Chúa Nhật 26 TN A 2005
(Mt 21, 28-32)
Thưa quí vị.
Xin ý tứ kẻo chúng ta mắc bẫy chống người Do thái trong Tin mừng hôm nay và hai Chúa nhật nữa, những tá điền độc ác và đám cưới nhà vua bị khước từ (Mt 22, 14). Trong đó Chúa Giê-su tuyên bố: “Kẻ được gọi thì nhiều kẻ được chọn thì ít”. Ám chỉ các đầu mục Do thái từ chối ơn cứu độ của Chúa Giê-su. Phụng vụ cho chúng ta hay Chúa phải đối đầu với cấp lãnh đạo Do thái về sứ mệnh, giáo lý của Ngài. Giọng điệu bài đọc rất gay gắt, kể truyện hai người con trai, một người không vâng lời nhưng lại làm theo ý cha truyền, người khác mau mắn thuận theo nhưng lại từ chối công việc. Thánh Mattheo mở đầu bài đọc: “Đức Giê-su nói với thượng tế và kỳ mục trong dân…”Rồi ngài mượn lời Chúa Giê-su kết luận: “Phần các ông khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.” Các tuần tiếp theo cũng tương tự. Nó là chứng cớ xung đột giữa Chúa Giê-su và quyền bính Do thái. Xung đột này phần nào vẫn tồn tại nơi cộng đoàn thánh Mattheo, nên thánh nhân ghi lại để giáo dục.
Ngày nay, hoàn cảnh có khác đi, nhưng não trạng thì vẫn vậy. Nói cho cùng không phải những lãnh đạo giết Chúa Giê-su, nhưng giáo lý của họ, cho nên có tác giả đã gọi giáo lý ấy là thủ phạm chủ yếu giết con Đức Chúa Trời (murderous theology = giáo lý giết người). Não trạng này vẫn tồn tại trong các tôn giáo suốt dòng lịch sử nhân loại. Cho nên chúng ta phải tránh những bất công, biến các lãnh đạo Do thái thành đao phủ, dùng họ như những thí dụ xấu cho một đức tin bảo thủ, từ chối thông điệp và con người Chúa Giê-su. Tốt hơn, chúng ta nên phân biệt rõ tội lỗi và tội nhân trong sứ điệp của bài đọc hôm nay, và tìm ra chân lý liên hệ với thời hiện tại. Người ta thường nói bản tính con người không thay đổi từ khi sa ngã, nếu có thay đổi thì cũng chẳng đáng kể. Tuy nhiên tuyên bố không áp dụng cho văn minh vật chất. Những người làm tôn giáo luôn có khuynh hướng biến việc tuân thủ lề luật và vâng lời thành hình thức biểu diễn như đóng kịch mà không có thực chất nâng đỡ. Hay dùng lời Chúa Giê-su: Họ nói mà không làm. Tức giảng dạy mà không thi hành. Ca tụng nghèo khó mà không thấy dấu chỉ nào trong cuộc sống của mình, dù tập thể hay cá nhân. Lúc này chúng ta nhìn vào bối cảnh của câu truyện: Quyền bính đền thờ thách thức Chúa Giê-su và Ngài phản ứng lại, hỏi xem phép rửa của Gioan Tẩy giả bởi đâu mà ra, bởi Thiên Chúa hay bởi nhân loại? (21, 25). Các lãnh đạo Do thái ương ngạnh không trả lời. Họ chỉ nói gọn nhẹ: Chúng tôi không biết. Bởi nếu công nhận nguồn gốc phép rửa ấy là Thần linh, họ cũng phải chấp nhận tính “bởi trời” của các việc Ngài làm. Vì thánh Gioan đã nói về Chúa Giê-su cho dân chúng nghe bên sông Giodanô: Ngài sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và lửa (3, 11).
