Luân Thư

MẠNG SỐNG CON NGƯỜI (MSCN):

Một Thế Hệ Sau


Bài của Tiến Sĩ Janet Smith, GS tại ĐCV Sacred Heart, Detroit

(tiếp theo và hết)

Thế hệ chúng ta rất nhanh nhậy khi tỏ lòng quý trọng ý nghĩa kết hợp của hành vi dục tính, thế nhưng lại rất kém hiểu biết về sự thiện hảo trong ý nghĩa sinh sản của hành vi ấy. Thời đại mới có xu hướng coi thơ nhi như gánh nặng chứ không như quà tặng. Cũng thế, việc thụ tinh được coi như một điều đáng sợ cần phải canh chừng cho đừng xẩy ra. Người ta thường nói là “sợ có bầu,” một kiểu nói rất lạ kỳ. Sợ nghèo, sợ trở thành nạn nhân của bom nguyên tử hoặc sợ bị khủng bố thì còn hiểu được; nhưng sao lại sợ có bầu? Có người bảo rằng có bầu là ‘tai nạn’ cứ như bị đụng xe không bằng. Sự thật là thế này: nếu có bầu là do một hành vi giao cấu dục tính, thì có nghĩa là hành vi giao cấu dục tính đã đi đúng hướng, chứ không phải đã đi trệch đường.

Trong xã hội hôm nay, người ta đã mất đi cái nhìn về một sự thật nền tảng là: nếu bạn chưa sẵn sàng có con, thì có nghĩa là bạn chưa sẵn sàng cho việc giao cấu dục tính. Chúng ta đã đánh mất cái nhìn về một sự kiện hiển nhiên là: giao cấu dục tính, làm tình, và sinh con là những thứ cố hữu gắn chặt với nhau và có lý do chính đáng của nó. Thời đại chúng ta, những quan hệ dục tính được coi rất hời hợt; không cần một cam kết gắn bó giữa hai người với nhau; thơ nhi bị coi là kẻ xâm nhập theo kiểu khách không mời mà tới. Hội Thánh chống lại thái độ này, và nhấn mạnh rằng hành vi giao cấu dục tính và việc sinh con thì liên kết mật thiết với nhau; hành vi giao cấu dục tính bao hàm một cam kết rất mãnh liệt; con trẻ chính là một thành phần cố hữu của cam kết này; và cả con trẻ lẫn sự cam kết đều là những món quà kỳ diệu.

Cần nhớ rằng thụ tinh là một điều thiện hảo: thụ tinh chứng tỏ một tình trạng sức khỏe khả quan của một người trưởng thành. Ai không thể thụ tinh thì cần được giúp đỡ để chữa trị. Phụ nữ bây giờ dùng ‘thuốc viên’ để ngăn chận thụ tinh, cứ như thể đó là một căn bệnh cần cứu chữa. Ngừa thai là coi thân thể phụ nữ như đang có một cái gì sai trệch. Sử dụng phương tiện ngừa thai là cho rằng Thiên Chúa đã sai phạm một cách nào đó khi thiết kế thân xác con người, và chính con người phải sửa lại sự sai phạm này của Thiên Chúa. Trong một thời đại mà con người đang lo lắng vì có quá nhiều chất thải làm ô nhiễm môi sinh, thì thật khôi hài khi chính con người đang tự ý tải vào thân xác mình những chất gây ô nhiễm nặng. Biết bao nguy cơ gây ra cho sức khỏe phụ nữ khi ngừa thai, chỉ cần đọc những mẩu liệt kê kèm sẵn trong hộp thuốc viên cũng đủ thấy. Những vòng đặt (IUD) hiện nay ít thấy trên thị trường vì hãng sản xuất không chịu nổi những vụ kiện tụng. Thế thì tại sao phụ nữ lại chấp nhận những nguy cơ ấy đang khi các phương pháp kế hoạch hóa gia đình tự nhiên thì vừa an toàn lại vừa hữu hiệu?

