TRẢ LẠI CHO NGUỜI
Chiếc phi cơ của hãng hàng không Đức Lufthansa đưa đoàn hành hương Harvest đáp xuống phi truờng St Petersburg. Gió nhè nhẹ vào một buổi chiều mùa thu tại thành phố mà khí hậu rất khắc nghiệt mùa Đông đã khiến cho Napoléon và Hitler thân bại danh liệt làm tôi khẽ rùng mình. Nhìn qua khung cửa, lác đác một vài máy bay quân sự của Không Lực Nga khiến tôi không thể không liên tưởng đến phi truờng Tân Sơn Nhất.
Có chút gì giông giống hao hao! Và có chút gì ghê ghê lành lạnh chạy dài từ gáy xuống cột sống lưng. Từ Frankfurt qua St Petersburg chỉ cách hơn một giờ bay mà cơ hồ như tôi đã sống qua hai thế giới. “Thiên Đuờng Cộng Sản đây ư?” tôi tự hỏi lòng mình. Đã gần 90 năm từ khi Lênin với Cách Mạng Tháng Muời lật đổ chế độ Nga Hoàng, chẳng có mấy đổi thay ở những phần đất cộng sản thiên đuờng này!
Mà làm sao có thể đổi thay khi bao nhiêu nhân, vật lực đuợc tế sống thiêu thân cho những mộng đồ vuơng bá? “Làm sao có cách mạng khi không có máu đổ đầu rơi,” Lênin đã lạnh lùng tuyên bố ngay sau khi cướp chính quyền biện hộ cho những tham vọng rồ dại điên cuồng mà đã đưa thế giới gần bên bờ vực thẳm.
Ngồi trên xe buýt rảo qua một vài con phố chính truớc khi về khách sạn, lòng trí tôi miên man với muôn vàn suy nghĩ. Nếu hạnh phúc là đạt đuợc ước mơ đêm ngày ấp ủ thì quả thật tôi đã hạnh phúc đến vô cùng. Có ai đó bảo rằng “thấy Venice rồi chết!” Những với tôi, thấy nuớc Nga rồi chết và bây giờ nếu có chết tôi cũng đã phần nào mãn nguyện lắm rồi. Nghe có vẻ buồn cuời nhưng kể từ lúc có chút trí khôn, và nhất là kể từ khi chủ nghĩa đại đồng nhuộm đỏ phía nam vĩ tuyến 17, tôi vẫn hằng đan dệt một mộng ước rất đỗi tầm thường nhưng có lúc đã tưởng chừng như vô vọng là một ngày nào đó tôi sẽ đến phần đất bao la này của thế giới -quê hương của những vĩ nhân như Tolstoy, Dostoevsky, Solzhenitsyn nhưng cũng là nơi sinh ra những thiên tài đốn mạt nhất của lịch sử con người: Lenin, Stalin, Khrushchev.
Nhưng mộng uớc có vẻ tầm thường kia bắt nguồn từ lời nhắn gửi của Mẹ Fatima cho toàn thế giới: “Hãy cầu xin cho nước Nga đuợc trở lại.” Sao lại không Trung Quốc? Sao lại không Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ? Sao lại không một quốc gia nào khác mà chỉ lại Nga Sô!!? Câu hỏi này đã gậm nhấm tim tôi từng tháng từng ngày. Và tôi gắng thực hiện một ngày khi cơ hội đến.
Và cơ hội đến khi công ty Harvest nhờ tôi làm Tuyên Uy cho chuyến hành hương mang tên “Catholic Heartland”. Và khi dâng Thánh Lễ tại một nhà thờ gần
Công Truờng Đỏ ngay tại thủ đô Mạc Tư Khoa, tôi đã không thể che giấu nỗi xúc động tột cùng. Mà làm sao không xúc động hả Trời khi một thuyền nhân trốn thoát chế độc Cộng Sản lại giờ đây đứng giữa nơi khai sinh thế giới đại đồng. Rồi lại được tế lễ tạ ơn Chúa đất trời ngay tại chốn mà nhiều năm qua dân tộc Nga đã bị ru ngủ bởi chiêu bài “tôn giáo là thuốc phiện”.
“Their spirit is broken, and we in the West should come here and heal their broken spirit,” một bà giáo sư người Anh chua chát nói với tôi sau một buổi cơm chiều. Tôi lặng người qua nhận xét này. Rồi gẫm lại những gì đã thấy đã nghe gần qua một tuần sống trong cái nôi của chủ nghĩa cộng sản đại đồng, tôi mới dần hiểu tại sao mệnh lệnh của Mẹ Fatima là phải luôn cầu nguyện để nuớc Nga đuợc trở lại.
