NGÔN NGỮ GIẢNG
Nhân đọc những bài viết về bài giảng trong Thánh lễ trên Vietcatholic (ngày 14/9/2005, bài:Cha giảng hay, cha giảng dở của Lm Giuse Maria Nhân Tài, csjb; ngày 24/9/2005, bài: Giảng cho người thời nay của Lm Anrê Đỗ Xuân Quế O.P; ngày 25/9/2005, bài: Một vài suy nghĩ về bài giảng trong thánh lễ của Augustine Trần Cao Khải); xin được góp thêm bài viết về ngôn ngữ trong giảng thuyết. Dựa vào những bài giảng của Lm Phêrô Nguyễn Khảm, Giáo sư giảng thuyết Đại chủng viện Thánh Giuse, Sài gòn, xin viết lại bài này như là những chia sẻ chân tình.
DẪN NHẬP
Soạn một bài giảng khác với viết một bài văn. Viết là để đọc, còn giảng là để nghe.
Đọc một bài viết, người đọc có thể dừng lại để thưởng thức vẻ đẹp của một câu văn, nghiền ngẫm chiều sâu một tư tưởng của tác gỉa; còn nghe một bài giảng, câu này nối tiếp câu kia, ý tưởng này nối tiếp ý tưởng khác, liên tục, không đứt đoạn.
Đọc một bài viết, người đọc chỉ tiếp cận tư tưởng của tác giả; còn nghe một bài giảng, người ta không chỉ tiếp cận tư tưởng mà cả con người của diễn giả; phong cách, thái độ.
Vì thế, xuất hiện vấn đề ngôn ngữ của giảng thuyết. Làm sao để gây được ấn tượng, chuyển tải được nội dung và để lại chút dư âm trong tâm hồn thính giả?
Không ai có được thứ ngôn ngữ giảng thuyết tuyệt vời như Chúa Giêsu, vị ngôn sứ khuấy động cả lịch sử. Vì thế phương cách tốt nhất là theo học trường Giêsu: chiêm ngắm và học hỏi với Ngài ngôn ngữ thông truyền Lời Chúa. Đó là ngôn ngữ nói chứ không phải đọc, đối thoại chứ không độc thoại; đồng thời là ngôn ngữ hình tượng sống động và ngôn ngữ không lời.
I. NGÔN NGỮ NÓI:
1. Nhận xét
Có nhiều phương pháp trình bày bài giảng, và mỗi phương pháp đều có những điểm lợi cũng như bất lợi.
a. Đọc bài đã soạn trước.
Phương pháp này tương đối dễ thực hiện, vì người giảng chỉ có việc đọc bài giảng cho thật tốt; đồng thời lại có tính chuẩn xác vì người giảng đã chuẩn bị chu đáo từ trước: từ ngữ, câu văn… Ngoài ra, người giảng cảm thấy an tâm vì không sợ phải quên sót điều gì, hoặc phát biểu điều gì không thích hợp.
Tuy nhiên, phương pháp này lại có nhiều bất lợi. Vì chỉ lo đọc bài đã soạn, người giảng sẽ thiếu sự tiếp xúc bằng mắt với cử toạ, không đo lường được phản ứng của cử toạ, và vì thế, làm mất đi tính hồn nhiên sáng tạo và thích ứng. Cử toạ có thể nghĩ rằng đối với người giảng không thể nhớ nổi những gì ông ta nói, cho nên phải đọc, thì làm sao người nghe nhớ được!
Cha E. Tardiff chia sẻ kinh nghiệm của ngài: Khi mới làm linh mục, ngài soạn giảng rất kỹ với bao nhiêu là trích dẫn và luận chứng… cho đến khi khám phá một điều thật giản đơn: Bản thân mình là người giảng mà cũng không nhớ nổi những điều mình giảng, phải cầm giấy đọc, thì người nghe thoáng qua làm sao có thể nhớ nổi! (x. Jesus est le Messie).
b. Giảng thuộc lòng.
Người giảng soạn bài thật kỹ, học thuộc lòng từng câu từng chữ, và khi giảng, hoàn toàn dựa vào trí nhớ để nói với cử toạ, không cần văn bản.
