LUÂN THƯ MẠNG SỐNG CON NGƯỜI (MSCN):

Một Thế Hệ Sau

Đây là tựa đề một tác phẩm của Tiến Sĩ Janet Smith do CUA Press ấn hành và xuất bản vào năm 1991: “Humanae Vitae: A Generation Later.” Dựa trên thần học, triết học và những khảo cứu cổ điển, Tiến Sĩ Smith bàn cãi kỹ lưỡng về những luận cứ chống và bênh giáo huấn của Hội Thánh Công Giáo về ngừa thai.

Xin tạm dịch phần mở đầu để giới thiệu cùng bạn đọc tác phẩm quan trọng này viết về một đề tài đã, đang và sẽ còn gây nhiều tranh cãi này
.


Do số lượng quá lớn những chống đối nhắm thẳng vào MSCN mà nhiều người phải sửng sốt khi lần đầu tiên biết được rằng ngừa thai đã không phải là một vấn đề gây nhiều tranh cãi từ những thời kỳ đầu khai sinh Hội Thánh. Các giáo hội Kitô giáo vẫn nhất loạt chống lại ngừa thai cho mãi tới một vài thập niên đầu của thế kỷ XX. Tới năm 1930, Giáo Hội Anh Giáo đi tiên phong khi công bố rằng ngừa thai trong hôn nhân là được phép, nếu có lý do hệ trọng. Tuy nhiên, cũng vào thời kỳ này, ĐGH Piô XI ban hành luân thư ‘Casti Connubii,’ thường được dịch là “Hôn Nhân Kitô Giáo,” trong đó ngài lập lại điều đã được Hội Thánh Công Giáo liên tục giáo huấn: ngừa thai là một sai trái tự nội.

Tưởng rằng đã có nhiều tranh luận liên tục kể từ cái năm 1930 đó, thế nhưng lại không phải vậy. Những cuộc thăm dò trong thời kỳ này cho thấy chừng 65 phần trăm người Công Giáo Hoa Kỳ đã sống theo giáo huấn Hội Thánh, ít là cho tới đầu thập niên 60. Cuốn sách mang tựa đề ‘Ngừa Thai’ do John Noonan viết, đã cống hiến một lịch sử bao quát về giáo huấn Hội Thánh chống lại ngừa thai. Nó ghi nhận rõ ràng rằng Hội Thánh “có lập trường minh bạch và kiên định” đối với ngừa thai, trải dọc suốt chiều dài lịch sử Hội Thánh.

Tiếng la ầm ĩ đầu tiên hô hào thay đổi nghe thấy được vào cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960, với việc lan tràn loại thuốc viên ngừa thai. Một số nhà thần học Công giáo bắt đầu nghĩ rằng thuốc viên có thể là một hình thức hợp pháp chính đáng để kiểm soát sinh sản đối với người Công Giáo, bởi vì nó không hề làm vỡ đổ tính toàn vẹn của hành vi dục tính. Đó là bước đầu trong lòng Hội Thánh đi đến luận cứ cho rằng ngừa thai có thể được phép về mặt luân lý. Trong khi đó, trong lãnh vực chính trị và xã hội, đã manh nha nhận thức về vấn đề dân số và ngày càng có cảm tưởng cho rằng Hội Thánh thật sự thiếu nhân bản nếu cứ tiếp tục đẩy mạnh “chính sách” cổ động gia đình đông con. Phong trào nữ quyền cũng đã khởi sự xuất đầu lộ diện với đòi hỏi phụ nữ phải được hoàn toàn bình đẳng trong công ăn việc làm và trong quá trình chính trị. Người cổ võ phong trào nữ quyền lập luận rằng có con cái, trong qúa khứ, đã tạo ra trở ngại cho những cơ hội bình đẳng này, và ngừa thai--tức không có con cái--sẽ giúp gia tăng cơ hội tìm được việc làm, như thế thực là quá ích lợi cho chị em phụ nữ. Thế là Hội Thánh càng ngày càng chịu áp lực gia tăng để phải ‘xét lại’ giáo huấn về ngừa thai.

