiếu tiêu dùng rất chú trọng mặt hàng “chất lượng cao”. Chất lượng là sự thật về phẩm chất phải đạt được của sản phẩm để phục vụ mục tiêu sử dụng cũng như đáp ứng đúng và hiệu quả nhu cầu con người theo các tiêu chuẩn đề ra.
Cũng vậy, “chất lượng” nơi chứng nhân Kitô hữu, trong môi trường truyền giáo, chính là lửa Thánh Thần, là lòng mến đậm đà, là đức tin sống động, là sự dấn thân hăng hái, là nhiệt tình tông đồ, là đời sống nội tâm sung mãn…Thiếu những yếu tố này, “chất lượng muối chứng nhân” sẽ thấp kém vì chất muối mặn đã ra “nhạt nhẽo” !
Phẩm chất của nhà truyền giáo luôn là yếu tố hàng đầu trong công cuộc rao giảng Tin Mừng. Bởi vì “Đón nhận được Tin Mừng, tôi có bổn phận phải làm chứng cho Tin Mừng. Thời nay người ta tin người chứng hơn người rao giảng…” (x.ĐGM GB. Bùi Tuần - “Mừng kỷ niệm 150 thành lập địa phận Tây Đàng Trong 1844-1994 - Long Xuyên 1994 - trang 5).
Sẽ là người chứng tốt lành, đáng tin cậy nếu tín hữu chúng ta tỏa ra từ nơi mình “hương vị đậm đà khó quên” về một đức tin vững vàng và một lòng yêu mến hy sinh quảng đại, dõi theo cách trung thực mẫu gương của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã sai Kitô hữu ra đi làm chứng cho Tin Mừng và Tình Yêu Cứu Độ.
Nhớ lại trước đây, vào khoảng trung tuần tháng 10-2003, cả thế giới nói chung và Hội thánh Công Giáo nói riêng, đều tỏ ra hân hoan vui mừng đón nhận một sự kiện lớn lao đặc biệt. Đó là việc ĐGH Gioan Phaolô II tôn phong Chân Phước cho Mẹ Têrêsa thành Calcutta. Người ta biết đến, ngưỡng mộ, yêu kính, tôn vinh Mẹ không phải vì Mẹ là nhà trí thức uyên bác hay là nhà hùng biện tài ba, mà là một nhà truyền giáo năng động và một người làm công tác từ thiện tích cực. Chỉ mới 6 năm sau khi qua đời (mất ngày 5-9-1997), Mẹ đã được tôn phong Chân Phước rồi (ngày 19-10-2003).
ĐGH Gioan Phaolô II, trong ngày lễ tôn phong Chân Phước cho Mẹ Têrêsa Calcutta, đã phát biểu câu nói đầy ý nghĩa, như sau : “Khi dâng hiến trọn cuộc đời cho Thiên Chúa và tha nhân, Mẹ Têrêsa tìm thấy sự viên mãn cao cả nhất của thiên chức người phụ nữ và đã sống với phẩm hạnh cao thượng của nữ giới” (x.Tuần báo CG&DT - số 1430 ngày 24-10-2003 - trang mục ‘Công Giáo Thế Giới’ trang 31).
Chỗ khác, khi nói về chứng tá của Mẹ Têrêsa, bài viết tựa đề “Mẹ Têrêsa: Lòng vị tha và can đảm”, đăng trong trang mục Kiến thức & Đời sống báo Phụ Nữ TP HCM thứ bẩy 1-11-2003, đã ghi lại như sau : “Dù bà không bao giờ giấu diếm đạo Thiên Chúa của mình, nhưng cách bà xả thân cho dân cùng đinh và bệnh tật ở Calcutta nói riêng và dân những vùng bất hạnh nhất trên khắp thế giới nói chung, khiến dân Ấn Độ giáo cũng kính yêu bà. Hình ảnh bà xơ nhỏ nhắn yếu đuối trong chiếc sa ri trắng viền xanh đã gợi lòng kính trọng cả toàn thế giới, dù có đạo Thiên Chúa hay không…”. Bài viết trên cũng trích lời của Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã nói khi hay tin Mẹ qua đời ngày 5 tháng 9 năm 1997, như sau : “Thế giới bớt đi tình thương, bớt lòng thương cảm và bớt đi ánh sáng”.
Sự mặn mà của tình yêu và sự hy sinh cao đẹp luôn là dấu chỉ của Cộng đoàn cứu rỗi và luôn gây ảnh hưởng sâu đậm đối với thế giới đang lạnh nhạt này. Công Đồng Vat.II đã nêu rõ : “Giáo dân làm tông đồ là thông phần vào chính sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội…Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động nơi và trong những hoàn cảnh mà nếu không có họ, thì Giáo Hội sẽ không trở thành muối cho thế gian. Như thế, vì những ân huệ đã lãnh nhận, mọi giáo dân vừa là chứng nhân vừa là dụng cụ sống động cho chính sứ mệnh Giáo Hội, ‘tùy theo độ lượng ân sủng Chúa Kitô ban cho’ (Eph 4,7)” (x.Vat. II, LG 33).