Theo phương pháp này, người giảng có thể có sự tiếp xúc bằng mắt với cử toạ, nhớ đó tạo được sự gần gũi và mối giao lưu với thính giả. Tuy nhiên, khi chỉ nói dựa vào trí nhớ, bài giảng vẫn mang tính máy móc, không thể kịp thời thích ứng với cử toạ. Ngoài ra, còn có một nguy hiểm rất lớn là lỗ hổng của trí nhớ (trou de mémorie), quên mất câu kế tiếp là gì… và vì thế, làm hỏng toàn bộ bài nói chuyện.
c. Ứng khẩu.
Ứng khẩu là giảng mà không chuẩn bị trước, hoàn toàn dựa vào kiến thức sẵn có và khả năng diễn tả của mình. Đương nhiên lối giảng này mang tính hồn nhiên và đầy ngẫu hứng; tuy nhiên, nội dung bài giảng thường kém chất lượng, cấu trúc thiếu chặt chẽ, và vì thế khó lòng mang lại hiệu quả tốt.
2. Thực hành cụ thể
Chúa Giêsu không hề viết bài giảng. Tin mừng là “Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô” nhưng lại “theo Thánh Matthêu, Luca hay Gioan”. Các thánh sử viết lại chứ Chúa Giêsu không viết. Nói theo ngôn ngữ hôm nay, Ngài là người xuất khẩu thành chương. Tuỳ theo hoàn cảnh: một câu hỏi được đặt ra, một vấn đế phải đối diện, một nhóm thính giả đang đợi chờ… và Chúa Giêsu nói, say sưa, sâu sắc, hóm hỉnh và hiệu quả lạ lùng!
Đến cả các Tông đồ trong buổi đầu sứ vụ cũng thế. Các ngài không viết. Đã sống với, đã lắng nghe, đã chiêm ngắm Chúa Giêsu… bây giờ các ngài đi rao giảng, làm chứng cho mọi người. Không hề viết bài giảng. Chỉ mãi đến sau, những bài thuyết giáo ấy mới được ghi lại để truyền cho hậu thế.
Như vậy phải chăng cách giảng tốt nhất là ứng khẩu? Không cần chuẩn bị, chẳng nên soạn bài vì sẽ làm mất đi tính hồn nhiên và ngẫu hứng của sáng tạo?
Không thể lý luận như thế được, đơn giản là không thể sánh mình với Chúa Giêsu. Ngài chính là LỜI và mỗi câu nói, cử chỉ, hành động của Ngài đều là LỜI. Còn người rao giảng hôm nay chỉ là TIẾNG (Voix) làm vọng lên LỜI (Parole). Vì thế phải đón nhận, nghiền ngẫm LỜI và chuẩn bị kỹ lưỡng mới có hy vọng công bố LỜI; nếu không chỉ là những tiếng hô vô nghĩa.
Tuy nhiên, điều có thể và nên học với Chúa Giêsu khi giảng là biết sử dụng ngôn ngữ NÓI, thay vì ngôn ngữ ĐỌC. Nếu giảng chỉ là đọc bài đã dọn sẵn, cho dẫu công phu cách mấy, chắc chắn hiệu quả cũng giới hạn nhiều.
Như vậy không có nghĩa là không cần chuẩn bị. Cha F. Varillon chia sẻ kinh nghiệm bản thân: Lúc ban đầu, viết toàn bài rồi học thuộc lòng. Khi giảng, cố gắng nói tự nhiên, khác với “trả bài”. Sau này khi đã quen, ngài không viết toàn bài nữa nhưng làm dàn bài và những ghi chú cần thiết, rồi dựa vào đó để nói, hồn nhiên hơn và sống động hơn.(x. Beauté du monde et souffances des hommes).
Người ta gọi lối giảng này là ứng khẩu có chuẩn bị (extemporaneous style). Người giảng nghiên cứu, suy nghĩ thật kỹ về đề tài, rồi thiết lập dàn bài chi tiết. Khi giảng, có thể cầm theo dàn bài và dựa vào đó mà khai triển những điều mình đã suy nghĩ. Với phương pháp này, người giảng nắm chắc đề tài, đồng thời vẫn giữ được sự tiếp xúc gần gũi với cử toạ, và có thể sáng tạo, thích ứng với thính giả cũng như môi trường mình có mặt.