ĐGH Gioan XXIII thành lập một ủy ban gồm sáu nhà thần học nhằm cố vấn cho ngài về các vấn đề này. ĐGH Phaolô VI tiếp tục duy trì ủy ban sau khi ĐGH Gioan XXIII qua đời, đồng thời còn mời thêm các thành viên mới đặc trách nhiều lãnh vực, bao gồm cả tầng lớp giáo dân. Đa số các thành viên đều bỏ phiếu ủng hộ việc Hội Thánh phải thay đổi giáo huấn. Thiểu số còn lại thì lập luận rằng Hội Thánh không chỉ không được mà còn không thể thay đổi giáo huấn về ngừa thai, bởi vì đây là một vấn đề về luật của Thiên Chúa, chứ không phải luật của loài người, và vì thế Hội Thánh hay bất kỳ ai cũng không thể tuyên bố rằng ngừa thai là được phép xét về mặt luân lý.

Phúc trình về việc đầu phiếu này cũng như khuyến cáo của ủy ban dĩ nhiên phải được bảo mật kỹ lưỡng, chỉ dành cho một mình ĐGH Phaolô mà thôi, cốt là để cố vấn và trợ giúp ngài viết ra một văn kiện chính thức. Ủy ban kết thúc công việc vào năm 1966. Năm 1967, hồ sơ của ủy ban, bao gồm cả phúc trình và khuyến cáo, bị ‘xì’ ra một lúc cho hai tờ báo, tờ ‘The Tablet’ ở Luân Đôn, và tờ ‘The National Catholic Reporter’ tại Hoa Kỳ.

Những giới chức quan tâm đã biết ít nhiều về ủy ban và đã mong ngóng biết bao nhiêu năm chờ Hội Thánh đưa ra một quyết định. Từ khoảng năm 1963 cho đến 1967, có hằng hà sa số các bài báo đề cập đến ngừa thai, phần lớn là ủng hộ. Chẳng hạn như thời đó đã có một cuốn sách do một vị Tổng Giám Mục viết với nhan đề “Ngừa Thai và Sự Thánh Thiện,” một tác phẩm bao gồm các bài báo do các đôi hôn phối cũng như một số người khác biên soạn nhằm cổ võ việc ngừa thai. Bản phúc trình của ủy ban được ‘xì’ ra có tác dụng như khêu bùng lên những ngọn lửa này, và qủa thật là như thế, nó đã đẩy cao hơn nữa những chờ mong của những kẻ đang muốn thấy một đổi thay.

Được ban hành vào tháng 7 năm 1968, MSCN nổ ra như một trái bom. Cho dù được rất nhiều người ủng hộ, nhưng phải nói thật rằng, chưa có một văn kiện nào lại bị chống đối mãnh liệt đến thế, nhất là sau khi được hai nhân vật thời danh khai đàng mở lối: LM Charles Curran và LM Bernard Haering.

Đây quả là một thời điểm lịch sử và cao điểm trong lịch sử Hội Thánh. Chống đối xẩy ra như cơm bữa hàng ngày. Trước khi có MSCN, chưa bao giờ đã xẩy ra như thế. Chưa bao giờ các thần học gia bất đồng đã lên tiếng công khai chống đối một vấn đề nào như vậy cả. Sự chống đối công khai đối với MSCN y như một dòng thác lũ đổ ập xuống trên lịch sử Hội Thánh. Có thể coi hiện tượng này như một kết tinh của một cái gì đó đã từ lâu sôi sục ngấm ngầm ở bên dưới, hay như một thứ xúc tác cho những gì sắp xẩy đến. Chẳng bao lâu sau, các thần học gia, và rồi có cả giáo dân nữa, đã không chỉ bất đồng về ngừa thai, mà còn bất đồng về đồng tính luyến ái, thủ dâm, ngoại tình, ly dị và nhiều vấn đề khác nữa.

Cho dù gặp chống đối, cho dù ngừa thai ngày càng được sử dụng tràn lan trong giới Công Giáo, Hội Thánh vẫn một mực chống lại ngừa thai và coi đó như một sai trái luân lý hiển nhiên. ĐGH Gioan Phaolô II đã coi việc chống lại ngừa thai như một trong những nền móng xây dựng triều giáo hoàng của ngài, và đã viết cũng như nói khá nhiều về đề tài này.