Chúng ta cũng đừng quên rằng nhiều hình thức ngừa thai chính là phá thai; tác dụng của chúng chính là tạo ra một cuộc phá thai sớm. Thay vì ngăn chận sự rụng trứng, chúng lại ngăn ngừa trứng thụ tinh--vốn là hữu thể con người tí hon vừa nẩy sinh—không bám dính vào thành tử cung được. Vòng xoắn IUD cũng như hầu hết mọi hình thức thuốc viên và phương pháp Norplant đều có tác dụng tương tự như thế. Bởi vậy, những ai chống phá thai và hằng quan tâm đến việc bảo vệ phụ nữ hẳn sẽ không muốn sử dụng các hình thức ngừa thai này, trong khi các hình thức khác thì gây ra bất lợi về mặt thẩm mỹ hoặc ít đáng tin cậy.

Ngừa thai là đưa vào trong hành vi giao cấu dục tính một điểm đen, mang tính chối từ thậm tiêu cực. Trong khi đó làm tình phải được coi là một hành vi có nét son tuyệt diệu nhất của khẳng định tích cực, một lời “vâng” êm ái gọi mời người tình, một cách thỏ thẻ rằng ‘anh của em’ hoặc ‘em của anh tuyệt vời lắm’ và ‘anh hoàn toàn chấp nhận em’ hay ‘em hoàn toàn chấp nhận anh’; đây là hành vi hiến dâng trọn vẹn bản thân người này cho người kia. Trong khi đó, người tình ngừa thai nói với người yêu rằng: ‘anh/em muốn trao thân cho em/anh, nhưng không muốn chia sẻ sự thụ tinh đâu’; ‘anh muốn em, nhưng không muốn trứng của em, hoặc em muốn anh, nhưng không muốn tinh trùng của anh!’

Cứ nghĩ đến chính hạn từ ‘ngừa thai’ mà xem. Ngừa thai (contra-ception) có nghĩa là ‘chống lại sự khởi đầu’--đây có nghĩa là sự khởi đầu của một mầm sống mới. Do đó, cặp vợ chồng khi ngừa thai là: đang lúc tham gia vào một hành vi được ‘thiết kế’ làm nẩy sinh mầm sống mới, thì lại hành động chống cưỡng lại chính mầm sống mới ấy. Nói khác đi, họ như đang dàn dựng pháo đài để “nghênh địch” theo kiểu ‘làm chiến tranh’ chứ đâu phải ‘làm tình.’ Hoặc giả họ dùng thuốc ‘diệt tinh trùng’, theo kiểu xịt thuốc khai quang, thế thì còn gọi đó là hành vi yêu thương được nữa chăng?

Vả lại, chúng ta quên mất đi sự kỳ diệu của một mầm sống lúc mới được khai sinh. Thiên Chúa chọn lựa việc khai sinh mầm sống mới qua tình yêu vợ chồng. Cả vũ trụ này được tạo dựng cho ta và cho người khác như chính ta. Thiên Chúa muốn chia sẻ công trình tạo dựng của Ngài với những linh hồn con người mới, và đem các linh hồn mới vào trong thế giới qua tình yêu nam nữ dành trọn cho nhau. Thiên Chúa tạo dựng thế giới như một hành vi yêu thương, và việc khai sinh mầm sống mới--thật là tương ứng—cũng chính là sản phẩm của một hành vi thương yêu. Khi một người nam và nữ có chung một người con, đây là một hành vi làm biến đổi cả vũ hoàn: có một cái gì bước vào hiện hữu và sẽ không bao giờ ra khỏi hiện hữu nữa; bởi vì mỗi linh hồn là bất tử và được an bài để sống bất tử.

Mỗi khi có một mầm sống mới đi vào hiện hữu, Thiên Chúa lại thực hiện một hành vi tạo dựng hoàn toàn mới, bởi vì chỉ một mình Thiên Chúa mới tạo dựng được một linh hồn bất tử. Trong giao hợp dục tính, đôi vợ chồng dành cho Thiên Chúa một cơ hội để thực hiện hành vi tạo dựng của Ngài. Đúng như dòng đầu tiên của luân thư MSCN viết rằng: Thiên Chúa ban cho đôi vợ chồng cái sứ mệnh (munus) lưu truyền sức sống con người. Ngừa thai là nói ‘không’ với Thiên Chúa; có nghĩa là những ai sử dụng ngừa thai thì chỉ muốn hưởng lạc thú tuyệt vời của dục tính chứ không muốn cho phép Thiên Chúa thực hiện hành vi tạo dựng của Ngài.