Tiếp tục Ngài kể cho họ dụ ngôn hai người con được cha sai đi làm vườn nho. Ngài giữ họ trong câu truyện để tỏ rõ tính cứng đầu, cứng cổ của họ đối với giáo lý của Ngài. “Các ông nghĩ sao?” là câu hỏi Chúa đặt ra cho họ, rồi Ngài kết luận: “Ai trong hai người con đó làm theo ý cha mình?” Nói cách khác, ai trong hai hạng người của nhân loại thực hiện ý Đức Chúa Trời? Đĩ điếm hay thế lực đền thờ? Thật khó trả lời, bởi lẽ lương tâm là quan toà không dễ lừa dối. Giả dụ quyền bính đền thờ diễn lại câu truyện, hẳn họ phải từ bỏ lối sống hiện thời mà tin nhận Chúa Giê-su. Việc mà trong hoàn cảnh lúc ấy và cho đến muôn đời họ không làm được. Ngày nay cũng vậy thôi, nếu chúng ta không chịu đổi thay con tim và khối óc theo sự chỉ dẫn của Chúa Thánh Thần, sự thật và lẽ phải. Rõ ràng thay đổi một cái nhìn khó biết bao! Chúa Giê-su mong đợi quyền bính đền thờ đổi thay não trạng từ nói “không” sang “có” với thông điệp cứu rỗi của Đức Chúa Trời, như người con cả trong dụ ngôn. Ước mong của Ngài chẳng bao giờ thành hiện thực. Liệu chúng ta là thính giả ngày nay có làm Chúa vui lòng không? Chúng ta có giám từ bỏ giáo lý giết người, để ôm ấp quan điểm của Chúa Giê-su nhân ái và tốt bụng không? Người Do thái đã làm lỡ mất cơ hội, liệu chúng ta có khôn hơn họ mà mở lòng ra cho Lời Chúa thâm nhập? Chúng ta thường công khai tuyên xưng đức tin, nhưng ít khi thực hành đức tin ấy cho thiên hạ xem thấy, tương tự như thắp đèn rồi lấy thùng đậy lại. Trong bản tiếng Anh và nhiều thứ ngôn ngữ khác, dịch câu trả lời của người con dễ đưa đến hiểu lầm: “yes, sir” thưa ông vâng. Chính xác phải dịch là “Thưa Chúa, vâng” (kyrie). Tiếng Việt Nam khá hơn: “Thưa ngài, con đây”. Bởi lẽ câu này vang vọng lời Chúa trong một dịp khác: “Qủa thật, quả thật ta nói cho anh em hay, không phải bất cứ ai thưa với Thày “Lạy Chúa, lạy Chúa” là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thày, Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (7, 21). Hai bản văn ăn khớp với nhau để nhấn mạnh tuyên bố của Chúa Giê-su và thánh ý của Đức Chúa Trời.
Nghĩa là Chúa mong đợi những ai theo Ngài, tuyên xưng đức tin vào Ngài, gọi Ngài là “Chúa”, thì phải thi hành những điều Ngài chỉ bảo. Dịp khác Chúa nói rõ hơn: Yêu mến Thày là tuân giữ các giới răn của thày. Cho nên vấn đề không phải của lãnh đạo Do thái mà thôi, mà mọi nơi, mọi thời. Tiên tri Ezechiel sau khi đã trưng ra sự trừng phạt Gierusalem và thời đi đầy, đã nói đến trách nhiệm cá nhân trong bài đọc một: “Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình, và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó làm mà nó phải chết”. Trách nhiệm chúng ta là phải làm theo ý Đức Chúa trời. Chúng ta phải phản ánh Lời Chúa trong cuộc sống mình. Khi cử hành Phụng vụ, cầu nguyện, làm việc thiện, chúng ta tuyên xưng Đức Giê-su bằng danh hiệu “Chúa”, thì phải thực hành những nội dung của lời kêu xin. Nhưng thường khi quyên lãng, vì vậy trước Thánh lễ hôm nay, chúng ta kêu xin Chúa: Lord have mercy, Christ have mercy, Lord have mercy: Xin Chúa thương xót, xin Chúa Kitô thương xót, xin Chúa thương xot. Nhưng tôi cam đoan chẳng ai dám nói rõ những ai là kẻ có lỗi, ai không? Cho nên dụ ngôn chỉ ra các trường hợp ăn năn thống hối để chúng ta noi