Mà nuớc Nga chỉ có thể trở lại khi mỗi chính chúng ta trở lại. Khi mỗi chính chúng ta can đảm quay ngược đuờng về, trả lại cho Cêsarê những gì thuộc về Cêsarê, và dâng cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.
Quay ngược đuờng về! Như đứa con hoang đàng trong bức tranh tuyệt tác của Rembrandt tại Bảo Tàng Viện St Petersburg. Đến Nga mà không xem tận mắt tuyệt tác bất hủ này thì quả là một thiếu sót cực kỳ. Rembrandt đã lột trần trọn vẹn sự xung đột liên lĩ giữa Thiên Chúa và Cêsarê qua bàn tay và khuôn mặt của người cha và ánh mắt ghen tuơng nảy lửa của nguời con trai trưởng. Trả lại cho Thiên Chúa một lòng thứ tha vô bờ bến. Và hãy mạnh dạn trả lại trả hết cho Cêsarê những dục vọng bất chính cùng những ích kỷ giả dối đê hèn.
Tôi đã cầu xin đuợc can đảm trở lại như người con trai thứ đã trở lại để nước Nga đuợc trở lại. Tôi đã cầu xin đuợc biết dũng cảm hy sinh như cha Thánh Maximilian Kolbe đã dũng cảm hy sinh. Đến trại tù tập trung Auschwitz nơi Maximilian đã chết để ánh sáng chân lý đuợc muôn đời toả sáng, tôi không khỏi ngậm ngùi. Cêsarê đã hiện rõ nét qua nhũng tham vọng cuồng dại của Hitler và đám đồ tề Đức Quốc Xã, nhưng Thiên Chúa cuối cùng đã khải hoàn vinh thắng sau những đớn đau thịt xác ngất trời. Than ôi! Sao con nguời có thể dã man tàn ác như thế với con nguời!
Lynn Johnston đã viết là “bản tuyên ngôn sâu xa ý nghĩa nhất thuờng đuợc diễn tả trong sự im lặng khôn cùng.” Sư im lặng khôn cùng đến rợn người tại trại tâp trung Auschwitz đã là tiếng chuông cảnh tỉnh cho toàn nhân loại là không thể trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Cêsarê. Và cũng không thể trả cho Cêsarê những gì thuôc về Thiên Chúa.
Nói một cách khác, con nguời đuợc sinh ra giống hình ảnh Thiên Chúa và đời sống và nhân phẩm mỗi nguời phải đuợc tuyệt đối tôn trọng trong bất cứ xã hội, hoàn cảnh và thể chế chính trị nào. Đã sống qua và đã là nạn nhân cộng sản, nhưng khi nhìn từng rừng tóc bạch kim, khi đi qua những phòng hơi ngạt, tôi cảm thấy lạnh người. Kinh khiếp quá! Ghê rợn quá! Những Cêsarê thời đại đã trả lại cho Thiên Chúa sự tàn ác vuợt quá mức sức tưởng tượng và lòng tha thứ bác ái con người.
'Từ phòng biệt giam đến những dụng cụ tra tấn mà tuởng chừng như chỉ có thể xảy ra trong thần thoại hoang đường, Maximilian đã sống. Không một bút mực
nào có thể diễn tả nỗi đớn đau thịt xác mà cha thánh đã chịu luỵ hy sinh, nhưng như lời Dolores Ibarruri tả, Maximilian đã “thà chết trên đôi bàn chân mình hơn là sống mọp qùy chân gối!” Và Maximilian đã trả về cho Thiên Chúa điều mà Nguời muốn trên thập giá năm xưa: “Lạy Cha xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.”
Trận chiến giữa Thiên Chúa và Cêsarê, giữa thiện và ác, giữa nô lệ và tự do, giữa tốt và xấu, giữa ánh sáng và bóng tối đã, đang và sẽ không bao giờ chấm dứt cho đến ngày tận thế cáo chung. Còn sống là còn tranh đấu. Còn sống là còn tin. Vào Đấng là Đường. Là Sự Thật. Và Sự Sống. Và vào chính chúng ta.