Ngừa thai không chỉ sai trái ở chỗ vi phạm ý nghĩa sinh sản của hành vi tính dục, mà còn vi phạm ý nghĩa kết hợp của hành vi ấy nữa. ĐGH Gioan Phaolô II đã rất hứng khởi khi giải thích làm thế nào mà đôi vợ chồng khi ngừa thai thì không hề hoàn tất sự kết hợp vợ chồng trong giao cấu dục tính. Ngài giải thích rằng hành vi dục tính có nghĩa là một hành vi tự hiến và, khi kìm hãm sự thụ tinh lại, thì đôi vợ chồng không còn hoàn toàn hiến thân cho nhau nữa. Ngài đã khai triển một nền THXT để giải thích về vấn đề này. Ngài cho rằng các hành động thể xác cũng mang ý nghĩa y như lời nói, và trừ khi ta không dùng hành động để nói lên các ý nghĩa ấy, ta thực sự không nên làm các hành động ấy, cũng y như ta không nên nói nếu điều ta nói không mang đúng ý nghĩa ta muốn có. Trong cả hai trường hợp, điều nói ra chỉ toàn là nói dối mà thôi.

Kết hợp phái tính có một ý nghĩa được mọi người công nhận; nó có nghĩa là: “Anh/Em thấy em/anh thật quyến rũ;” “Anh/Em lo lắng cho em/anh;” “Anh/Em sẽ cố lo cho hạnh phúc của em/anh;” “Anh/Em muốn gắn bó sâu xa lâu dài với em/anh.” Một số người dấn bước vào cuộc giao cấu tính dục không hề nghĩ tưởng đến những điều vừa nói; họ chỉ muốn sử dụng người khác để đạt được khoái lạc xác thịt. Họ nói láo bằng thân xác mình cũng y như một ai đó nói: “Anh/Em yêu em/anh” cho người khác mà chỉ có mục đích là đạt được chút ân huệ nào đó từ người ấy.

Thật là dễ khi muốn chung đụng thân xác với nhiều người, nhưng ta chỉ muốn có con với một ai đó mà thôi. Khi ai đó dùng thân xác để nói rằng: “Anh/Em chỉ muốn trao đổi tình dục với em/anh mà thôi,” thì hiển nhiên điều đó khác hẳn với lời nói rằng: “Anh/Em muốn có con với em/anh.” Một trong những điều chắc chắn để phân biệt tình yêu với tình dục là nghĩ xem mình muốn có con với người ấy hay chỉ muốn khoái lạc xác thịt mà thôi. Nói chung, ta thực sự yêu người ta muốn cùng có con cái với người ấy; ta thực sự muốn đời sống ta gắn bó chặt chẽ với đời sống người ấy. Ta muốn trở nên một với người ấy, có con cái chung với người ấy—toàn thể đời ta xoắn xít lấy đời người ấy: ta cùng lo sắm tã, mua sữa, mở tiệc sinh nhật, lo tiền học phí và tính toán chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái. Một hành vi giao cấu dục tính không tính đến chuyện ngừa thai thì đúng là đang lập lại lời hôn ước năm nào: “Anh/Em hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em/anh khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe.” Có con với người nào, đó chính là chia sẻ cả cuộc đời với người ấy.

Một hành vi tính dục mở ngỏ cho khả thể sinh sản thì biểu hiện một cách lý tưởng cho mối dây gắn bó mà đôi vợ chồng đã cam kết với nhau. Ngược lại, ngừa thai là gửi ra một thông điệp như thế này: chỉ thích chung đụng thân xác mà thôi chứ không hề muốn có bất kỳ một ràng buộc lâu dài nào cả. Khả thể về một gắn bó bền vững đã bị cố tình loại trừ ra khỏi chính hành vi đã được kiến tạo nhằm biểu tỏ tối hảo ước vọng xây đắp một quan hệ vững bền. Nó đã biến hành vi tình dục trở thành một lời nói dối.