II. NGÔN NGỮ ĐÀM THOẠI
1. Nhận xét:
Trong thời đại hôm nay, người nghe không còn thích lối văn hùng biện ngày xưa, nhưng nghiêng về lối văn đàm thoại. Diễn giả thành công là diễn giả tạo được cho mọi người nghe cảm giác ông đang nói chuyện với từng người trong họ, kể cả khi ông nói qua các phương tiện truyền thông đại chúng.
Gắn liền với ngôn ngữ nói là ngôn ngữ đối thoại. Ngôn ngữ đối thoại có khả năng thiết lập tương giao với người nghe, kích thích suy nghĩ và phản ứng của họ trước tình huống và vấn đế được đặt ra.
Chúa Giêsu thường xuyên sử dụng thứ ngôn ngữ này khi giảng dạy, không chỉ trong những cuộc gặp gỡ và trao đổi lâu với Nicôđêmô (Ga 3,1-21) với người phụ nữ Samaria (Ga 4,7-26); mà còn trong nhiều lần khác, bằng cách đặt câu hỏi hoặc bằng cách mời người nghe góp ý:“Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?” (Mt 21,40).“Các ông nghĩ sao; một người kia có hai con trai” (Mt 21,28).
2. Thực hành cụ thể.
Ngày nay nhiều linh mục áp dụng phương pháp đối thoại khi giảng lễ cho thiếu nhi, khiến bầu khí sinh động hơn và các em tham dự Thánh lễ tích cực hơn. Phương pháp này cũng có thể áp dụng cho giới trẻ, nhất là Thánh lễ dành cho nhóm nhỏ.
Tuy nhiên để việc đối thoại đạt kết quả tốt, người giảng cũng cần chuẩn bị trước những câu hỏi cho phù hợp và có khả năng mời gọi sự tham gia của người nghe. Thiết nghĩ cách đặt câu hỏi tuỳ thuộc vào mục đích người giảng nhằm tới:
- Nhằm mục đích giúp người nghe, đặc biệt là thiếu nhi, ghi sâu vào ký ức trang Kinh Thánh vừa nghe; người giảng có thể đi theo diễn tiến của câu chuyện Kinh Thánh để đặt câu hỏi để xem người nghe nghĩ gì và giải quyết ra sao; từ đó trình bày ý nghĩ đúng đắn của Lời Chúa.
- Nhằm mục đích đào sâu giáo huấn mà mình muốn nhấn mạnh, người giảng đặt những câu hỏi liên hệ để giúp người nghe dần dần khám phá. Những câu hỏi này thường theo tiến trình từ cụ thể đến trừu tượng, từ đơn sơ đến phức tạp hơn.
Trong những Thánh lễ dành cho người lớn hoặc ở những cộng đoàn đông đảo tín hữu, rất khó áp dụng phương pháp đối thoại nói trên. Tuy nhiên ta có thể bắt chước Chúa Giêsu trong việc sử dụng ngôn ngữ đối thoại, bằng cách dùng những kiểu nói khiến người nghe cảm nhận rõ ràng ta đang nói chuyện với họ, chứ không là cuộc độc thoại dai dẳng. Chẳng hạn:
+ Anh chị em có nhớ câu chuyện “Năm ông mù đi xem voi không?”. Rồi sau đó mới kể chyện.
+ Giả như anh chị em ở trong hoàn cảnh đó, anh chị em sẽ phản ứng ra sao?
+ Anh chị em có đồng ý với cách giải quyết của Chúa Giêsu về trường hợp đó không?
Người giảng không quên rằng từ “homilia” ở nguyên nghĩa là đàm thoại, hàn huyên tâm sự… chứ không phải là diễn văn mang tính bác học. Vì thế sử dụng ngôn ngữ đối thoại khi giảng lễ, không những không có gì trở ngại mà còn rất phù hợp với mục đích.