Marcel Proust đã viết rằng “cuộc lữ hành khám phá thật sự không phải là nhìn những cảnh tượng mới nhưng là nhìn bằng đôi mắt mới.” Đôi mắt mới để trả về cho Thiên Chúa nhũng gì thuộc về Nguời. Bây giờ và cho đến lúc xuôi tay nhắm mắt
Chiếc phi cơ của hãng hàng không Đức Lufthansa đưa đoàn hành hương Harvest đáp xuống phi truờng St Petersburg. Gió nhè nhẹ vào một buổi chiều mùa thu tại thành phố mà khí hậu rất khắc nghiệt mùa Đông đã khiến cho Napoléon và Hitler thân bại danh liệt làm tôi khẽ rùng mình. Nhìn qua khung cửa, lác đác một vài máy bay quân sự của Không Lực Nga khiến tôi không thể không liên tưởng đến phi truờng Tân Sơn Nhất.
Có chút gì giông giống hao hao! Và có chút gì ghê ghê lành lạnh chạy dài từ gáy xuống cột sống lưng. Từ Frankfurt qua St Petersburg chỉ cách hơn một giờ bay mà cơ hồ như tôi đã sống qua hai thế giới. “Thiên Đuờng Cộng Sản đây ư?” tôi tự hỏi lòng mình. Đã gần 90 năm từ khi Lênin với Cách Mạng Tháng Muời lật đổ chế độ Nga Hoàng, chẳng có mấy đổi thay ở những phần đất cộng sản thiên đuờng này!
Mà làm sao có thể đổi thay khi bao nhiêu nhân, vật lực đuợc tế sống thiêu thân cho những mộng đồ vuơng bá? “Làm sao có cách mạng khi không có máu đổ đầu rơi,” Lênin đã lạnh lùng tuyên bố ngay sau khi cướp chính quyền biện hộ cho những tham vọng rồ dại điên cuồng mà đã đưa thế giới gần bên bờ vực thẳm.
Ngồi trên xe buýt rảo qua một vài con phố chính truớc khi về khách sạn, lòng trí tôi miên man với muôn vàn suy nghĩ. Nếu hạnh phúc là đạt đuợc ước mơ đêm ngày ấp ủ thì quả thật tôi đã hạnh phúc đến vô cùng. Có ai đó bảo rằng “thấy Venice rồi chết!” Những với tôi, thấy nuớc Nga rồi chết và bây giờ nếu có chết tôi cũng đã phần nào mãn nguyện lắm rồi. Nghe có vẻ buồn cuời nhưng kể từ lúc có chút trí khôn, và nhất là kể từ khi chủ nghĩa đại đồng nhuộm đỏ phía nam vĩ tuyến 17, tôi vẫn hằng đan dệt một mộng ước rất đỗi tầm thường nhưng có lúc đã tưởng chừng như vô vọng là một ngày nào đó tôi sẽ đến phần đất bao la này của thế giới -quê hương của những vĩ nhân như Tolstoy, Dostoevsky, Solzhenitsyn nhưng cũng là nơi sinh ra những thiên tài đốn mạt nhất của lịch sử con người: Lenin, Stalin, Khrushchev.
Nhưng mộng uớc có vẻ tầm thường kia bắt nguồn từ lời nhắn gửi của Mẹ Fatima cho toàn thế giới: “Hãy cầu xin cho nước Nga đuợc trở lại.” Sao lại không Trung Quốc? Sao lại không Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ? Sao lại không một quốc gia nào khác mà chỉ lại Nga Sô!!? Câu hỏi này đã gậm nhấm tim tôi từng tháng từng ngày. Và tôi gắng thực hiện một ngày khi cơ hội đến.
Và cơ hội đến khi công ty Harvest nhờ tôi làm Tuyên Uy cho chuyến hành hương mang tên “Catholic Heartland”. Và khi dâng Thánh Lễ tại một nhà thờ gần
Công Truờng Đỏ ngay tại thủ đô Mạc Tư Khoa, tôi đã không thể che giấu nỗi xúc động tột cùng. Mà làm sao không xúc động hả Trời khi một thuyền nhân trốn thoát chế độc Cộng Sản lại giờ đây đứng giữa nơi khai sinh thế giới đại đồng. Rồi lại được tế lễ tạ ơn Chúa đất trời ngay tại chốn mà nhiều năm qua dân tộc Nga đã bị ru ngủ bởi chiêu bài “tôn giáo là thuốc phiện”.
“Their spirit is broken, and we in the West should come here and heal their broken spirit,” một bà giáo sư người Anh chua chát nói với tôi sau một buổi cơm chiều. Tôi lặng người qua nhận xét này. Rồi gẫm lại những gì đã thấy đã nghe gần qua một tuần sống trong cái nôi của chủ nghĩa cộng sản đại đồng, tôi mới dần hiểu tại sao mệnh lệnh của Mẹ Fatima là phải luôn cầu nguyện để nuớc Nga đuợc trở lại.