Lại nữa, ngừa thai chính là một xúc phạm đến thân xác mình, là chống lại Thiên Chúa của mình, cũng như chống lại mối quan hệ với người phối ngẫu của mình. Tuy nhiên, vợ chồng có nhất thiết là, nếu sức khỏe cho phép tới đâu thì cứ có nhiều con tới đó chăng? Hội Thánh không bao giờ dậy như thế cả. Vợ chồng phải có trách nhiệm về sự sinh con đẻ cái, nhưng cũng phải lo cả việc dưỡng dục nữa. Tuy vậy, cách thức hạn chế sinh sản phải hợp luân lý. Các phương pháp Kế Hoạch Hoá Gia Đình Tự Nhiên (KHHGĐTN) là những cách thức rất hiệu quả và phù hợp với luân thường đạo lý, giúp cho người vợ mang thai khi vợ chồng muốn có con, cũng như giúp tránh ‘dính bầu’ khi thấy không nên có thêm con nữa. KHHGĐTN giúp cho vợ chồng biết tôn trọng thân xác, vâng phục Thiên Chúa, và kính trọng lẫn nhau.

KHHGĐTN không phải là phương pháp nhịp điệu lỗi thời, một phương pháp đặt nền tảng trên thời biểu. Đúng hơn, đây là một phương thức mang tính khoa học cao, giúp xác định xem khi nào người phụ nữ có khả năng thụ thai bằng cách quan sát những chỉ dấu mà thân xác bộc lộ ra. Vợ chồng khi muốn tránh thai, chỉ cần kiêng cữ không giao hợp trong thời kỳ trứng rụng. Thống kê về tính đáng tin cậy của KHHGĐTN dám thách thức cả những hình thức thuốc viên được cho là hiệu quả nhất, mà lại hợp luân thường đạo lý cũng như không gây nguy hại cho sức khỏe.

Cặp vợ chồng nào sử dụng KHHGĐTN sẽ tìm thấy công hiệu mỹ mãn trong quan hệ lứa đôi và trong mối tương quan với chính Thiên Chúa. Khi kiêng cữ giao hợp trong thời kỳ trứng rụng, vợ chồng không hề gây cản trở hành vi giao cấu tính dục bởi vì họ không thực hiện hành vi ấy. Còn khi thực hiện hành vi ấy giữa thời kỳ trứng không rụng thì họ không hề kềm giữ lại khả năng thụ thai của mình bởi vì khi đó họ có khả năng ấy đâu mà kềm với giữ. Họ chỉ học cách sống sao cho hòa hợp với nhịp điệu tự nhiên của thân xác mà thôi. Tóm lại, sử dụng KHHGĐTN thì có thể bao hàm những hành vi bất sinh sản thật đấy, thế nhưng đó không bao giờ là những hành vi phản sinh sản như trong trường hợp ngừa thai.

Nhiều người thấy khó mà tin được việc tiết dục định kỳ thì có lợi chứ không có hại cho tương quan vợ chồng. Thế nhưng, tiết dục có thể là một cách thức khác để tỏ lộ tình yêu, như trong trường hợp những người yêu nhau mà chưa kết hôn, hoặc những người nếu thực hiện động tác vợ chồng thì sẽ gặp nguy cơ nghiêm trọng. Hẳn nhiên, nhiều người khi mới bắt đầu sử dụng KHHGĐTN, nhất là những ai đã có quan hệ dục tính trước hôn nhân và những ai đã sử dụng phương tiện ngừa thai, sẽ thường cảm thấy sự tiết dục vừa nói trở thành một mối căng thẳng và dễ tạo ra cáu kỉnh. Dĩ nhiên là như thế, bởi vì, cũng giống như việc kiêng ăn hay một hình thức kiêng cữ nào đó, tiết dục gây ra những khó chịu; thế nhưng cũng giống như kiêng ăn để làm đẹp, hay kiêng cữ để chữa bệnh, tiết dục sẽ đem lại nhiều ích lợi. Vả lại, vợ chồng kiêng cữ cũng là chuyện thường, vì nhiều lý do: chồng đi công tác xa nhà, còn vợ bị bệnh chẳng hạn.