* Đến cung cách bên ngoài …
Như vậy, với tư cách vừa là chứng nhân vừa là dụng cụ “sống” cho sứ mệnh của Hội thánh, Kitô hữu chúng ta sẽ phấn đấu và nỗ lực tỏa lan ánh sáng diệu kỳ trong hành trình “đến với những môi trường đang cần ánh sáng Tin Mừng và sử dụng những phương tiện phù hợp với con người hôm nay” (x.TMV2003 - 6).
Để giới thiệu Tin Mừng cho thế giới hôm nay, ngoài “chất mặn của nhân chứng”, bản thân người tín hữu cũng cần trở nên một thứ “ánh sáng” để soi dẫn người ta đến với Tin Mừng. Ánh sáng nơi người truyền giáo trở thành một công cụ đặc biệt của Chúa Thánh Thần trong việc vận dụng những phương tiện thích hợp nhất khi rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng cứu độ. Bởi vì “Hội Thánh phải loan báo Chúa Kitô và làm cho Chúa Kitô trở nên tất cả cho mọi người. Tin Mừng phải hội nhập vào mọi lãnh vực của con người.” (x.TMV2003 - 8).
Sự hội nhập thấu đáo và hoàn hảo đòi hỏi người truyền giáo sự bén nhạy của trí óc, sự ấm áp của tấm lòng, sự khéo léo của hành động, sự thích nghi của phương pháp và sự cởi mở hài hòa khiêm tốn trong thái độ.
Đọc lại TMV2003 - số 9, ta sẽ thấy rõ điều đó: “Để chân lý Phúc Âm trở nên trong suốt, dễ hiểu, dễ đón nhận, ta phải dùng những phương tiện phù hợp với con người ngày nay. Đó là biết sử dụng ngôn ngữ, cách diễn tả phù hợp với văn hóa và tâm lý người đương thời. Đó là cung cách thấm nhuần tinh thần Phúc Âm, được diễn đạt với thái độ khiêm nhu, chân tình, thân ái. Đó là thái độ kính trọng, đối thoại với người nghe. Đó là vận dụng sáng tạo những những kỹ thuật hiện đại phục vụ cho việc loan báo Tin Mừng”.
Như vậy, ngoài việc tái-Phúc-âm-hóa sâu xa bản thân mình, người truyền giáo, xét về mặt “kỹ thuật”, cũng cần được đào luyện một cách nền tảng và thích hợp để tham gia và thực hiện công việc tông đồ cách hiệu quả. TMV2003 đã khẳng định : “Để việc truyền giáo có kết quả, Đức Thánh Cha khuyên nhủ ta hãy ra đi với một nhiệt tình tông đồ mới, đến với những môi trường đang cần ánh sáng Tin Mừng và sử dụng những phương tiện phù hợp với con người hôm nay” (x.TMV2003 - 6).
Trong hành trình “ra đi với một nhiệt tình tông đồ mới” cùng với việc “sử dụng những phương tiện phù hợp với con người ngày hôm nay”, theo tinh thần TMV2003, người truyền giáo nên lưu tâm đến các lĩnh vực sau:
- Thái độ : khiêm nhu, chân tình, thân ái; kính trọng, cảm thông và lắng nghe trong đối thoại ;
- Kiến thức, kỹ năng : sử dụng ngôn ngữ và cách diễn tả phù hợp với văn hóa và tâm lý người đương thời; biết vận dụng cách sáng tạo những kỹ thuật hiện đại phục vụ việc loan báo Tin Mừng.
“Mỗi giáo xứ cần thiết lập một ban truyền giáo dưới sự hướng dẫn của cha xứ và sự cộng tác của mọi giới cũng như mọi đoàn thể. Ban truyền giáo sẽ cổ vũ sự cầu nguyện, tạo điều kiện học tập và động viên mọi thành phần dân Chúa tham gia việc loan báo Tin Mừng” (x.TMV2003 - 12).
Tuy nhiên, để hỗ trợ giáo xứ hoàn thành chức năng huấn luyện đào tạo của mình, thiết nghĩ cấp giáo phận nên soạn thảo những tài liệu học hỏi và tham khảo về chủ đề “Cẩm Nang Người Truyền Giáo”, coi đó như một phương tiện hữu ích góp phần phong phú hóa hành trang của người tông đồ. Đó cũng chính là thể hiện giáo huấn của Hội thánh về công cuộc truyền giáo: “Hội Thánh không ngừng nhắc nhở con cái mình tập trung mọi nỗ lực vào việc truyền giáo, đồng thời phải thích ứng để có thể đem Tin Mừng cho nhân loại trong thời đại này (x.Evangelii Nuntiandi; Redemptoris Missio)” (x.TMV2003 - 5).
Tóm lại, để có thể tự tin lên đường với “một nhiệt tình tông đồ mới”, người truyền giáo của ngày hôm nay chẳng những quan tâm đến việc phong phú hóa đời sống nội tâm, đến việc tân-Phúc-âm-hóa bản thân và đời sống, mà còn chú tâm đến việc đào tạo và tái đào tạo con người mình cách toàn diện. Nhờ vậy, chân dung người truyền giáo sẽ nổi bật trong hai khía cạnh, vừa là nhân chứng của Tin Mừng Đức Kitô vừa là công cụ tông đồ truyền giáo của Hội thánh.