gương. Người đời thường nói: Bộ diện va lời nói có thể lừa dối. Nếu thiếu phán đoán, khi thoạt nghe người con thứ nhất trả lời bố: con không đi. Chúng ta lập tức cho hắn là hư hỏng, không vâng lời cha. Cũng vậy, với người con thứ hai ngọt ngào: con sẽ đi, chúng ta liền cho hắn là đứa ngoan. Chúng ta vỗ lưng hắn khen, tốt quá, đứa con dễ bảo, và còn thêm: chắc chắn ba mày hãnh diện về mày. Nhưng thực tế có đúng như vậy đâu. Đứa con thứ hai mới là đứa con hư, không vâng lời bố. Bé cái lầm. Biết bao lần thiên hạ đã mắc bẫy như vậy, vì hồ đồ, tưởng tượng. Cầu xin Thánh Linh giúp chúng ta tránh được hoàn cảnh này càng nhiều càng tốt, tuy không tránh khỏi hoàn toàn vì yếu đuối con người.
Tôi cảm thấy rằng trong dụ ngôn, hai người con có rất nhiều thời gian và không gian. Sau lời đề nghị của bố, họ có cơ hội suy nghĩ, không vội vàng phản ứng. Người con thứ hai có thể chu toàn câu trả lời “có” của mình, không ai thúc giục và người con thứ nhất cũng có thể thay đổi ý kiến. Phải chăng thánh Mattheo đã cho chúng ta cơ hội để thi hành thánh ý Đức Chúa Trời? Nếu chúng ta nhận ra lẽ phải và lợi dụng thời gian. Các lãnh đạo Do thái cũng có cơ may như vậy. Họ có đủ thời giờ để vâng theo tiếng Chúa Giê-su kêu gọi. Nhưng họ cố tình bịt tai, bởi Chúa Giê-su không có địa vị nào khiến họ chú ý lắng nghe. Ngài chẳng qua là một thanh niên vô danh tiểu tốt, làm nghề thợ mộc, đi lang thang rao giảng những điều khác với truyền thống. Cho nên họ đã chất vấn Ngài: “Ông lấy quyền nào mà làm những điều ấy”. Thực ra sự thật tự nó đã là một thứ quyền bính mà người ta không thể cưỡng lại được. Đến đây chúng ta lại thấy thành ngữ giáo lý giết người (murderous theology) là có lý. Bởi nó bịt mắt con người không cho phép trông thấy sự thật. Vì lẽ đó, Chúa Giê-su cầu xin Chúa Cha tha thứ cho họ, vì lầm không biết. Tin mừng là cuốn sách kể truyện đời xưa, nhưng cũng là cuốn sách của thời bây giờ. Vậy trước Thánh thể nó khởi động lại câu truyện của hai người con cho chúng ta suy nghĩ. Chúng ta cũng có nhiều thời giờ để lựa chọn: Thái độ của người con thứ nhất hay hành xử của người con thứ hai? chúng ta cùng nhau cầu nguyện để biết trả lời thế nào cho yêu cầu của “Chúa
” làm vườn nho cho Ngài trong cuộc sống hằng ngày, như là mỗi cá nhân? Phải trả lời thế nào cho Chúa mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính: Tôi tin kính Đức Giê-su Kitô, là Thiên Chúa và là Chúa chúng tôi trong thời đại đầy nhiễu nhương này? Thời đại đòi hỏi nhiều hy sinh chứng tá? Phải chăng vườn nho Giáo hội đòi hỏi nhiều tay thợ “lành nghề” hơn là thợ chỉ biết khoa trương môi miệng? Liệu chúng ta có trung thực công bố danh thánh Đức Chúa trong cuộc sống mình? Nếu trung thực thì lời phán xét của Chúa trong ngày sau hết mà thánh Mattheo ghi lại không làm cho chúng ta sợ hãi. Trái lại vui mừng, vì danh Chúa đã được biểu dương, thờ phượng: “Xưa ta đói các ngươi đã cho ta ăn, ta khát các ngươi đã cho uống, ta mình trần các ngươi đã cho mặc, ta là khách lạ các ngươi đã tiếp rước, ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm.” (25, 31). Nếu không dụ ngôn còn cho ta cơ hội để cải tổ, nó khuyến khích chúng ta thay đổi suy nghĩ và khởi sự những chi con cái Thiên Chúa phải thực hiện để được vào Nước trời.