Sử dụng KHHGĐTN, vợ chồng sẽ thấy phương pháp này giúp gia tăng mối giao cảm với nhau—và tiết dục sẽ cho họ cơ hội để làm điều đó. Khi học cách kiến tạo niềm cảm thông không vương dục tính, và khi tìm cách khống chế dục vọng, vợ chồng sẽ tìm thấy một sự giải thoát mới trong khả năng kiêng cữ giao cấu dục tính. Nhiều người sẽ thấy có một cái gì lãng mạn len vào trong quan hệ vợ chồng giữa những ngày kiêng cữ, và rồi lại thấy có một cái gì nồng nàn hơn trong dịp ân ái trở lại. Họ đã tập luyên được đức tự chủ vì đã kiểm soát được dục vọng thay vì để cho dục vọng cuốn lôi. Người phụ nữ sử dụng KHHGĐTN thường cảm thấy được chồng tôn trọng bởi vì chàng đã không bắt mình phải dùng các phương tiện ngừa thai thiếu lành mạnh và không thoải mái. Còn quý ông khi sử dụng KHHGĐTN thường tăng thêm niềm tự trọng bởi vì đã kiểm soát được dục vọng của mình, để rồi từ đây hành vi giao cấu dục tính sẽ trở thành một động tác của tình yêu chứ không phải chỉ là hành vi thỏa mãn dục vọng. Một bằng chứng cho thấy KHHGĐTN thì tuyệt hảo đối với hôn nhân chính là: trong khi trên đất Mỹ này, nơi nào có trên một nửa những cuộc hôn nhân kết thúc bằng ly dị (và có thể an toàn mà nói rằng các cặp này hầu hết đều ngừa thai cả), thì có ít, rất ít các cặp sử dụng KHHGĐTN mà đi tới ly dị; họ có vẻ gắn bó với nhau sâu đậm hơn những cặp ngừa thai.

Hội Thánh lên án ngừa thai không phải vì muốn chối bỏ lạc thú dục tính của vợ chồng, mà bởi vì muốn giúp họ tìm thấy hạnh phúc lứa đôi cũng như mái nhà ấm cúng mà thiếu nó, thiện ích con người xét như cá nhân cũng như xã hội sẽ bị đe dọa trầm trọng. Đoạn 18 của luân thư MSCN nói như sau:

“Không có gì đáng ngạc nhiên khi Hội Thánh trở thành một ‘dấu chỉ mâu thuẫn’—y như Chúa Kitô là Đấng Sáng Lập của mình. Nhưng đó không phải là lý do để Hội Thánh từ bỏ cái bổn phận đã được trao phó là rao giảng luật luân lý một cách cương quyết và khiêm tốn, điều này bao gồm cả luật tự nhiên và luật của Tin Mừng.

“Bởi vì Hội Thánh không hề tạo ra các luật vừa nói, thế nên Hội Thánh không thể thay đổi các luật ấy được. Hội Thánh chỉ đóng vai trò bảo tồn và giải thích; do đó Hội Thánh không thể tuyên bố một điều gì là được phép về mặt luân lý nếu nó thực chất không phải là như thế. Bởi lẽ, điều gì vô luân thì tự bản chất sẽ luôn luôn chống lại sự thiện hảo chân thật của con người.

“Khi gìn giữ toàn thể luật luân lý về hôn nhân, Hội Thánh biết rằng mình đang ủng hộ sự phát triển của một nền văn minh chân chính nơi loài người.”

Khi dậy rằng ngừa thai là vô luân tự nội, Hội Thánh không hề áp đặt trên người Công Giáo một thứ lề luật mang tính kỷ luật; Hội Thánh chỉ giảng dậy điều thiên nhiên và Tin Mừng đang nói lên. Đến đây, hẳn ta đã học được bài học khó khăn là, khi bất chấp tất cả và nuông chiều bản năng tính dục, hoặc khi chống lại quy luật của thiên nhiên và lề luật của Thiên Chúa, là ta đang tạo ra một tổn hại khôn lường cho chính bản thân mình, xét như một cá nhân cũng như xét như cả một xã hội toàn thể.