III. NGÔN NGỮ DIỄN CẢM
1. Nhận xét.
Tiếng nói không chỉ là phương tiện chuyển tải ý nghĩa của ngôn từ, mà còn truyền thông cả tâm tư tình cảm của người nói đến người nghe. Diễn giả thành ccng là người có khả năng khơi dậy nơi người nghe những cảm xúc mà mình đang có, và muốn gói ghém trong ngôn từ mình sử dụng. Vì thế, người giảng cũng phải quan tâm đến những khám phá của ngành truyền thông về giọng nói, để có thể diễn đạt cách hiệu quả nội dung Lời Thiên Chúa.
2. Thực hành cụ thể.
Để có được giọng nói diễn cảm, có hồn, có sức thuyết phục; nên chú ý đến 3 yếu tố này:
a. Giọng nói dễ nghe, dễ hiểu:
Đã gọi là thuyết trình, điều quan trọng là thính giả phải nghe được những gì diễn giả muốn trình bày. Vì thế, diễn giả phải quan tâm đến:
- Cường độ âm thanh: Khi nói trước công chúng, có một khoảng cách khá xa giữa người nói và người nghe. Phải làm sao để tiếng nói của mình đến được tai người nghe, không bắt họ phải lắng tai mới nghe được vì dễ tạo mệt mỏi, nhưng cũng không quá lớn vì tạo cảm giác nặng nề.
- Nhịp độ nói: Khi nói chuyện bình thường, nhịp độ trung bình là từ 200-250 từ/ phút. Tuy nhiên, khi nói trước công chúng, phải nói chậm hơn, với nhịp độ 120-150 từ/ phút, vì có nhiều yếu tố chi phối: khoảng cách, tiếng ồn, quạt máy…
- Phát âm rõ: Diễn giả cần phát âm rõ ràng và chuẩn xác, không nuốt vần, nuốt chữ, không quá vội vàng khi chuyển ý từ phần này sang phần khác. Luôn nhớ rằng cách nói chuyện với đám đông khác với cách nói chuyện hàng ngày, giữa bạn bè với nhau.
b. Giọng nói với nhiều sắc thái:
Với giọng nói đều đều, buồn tẻ, diễn giả sẽ làm mất đi sức hấp dẫn và thuyết phục của bài thuyết trình. Để vượt qua khó khăn này, có 2 khía cạnh cần quan tâm:
- Thay đổi nhịp độ nói: Nhịp độ thay đổi sẽ gây phấn khởi và mối quan tâm nơi người nghe. Nhịp độ này gắn liền với tâm tư của diễn giả, cũng như những gì diễn giả muốn cử toạ chú ý; nếu không, sẽ trở thành máy móc và nhàm chán. Hãy nói chậm lại khi bạn muốn nhấn mạnh suy tư thâm trầm của mình, và hãy nói nhanh hơn khi lòng ta dạt dào cảm xúc.
- Thay đổi cao độ âm thanh: Khi nói chuyện hằng ngày, cao độ này thường rất nhỏ, cùng lắm là một bất âm (octave). Tuy nhiên, khi nói trước công chúng, phải gia tăng cao độ âm thanh (lên cao hơn và xuống thấp hơn); nhờ đó có thể diễn đạt cảm xúc hiệu quả hơn. Sử dụng cao độ âm thanh thế nào là tuỳ theo nội dung thuyết trình, cũng như tâm tư tình cảm của diễn giả. Cách tổng quát, hãy dùng cao độ lớn hơn để diễn tả sự hưng phấn, và cao độ nhỏ hơn để diễn tả sự trang trọng, nhẹ nhàng, êm dịu.
c. Giọng nói với những dấu nhấn:
Thiếu những dấu nhấn, bài nói chuyện của diễn giả sẽ mang bộ mặt vô cảm, giống như máy tính. Vì thế, nên chú ý đến 2 điểm:
- Nhấn giọng: Phương thế được dùng để nhấn mạnh một từ ngữ, một câu nói trong bài thuyết trình, bằng cách thay đổi cường độ, cao độ hay nhịp độ âm thanh. Việc nhấn mạnh đó không những tạo cảm giác thay đổi, mà còn có thể làm biến đổi ý nghĩa một câu nói. Ví dụ: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi hiến ban Con Một mình”. Tôi muốn nhấn mạnh từ nào trong câu Kinh Thánh trên? Trong khuôn khổ bài thuyết giảng của mình?