Một dòng chữ của dụ ngôn gây cho tôi ấn tượng nhất, an ủi và thách thức tôi nhất, là khi nói về người con thứ nhất. Dòng chữ đó là :” Hắn thay đổi ý nghĩ”. Thánh Mattheo viết như sau: “Nó đáp, con không muốn, nhưng sau đó nó hối hận nên lại đi”. Chi tiết nhỏ nhưng tính vĩ đại của nó nằm trong việc thi hành ý muốn của cha mình. Nhiều lần tôi trầm ngâm trước câu văn này: Nó bảo đảm với linh hồn tôi và mọi người rằng, cho đến lúc qua đời, chấm dứt mọi hành động thì chẳng có chi kết liễu, chẳng có chi cố định, chẳng có chi khoá chặt lại. Người ta còn cơ hội đổi thay. Không nhất thiết tôi vẫn tiếp tục nếp sống xưa cũ. Tôi còn khả năng thay đổi, còn khả năng trở nên hoàn thiện, bắt đầu một cuộc sống mới. Giây phút này là tội nhân, giây phút sau có thể là thánh nếu tôi tích cực nghe theo ơn Chúa Thánh Thần thúc giục. Vì vậy, thánh Phaolô trong bài đọc hai viết cho tín hữu thành Philipphê: “Thưa anh em nếu quả thật, sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta niềm an ủi, nếu tình bác ai khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn ven.” Thánh nhân kêu gọi sự thánh thiện nơi các tín hữu, trở về với cảm tính thiêng liêng. Ngài khuyên nhủ họ trong Đức Kitô để cùng nhau dự yến tiệc hiệp thông trong Thần khí: Bắt chước Đức Kitô tận thâm tâm, từ đó nẩy sinh vui mừng và an ủi. Thánh nhân đã dùng đến công thức ba ngôi trong lời kêu gọi: liên kết với Đức Kitô, khích lệ của Chúa Cha (bác ái) và hiệp thông trong Thần khí. Lời kêu gọi như vậy rất mạnh mẽ. Các tín hữu Philipphê phải nên thánh, trở về cùng Đức Chúa Trời, thi hành thánh ý Ngài như người con cả trong dụ ngôn hôm nay. Sau đó ngài cao hứng chép toàn bộ lời kinh Phụng vụ của cộng đoàn tín hữu tiên khởi, ca tụng nhân đức của Chúa Giê-su. Bài ca này, Phụng vụ cho chúng ta đọc thường xuyên trong kinh chiều, ngõ hầu nhớ lại gương sáng của Chúa Giê-su trong đời sống tín hữu.