Thiết tưởng kinh nghiệm của những thập niên trước đây đã cho thấy Hội Thánh rất mực khôn ngoan trong xác quyết liên tục về giáo huấn của mình, bởi vì ta đã bắt đầu thấy rằng ngừa thai đang dẫn đến những sai trái lòng vòng lẩn quẩn trong xã hội; nó khơi nguồn cho cuộc cách mạng tình dục vốn dẫn đến những vụ có thai ngoài ý muốn và nhất là nạn phá thai. Nó khiến phụ nữ càng dễ trở thành nạn nhân của bóc lột phái tính xuất phát từ phía đàn ông. Qủa vậy, MSCN đã tiên đoán một suy đồi luân lý nếu ngừa thai ngày càng được sử dụng tràn lan, thiết tưởng thời đại ta đang sống đây gặp thấy cảnh suy đồi luân lý trầm trọng, nhất là về mặt tính dục. Chẳng cần phải dùng đến thống kê mới minh chứng được các hệ lụy của cuộc cách mạng tình dục, bởi vì ai mà chẳng biết những bệnh dịch lien quan đến thai nghén trong giới vị thành niên, những tật bệnh sinh lý, những cuộc ly dị, liệt kháng, v.v.?

Xã hội tây phương đã trải qua một biến đổi nhanh chóng về động thái dục tính và ít có người dám quả quyết về những nét tích cực. Tỉ như, mười năm trước đây cứ ba cặp mới có một cặp ly dị; hiện tại thì cứ hai thì có một. Mười năm trước đây, cứ mưới thì chỉ có bốn vị thành niên là ‘xung kích’ về mặt tính dục; bây giờ thì bốn đã thành sáu. Hai mươi hai phần trăm trẻ sơ sinh da trắng sinh ngoài hôn nhân; trong khi đó trong giới da đen thì lên đến sáu mươi bẩy phần trăm. Trong vài thập niên qua, số thai nhi bị phá đã lên đến hàng triệu triệu, và nguyên sự lan tràn của bệnh liệt kháng cũng đủ cho ta thấy đang có những vấn đề nghiêm trọng về dục tính. Thông kê của mười năm trước thật đen tối, nhưng sẽ còn tệ hại hơn nữa, các vấn đề đã tăng lên gấp đôi, gấp ba, thậm chí còn hơn thế nữa. Chưa có gì rõ ràng khiến ta bảo rằng đây đã là tột đỉnh gia tăng các vấn đề liên quan đến dục tính.

Thống kê thực sự không bắt chụp hết được những thảm họa của vô luân dục tính. Dục tính quá sớm và trước thời hạn đã khiến cho những cuộc hôn nhân tốt lành cũng như những nếp sống gia đình đạo hạnh không còn hình thành được nữa. Ít có ai dám phủ nhận rằng một dục tính lành mạnh và một đời sống gia đình vững chắc là một trong những yếu tố quan trọng nhất đem lại hạnh phúc và niềm vui sống cho con người. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy trong các gia đình vững chắc và an ninh, thì khó có những vấn đề về ruợu chè, phái tính, và hút sách; cũng ít thấy nơi đó xuất hiện những cá nhân mang triệu chứng thần kinh và tâm thần. Cá nhân lành mạnh sẽ không ưu tư đến vấn đề của mình, họ sẽ dễ trở thành những nhà lãnh đạo, sẵn sàng đương đầu với những vấn đề của.xã hội. Cho dù có rất nhiều người cha người mẹ độc thân phấn đấu hết mình để nuôi dậy con cái nên người, thì sự kiện đáng buồn vẫn là trong những gia đình đổ vỡ, con cái lớn lên dễ rơi vào vòng tội ác, dễ sa vào chốn nghiện ngập hút sách rượu chè, dễ trở thành những con người mang những rối loạn tâm lý.