+ Nhấn mạnh đến Chúa Cha hay Chúa Con?
+ Nhấn mạnh đến sự hiến ban như dấu chỉ tình yêu?
+ Nhấn mạnh đến tình yêu như bản chất của Thiên Chúa?
+ Nhấn mạnh đến thế gian như đối tượng của tình yêu Thiên Chúa?
- Những dấu lặng: Dấu lặng ở đây không phải là những chỗ ngắt câu, ngắt đoạn; nhưng có ý nói đến khoảng thinh lặng cố tình trong bài giảng, nhằm diễn tả cảm xúc, và khiến ngươì nghe quan tâm hơn. Ví dụ: “Chúa Giêsu kêu một tiếng lớn, rồi gục đầu xuống tắt thở” (thinh lặng); hoặc đặt một câu hỏi: “Anh chị em nghĩ sao về thái độ của người con cả trong dụ ngôn?” (thinh lặng)… Điều quan trọng là phải biết đặt đúng nơi và đúng lúc, phù hợp với chính tâm tình của diễn giả.
IV. NGÔN NGỮ HÌNH TƯỢNG
1. Nhận xét.
Còn ai có thể sự dụng ngôn ngữ hình tượng cách nhuần nhuyễn cho bằng Chúa Giêsu? Lời rao giảng của Ngài đầy dẫy những hình tượng sống động trong các dụ ngôn: “Nước Trời giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc quí. Tìm được một viên ngọc quí, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy” (Mt 13, 45-46).“Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba đấu bột” (Mt 13,33).Cứ thế. Rất nhiều và rất nhiều.
Ngôn ngữ hình tượng của Chúa Giêsu còn xuất hiện dưới dạng thái so sánh: “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra một bài học…Hãy xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho, thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quí giá hơn chúng sao?” (Mt 6, 26-29). “Như ông Môsê đã giương con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3, 14-15).
Thứ ngôn ngữ hình tượng ấy vừa hấp dẫn người nghe lại vừa dễ hiểu; nhờ đó người ta có thể tiếp cận và đón nhận chân lý cách sâu sắc hơn.
2. Thực hành cụ thể.
Người rao giảng Lời Chúa cũng phải học với Thầy mình trong việc sử dụng thứ ngôn ngữ tuyệt vời ấy.
Ngôn ngữ hình tượng được sử dụng cách thông thường và cụ thể nhất là qua những câu truyện: truyện lịch sử, truyện ngụ ngôn, có khi là những sự kiện xã hội, những tác phẩm văn học nghệ thuật, những cuốn phim mà mọi người đã biết. Người giảng có thể sử dụng tất cả những câu chuyện đó để minh hoạ nội dung giảng dạy, và khắc hoạ giáo huấn vào lòng người nghe cách dễ dàng và sống động hơn. Vấn đề là những câu chuyện ấy phải có mối liên hệ mật thiết với sứ điệp Lời Chúa, và nhằm khắc hoạ sứ điệp ấy vào lòng thính giả, chứ không chỉ để mua vui.
Ngôn ngữ hình tượng ấy còn là những so sánh mượn từ đời thường, từ khung cảnh thiên nhiên để minh hoạ cho chân lý. Hãy thử nhớ lại một vài so sánh của Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng:“Chúa mở cửa trước mặt tôi cuốn sách của thiên nhiên: Có những bông hoa hồng rực rỡ và những cánh hoa lily tinh khôi, trắng muốt. Nhưng cũng có cả những cánh hoa violette bé bỏng và những bông hoa dại. Tất cả làm cho cánh vườn thêm rực rỡ sắc màu.Trong vườn hoa của Thiên Chúa cũng thế”. Ở một nơi khác, Chị Thánh lại dùng lối văn so sánh:
“Ta đang sống trong một thời đại với nhiều phát minh mới: thang máy thay cho những bậc thang quen thuộc. Tôi thấy mình bé nhỏ quá, không đủ sức leo lên bao nhiêu bậc thang của sự hoàn thiện, nên phát minh ra thang máy: Cứ leo lên và thang đưa thẳng tới Chúa”.