Như vậy trước thánh thể hôm nay, chúng ta được Chúa kêu gọi thay đổi cuộc sống. Thánh thể là của ăn thức uống nuôi dưỡng ước vọng ấy. Tôi nghe như người con cả trong thâm tâm khích lệ mình quay trở về với lời mời gọi của Thiên Chúa, thay đổi não trạng và nếp sống. “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông”. Là lời cảnh cáo nghiêm khắc, nếu tôi không thay đổi con người mình. Chúa không đưa ra lời doạ dẫm trống rỗng, nhưng là một lời khuyên chân thật. Liệu tôi có đủ thiện chí lắng nghe? Cuộc đời tôi đã rập khuân theo những thói quen khó bỏ, gần giống như bản tính thứ hai. tôi có nhiều nguy cơ chống lại lời mời gọi nên hoàn thiện của Chúa Thánh Thần. Giống như người con thứ hai, mau mắn vâng lời cha, nhưng kỳ thực vẫn ù lỳ trong các thòi xấu của mình: ươn lười, hưởng thụ, tiện nghi, dễ dãi, khoái lạc. Lạy Chúa Giê-su, đấng kể dụ ngôn cho nhân loại, xin thức tỉnh lương tâm chúng con. Amen.
(Mt 21, 28-32)
Thưa quí vị.
Xin ý tứ kẻo chúng ta mắc bẫy chống người Do thái trong Tin mừng hôm nay và hai Chúa nhật nữa, những tá điền độc ác và đám cưới nhà vua bị khước từ (Mt 22, 14). Trong đó Chúa Giê-su tuyên bố: “Kẻ được gọi thì nhiều kẻ được chọn thì ít”. Ám chỉ các đầu mục Do thái từ chối ơn cứu độ của Chúa Giê-su. Phụng vụ cho chúng ta hay Chúa phải đối đầu với cấp lãnh đạo Do thái về sứ mệnh, giáo lý của Ngài. Giọng điệu bài đọc rất gay gắt, kể truyện hai người con trai, một người không vâng lời nhưng lại làm theo ý cha truyền, người khác mau mắn thuận theo nhưng lại từ chối công việc. Thánh Mattheo mở đầu bài đọc: “Đức Giê-su nói với thượng tế và kỳ mục trong dân…”Rồi ngài mượn lời Chúa Giê-su kết luận: “Phần các ông khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy.” Các tuần tiếp theo cũng tương tự. Nó là chứng cớ xung đột giữa Chúa Giê-su và quyền bính Do thái. Xung đột này phần nào vẫn tồn tại nơi cộng đoàn thánh Mattheo, nên thánh nhân ghi lại để giáo dục.
Ngày nay, hoàn cảnh có khác đi, nhưng não trạng thì vẫn vậy. Nói cho cùng không phải những lãnh đạo giết Chúa Giê-su, nhưng giáo lý của họ, cho nên có tác giả đã gọi giáo lý ấy là thủ phạm chủ yếu giết con Đức Chúa Trời (murderous theology = giáo lý giết người). Não trạng này vẫn tồn tại trong các tôn giáo suốt dòng lịch sử nhân loại. Cho nên chúng ta phải tránh những bất công, biến các lãnh đạo Do thái thành đao phủ, dùng họ như những thí dụ xấu cho một đức tin bảo thủ, từ chối thông điệp và con người Chúa Giê-su. Tốt hơn, chúng ta nên phân biệt rõ tội lỗi và tội nhân trong sứ điệp của bài đọc hôm nay, và tìm ra chân lý liên hệ với thời hiện tại. Người ta thường nói bản tính con người không thay đổi từ khi sa ngã, nếu có thay đổi thì cũng chẳng đáng kể. Tuy nhiên tuyên bố không áp dụng cho văn minh vật chất. Những người làm tôn giáo luôn có khuynh hướng biến việc tuân thủ lề luật và vâng lời thành hình thức biểu diễn như đóng kịch mà không có thực chất nâng đỡ. Hay dùng lời Chúa Giê-su: Họ nói mà không làm. Tức giảng dạy mà không thi hành. Ca tụng nghèo khó mà không thấy dấu chỉ nào trong cuộc sống của mình, dù tập thể hay cá nhân. Lúc này chúng ta nhìn vào bối cảnh của câu truyện: Quyền bính đền thờ thách thức Chúa Giê-su và Ngài phản ứng lại, hỏi xem phép rửa của Gioan Tẩy giả bởi đâu mà ra, bởi Thiên Chúa hay bởi nhân loại? (21, 25). Các lãnh đạo Do thái ương ngạnh không trả lời. Họ chỉ nói gọn nhẹ: Chúng tôi không biết. Bởi nếu công nhận nguồn gốc phép rửa ấy là Thần linh, họ cũng phải chấp nhận tính “bởi trời” của các việc Ngài làm. Vì thánh Gioan đã nói về Chúa Giê-su cho dân chúng nghe bên sông Giodanô: Ngài sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và lửa (3, 11).