Tuy nhiên, Hội Thánh không hề lên án việc sử dụng phương tiện ngừa thai bởi vì nó là một hành vi mang lại hậu quả xấu. Đúng hơn, Hội Thánh dậy rằng, vì ngừa thai là một hành vi tự nội sai trái, cho nên hẳn nhiên sẽ đưa đến những hậu quả tệ hại. Hôi Thánh dậy rằng ngừa thai là một điều ác, bởi vì nó vi phạm chính mục đích và bản chất của hành vi dục tính con người, và vì thế, vi phạm phẩm giá của nhân vị con người. Kinh nghiệm trong một vài thập niên vừa qua đã hoàn toàn hỗ trợ việc nhấn mạnh đến giáo huấn khôn ngoan của Hội Thánh. Thế nhưng, ta không phải chỉ hiểu biết giáo huấn Hội Thánh nhiều hơn trên phương diện thực hành; ngay cả trên phương diện lý thuyết, sự hiểu biết của ta cũng đã tiến bộ rất nhiều. Thông thường thì Hội Thánh không đưa ra đầy đủ, hoàn toàn tất cả những lý lẽ của điều mình giáo huấn mãi cho tới khi gặp phải những thách đố. Việc Hội Thánh lên án ngừa thai đã không bị thách thức suốt trong nhiều thế kỷ. Khi cố gắng giải thích điều mình lên án, Hội Thánh đã đào sâu sự hiểu biết của mình về hôn nhân và ý nghĩa của hành vi tính dục. Một lần nữa, ĐGH Gioan Phaolô II, khi chủ trương rằng hành vi tính dục mang ý nghĩa của sự trao hiến hoàn toàn, và ngừa thai chính là hành vi hạ giảm sự tự hiến này, ngài đã đóng góp rất lớn vào việc giúp ta thấu hiểu sự ác của ngừa thai.

Trước khi nói thêm về những lý lẽ khiến ngừa thai trở thành một sự ác, ta nên dựa vào một vài đoạn văn cho thấy sức mạnh liên lỉ trong lời giáo huấn của Hội Thánh chống lại ngừa thai. Luân thư “Casti Connubii” viết: “Nếu một điều tự nội đã đi ngược lại thiên nhiên thì không một lý do nào, dù nghiêm trọng đến mấy, có thể biện minh rằng nó phù hợp với tự nhiên và thiện hảo về mặt luân lý được. Do đó, vì hành vi vợ chồng tiên quyết được thiên nhiên sắp đặt để sinh ra con cái, cho nên những ai thực hiện hành vi ấy mà cố tình ngăn chận năng lực và mục đích tự nhiên, thì phạm tội chống lại thiên nhiên và thực hiện một hành vi đáng xấu hổ và sai trai tự nội…Bất kỳ một cách xử sự hôn nhân nào khiến cho hành vi vợ chồng cố tình ngăn chận năng lực tự nhiên là sinh ra mầm sống thì đó là xúc phạm đến luật Thiên Chúa và luật tự nhiên, và ai đồng phạm hành xử như thế thì mắc tội trọng.”

Trong khi đó luân thư MSCN lại viềt rằng: “Thế nhưng, khi giải thích luật tự nhiên qua giáo lý không đổi thay của mình, Hội Thánh nhắc nhở người nam cũng như người nữ phải tuân phục giáo huấn vốn đặt căn bản trên luật tự nhiên; Hội Thánh cũng dậy rằng mỗi một hành vi vợ chồng đều phải sẵn sàng mở ngỏ cho sự sinh sản mầm sống con người.” Số 12 thêm rằng: “Giáo lý mà Huấn Quyến Hội Thánh giải thích về vấn đề này như sau: Có một mối liên kết không thể phá vỡ được giữa ý nghĩa kết hợp và ý nghĩa sinh sản của hành vi vợ chồng, và cả hai vẫn tồn tại cố hữu trong hành vi ấy. Mối liên kết này do Thiên Chúa thiết lập, loài người không thể tùy ý phá vỡ.”

Hội Thánh lên án ngừa thai vì nó vi phạm cả hai ý nghĩa sinh sản và kết hợp trong hành vi tính dục con người. Ngừa thai làm hạ giảm một hành vi mà tự bản chất mang nặng và đầy tràn ý nghĩa, một ý nghĩa độc đáo riêng của hành vi tính dục. Dấn bước thực hiện một hành vi giao cấu tính dục mà lại ngăn ngừa thụ thai chính là dấn bước thực hiện một hành vi mang tiềm năng tạo thành mầm sống mới và cũng là một hành vi mang tiềm năng tạo thành những sợi dây ràng buộc đầy xúc cảm tuyệt diệu giữa người nam và người nữ, thế mà trong cùng một lúc lại cắt đứt những tiềm năng ấy. Phái tính là để sinh con và để nối kết; chưa sẵn sàng có con hoặc không muốn nối kết thì không được dấn bước thực hiện những hành vi giao cấu tính dục.

(còn một kỳ)