Thế đấy, những hình ảnh đơn sơ đã giúp người ta khám phá dễ dàng cái cốt lõi của Đường Thơ Au Thiêng Liêng.
Nhiều nhà tư tưởng cũng sử dụng những so sánh để giúp người đọc và người nghe dễ lĩnh hội. Chẳng hạn nhà thần học De Lubac đã nói thật hay “Xuyên qua bức tường dầy đặc nhất của một nhà tù tối tăm nhất, một khe nhỏ của lỗ châu mai cũng đủ chứng tỏ có mặt trời. Cũng thế, trong cái thế giới mờ đục và nặng nề hôm nay, chỉ cần gặp được một vị thánh cũng đủ chứng tỏ có Thiên Chúa”. Hoặc Daniel - Ange khi nói về các Thánh: “Như những người dân thành thị không còn quan tâm tới những vì sao trên trời, vì họ quen bước đi dưới ánh sáng tràn ngập của đèn nêông, đôi mắt dán vào hè phố; chúng ta cũng mù quáng khi không nhìn thấy muôn vàn những điểm sáng đang bao phủ quanh ta tứ phía: Đó là các Thánh”.
Người ta bảo thi nhân là người có khả năng sử dụng ngôn ngữ hình tượng tuyệt vời nhất. Cõ lẽ thế, nên Gioan Thánh Giá đã có thể diễn tả chiều sâu của đời sống thần bí bằng ngôn ngữ hình tượng của cuộc đời. Mỗi người giảng Lời Chúa cũng phải là một thi nhân theo nghĩa để cho Thánh Thần tác động lên trí tưởng tượng của mình, và biết vận dụng những hình ảnh sống động mà thông truyền chân lý Tin Mừng cho anh em.
V. NGÔN NGỮ KHÔNG LỜI
1. Nhận xét.
Trong bất cứ cuốn sách nào bàn về giảng thuyết, cũng đều có phần nói về cử điệu. Cử điệu cũng chính là ngôn ngữ không lời.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người không chỉ sử dụng ngôn ngữ bằng lời, nhưng còn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ không lời: Đôi mắt mở to biệu lộ nỗi ngạc nhiên, bàn tay nắm lại vì tức giận, một cái lắc đầu từ chối… Trong nhiều trường hợp, ngôn ngữ không lời còn có khả năng diễn đạt phong phú và hùng hồn hơn nhiều so với lời nói: Một ánh mắt, một nụ hôn, và chính sự thinh lặng.
Như thế, dù bằng lời hay không lời, cả hai đều là ngôn ngữ, nghĩa là phương thế diễn đạt nội dung bên trong, tức là tâm tư tình cảm, suy nghĩ và ước muốn của mình. Chính vì thế, nếu không có lời nội tâm, ngôn ngữ trở thành rỗng tuếch và cử điệu chỉ còn là cử điệu vô hồn.
Cũng chính vì thế, lời khuyên của một giáo sư giảng thuyết khi ngài đưa ra qui tắc cơ bản của cử điệu rất tâm đắc: “Chỉ làm những cử điệu nào mà bạn cảm thấy bị thúc đẩy. Chỉ làm những cử điệu nào mà bạn thấy buộc phải làm”.
Qui tắc cơ bản này được xây dựng trên nguyên tắc: Cử điệu là một thứ ngôn ngữ để diễn đạt lời nội tâm, cử điệu phát xuất từ nhu cầu nội tâm. Chẳng hạn, ta có một cử chỉ do dự chính là vì tâm trí và lời nói của ta đang do dự. Ta làm một cử chỉ như cầu xin vì chính lòng ta đang van nài Chúa hoặc khấn nài cộng đoàn hãy hành động.
Những cử điệu phát xuất từ tâm hồn như thế bao giờ cũng chân thành chứ không giả dối, và chính sự chân thành ấy có khả năng chạm đến cõi lòng người nghe.
2. Thực hành cụ thể.
Dựa trên nguyên tắc căn bản đã nói, nên lưu ý đến những chỉ dẫn sau:
a. Phong cách: Phong cách ở đây bao hàm cách đứng, cách ngồi, cách đi lại của diễn giả. Đối với linh mục, phải nói đến cả cung cách khi cử hành Thánh lễ, vì tất cả chỉ là một.