Mà nuớc Nga chỉ có thể trở lại khi mỗi chính chúng ta trở lại. Khi mỗi chính chúng ta can đảm quay ngược đuờng về, trả lại cho Cêsarê những gì thuộc về Cêsarê, và dâng cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.
Quay ngược đuờng về! Như đứa con hoang đàng trong bức tranh tuyệt tác của Rembrandt tại Bảo Tàng Viện St Petersburg. Đến Nga mà không xem tận mắt tuyệt tác bất hủ này thì quả là một thiếu sót cực kỳ. Rembrandt đã lột trần trọn vẹn sự xung đột liên lĩ giữa Thiên Chúa và Cêsarê qua bàn tay và khuôn mặt của người cha và ánh mắt ghen tuơng nảy lửa của nguời con trai trưởng. Trả lại cho Thiên Chúa một lòng thứ tha vô bờ bến. Và hãy mạnh dạn trả lại trả hết cho Cêsarê những dục vọng bất chính cùng những ích kỷ giả dối đê hèn.
Tôi đã cầu xin đuợc can đảm trở lại như người con trai thứ đã trở lại để nước Nga đuợc trở lại. Tôi đã cầu xin đuợc biết dũng cảm hy sinh như cha Thánh Maximilian Kolbe đã dũng cảm hy sinh. Đến trại tù tập trung Auschwitz nơi Maximilian đã chết để ánh sáng chân lý đuợc muôn đời toả sáng, tôi không khỏi ngậm ngùi. Cêsarê đã hiện rõ nét qua nhũng tham vọng cuồng dại của Hitler và đám đồ tề Đức Quốc Xã, nhưng Thiên Chúa cuối cùng đã khải hoàn vinh thắng sau những đớn đau thịt xác ngất trời. Than ôi! Sao con nguời có thể dã man tàn ác như thế với con nguời!
Lynn Johnston đã viết là “bản tuyên ngôn sâu xa ý nghĩa nhất thuờng đuợc diễn tả trong sự im lặng khôn cùng.” Sư im lặng khôn cùng đến rợn người tại trại tâp trung Auschwitz đã là tiếng chuông cảnh tỉnh cho toàn nhân loại là không thể trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Cêsarê. Và cũng không thể trả cho Cêsarê những gì thuôc về Thiên Chúa.
Nói một cách khác, con nguời đuợc sinh ra giống hình ảnh Thiên Chúa và đời sống và nhân phẩm mỗi nguời phải đuợc tuyệt đối tôn trọng trong bất cứ xã hội, hoàn cảnh và thể chế chính trị nào. Đã sống qua và đã là nạn nhân cộng sản, nhưng khi nhìn từng rừng tóc bạch kim, khi đi qua những phòng hơi ngạt, tôi cảm thấy lạnh người. Kinh khiếp quá! Ghê rợn quá! Những Cêsarê thời đại đã trả lại cho Thiên Chúa sự tàn ác vuợt quá mức sức tưởng tượng và lòng tha thứ bác ái con người.
'Từ phòng biệt giam đến những dụng cụ tra tấn mà tuởng chừng như chỉ có thể xảy ra trong thần thoại hoang đường, Maximilian đã sống. Không một bút mực
nào có thể diễn tả nỗi đớn đau thịt xác mà cha thánh đã chịu luỵ hy sinh, nhưng như lời Dolores Ibarruri tả, Maximilian đã “thà chết trên đôi bàn chân mình hơn là sống mọp qùy chân gối!” Và Maximilian đã trả về cho Thiên Chúa điều mà Nguời muốn trên thập giá năm xưa: “Lạy Cha xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.”
Trận chiến giữa Thiên Chúa và Cêsarê, giữa thiện và ác, giữa nô lệ và tự do, giữa tốt và xấu, giữa ánh sáng và bóng tối đã, đang và sẽ không bao giờ chấm dứt cho đến ngày tận thế cáo chung. Còn sống là còn tranh đấu. Còn sống là còn tin. Vào Đấng là Đường. Là Sự Thật. Và Sự Sống. Và vào chính chúng ta.
Marcel Proust đã viết rằng “cuộc lữ hành khám phá thật sự không phải là nhìn những cảnh tượng mới nhưng là nhìn bằng đôi mắt mới.” Đôi mắt mới để trả về cho Thiên Chúa nhũng gì thuộc về Nguời. Bây giờ và cho đến lúc xuôi tay nhắm mắt