- Qua phong cách, thính giả có thể đọc được phần nào tâm trạng của diễn giả. Đứng thật thẳng đến nỗi như cứng ngắc, có thể nói lên sự căng thẳng hay sợ hãi của diễn giả trước cử toạ. Ngược lại, nghiêng nhẹ về phía trước cách tự nhiên và thoải mái, diễn giả như muốn diễn tả sự tự tin, đồng thời muốn lắng nghe thính giả.
- Trong một vài hoàn cảnh, diễn giả có thể đi lại cho sinh động. Ví dụ tiến đến gần cử toạ hơn khi muốn nhấn mạnh một điểm quan trọng.
- Điều cần thiết là phong cách phải phù hợp với tâm tình bên trong. Đừng đi lại quá nhiều và cách vô ích, vì chỉ làm cử toạ chia trí, không tiếp thu được nội dung bài nói chuyện.
b. Khuôn mặt: Những biểu hiện trên khuôn mặt diễn giả cũng là một phương thế truyền thông, và có thể nói lên nhiều điều:
- Diễn tả tâm tình của diễn giả đối với chính mình và với cử toạ.
- Có thể giúp cho cử toạ lĩnh hội được nội dung thuyết trình. Nhà tâm lý Albert Mehrabian đã đưa ra một công thức về hiệu quả của những yếu tố trong truyền thông: từ ngữ chiếm 7%, giọng nói chiếm 38%, và cách diễn tả trên khuôn mặt chiếm 55%.
- Những biểu hiện trên khuôn mặt còn có khả năng tạo nhịp cầu gặp gỡ giữa người nói và người nghe, đặc biệt là qua sự tiếp xúc bằng mắt với cử toạ. Một diễn giả vừa nói vừa nhìn cử toạ cách tự nhiên và linh động, sẽ khác hẳn với diễn giả chỉ nhìn xuống sàn nhà, hoặc dán mắt vào bài viết, hoặc nhìn mông lung về bức tường phía sau cử toạ.
c. Cử điệu: Cử điệu là những hoạt động của đầu, vai, cánh tay, bàn tay… với mục đích diễn tả và minh hoạ tư tưởng của diễn giả:
- Những cử điệu mang tính quy ước là những cử chỉ biểu tượng, diễn tả những nội dung mọi người đều hiểu. Ví dụ: Cử chỉ của người cảnh sát giao thông, của trọng tài bóng đá…
- Những cử điệu nhằm diễn tả tư tưởng. Ví dụ: Diễn giả dùng tay để diễn tả kích thước, hình dáng của một đồ vật; hoặc nâng cao bàn tay để mô tả chiều cao của người nước ngoài.
- Những cử điệu diễn tả tâm tình. Ví dụ: Diễn giả nhún vai, khoát tay, nắm chặt bàn tay, giơ thẳng tay chỉ vào một điểm nào, hoặc cúi đầu và để bàn tay lên ngực… đều là những cử chỉ muốn diễn tả một tâm tình nào đó.
Điều quan trọng nhất cho phong cách của diễn giả vẫn là sự tự nhiên, linh động, thoải mái, chân thành; không máy móc, giả tạo, cầu kỳ. Nếu không, thay vì phục vụ bài thuyết giảng, những cử điệu không cần thiết sẽ làm hỏng mục đích diễn giả muốn nhắm tới.
KẾT LUẬN
Vì Thiên Chúa đã muốn dùng ngôn ngữ bất toàn của nhân loại để công bố LỜI TOÀN NĂNG của Ngài, và đã dùng môi miệng ô uế của con người mà công bố LỜI CHÍ THÁNH; nên người rao giảng Lời Chúa phải quan tâm đến ngôn ngữ giảng thuyết, không phải để tìm vinh quang cho mình, nhưng chỉ nhắm đến mục đích duy nhất là hạt giống Lời Chúa được gieo đúng nơi, đúng lúc và đúng cách, để mang lại mùa gặt phong phú cho Thiên Chúa và Hội Thánh.