Tiếp tục Ngài kể cho họ dụ ngôn hai người con được cha sai đi làm vườn nho. Ngài giữ họ trong câu truyện để tỏ rõ tính cứng đầu, cứng cổ của họ đối với giáo lý của Ngài. “Các ông nghĩ sao?” là câu hỏi Chúa đặt ra cho họ, rồi Ngài kết luận: “Ai trong hai người con đó làm theo ý cha mình?” Nói cách khác, ai trong hai hạng người của nhân loại thực hiện ý Đức Chúa Trời? Đĩ điếm hay thế lực đền thờ? Thật khó trả lời, bởi lẽ lương tâm là quan toà không dễ lừa dối. Giả dụ quyền bính đền thờ diễn lại câu truyện, hẳn họ phải từ bỏ lối sống hiện thời mà tin nhận Chúa Giê-su. Việc mà trong hoàn cảnh lúc ấy và cho đến muôn đời họ không làm được. Ngày nay cũng vậy thôi, nếu chúng ta không chịu đổi thay con tim và khối óc theo sự chỉ dẫn của Chúa Thánh Thần, sự thật và lẽ phải. Rõ ràng thay đổi một cái nhìn khó biết bao! Chúa Giê-su mong đợi quyền bính đền thờ đổi thay não trạng từ nói “không” sang “có” với thông điệp cứu rỗi của Đức Chúa Trời, như người con cả trong dụ ngôn. Ước mong của Ngài chẳng bao giờ thành hiện thực. Liệu chúng ta là thính giả ngày nay có làm Chúa vui lòng không? Chúng ta có giám từ bỏ giáo lý giết người, để ôm ấp quan điểm của Chúa Giê-su nhân ái và tốt bụng không? Người Do thái đã làm lỡ mất cơ hội, liệu chúng ta có khôn hơn họ mà mở lòng ra cho Lời Chúa thâm nhập? Chúng ta thường công khai tuyên xưng đức tin, nhưng ít khi thực hành đức tin ấy cho thiên hạ xem thấy, tương tự như thắp đèn rồi lấy thùng đậy lại. Trong bản tiếng Anh và nhiều thứ ngôn ngữ khác, dịch câu trả lời của người con dễ đưa đến hiểu lầm: “yes, sir” thưa ông vâng. Chính xác phải dịch là “Thưa Chúa, vâng” (kyrie). Tiếng Việt Nam khá hơn: “Thưa ngài, con đây”. Bởi lẽ câu này vang vọng lời Chúa trong một dịp khác: “Qủa thật, quả thật ta nói cho anh em hay, không phải bất cứ ai thưa với Thày “Lạy Chúa, lạy Chúa” là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thày, Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (7, 21). Hai bản văn ăn khớp với nhau để nhấn mạnh tuyên bố của Chúa Giê-su và thánh ý của Đức Chúa Trời.
Nghĩa là Chúa mong đợi những ai theo Ngài, tuyên xưng đức tin vào Ngài, gọi Ngài là “Chúa”, thì phải thi hành những điều Ngài chỉ bảo. Dịp khác Chúa nói rõ hơn: Yêu mến Thày là tuân giữ các giới răn của thày. Cho nên vấn đề không phải của lãnh đạo Do thái mà thôi, mà mọi nơi, mọi thời. Tiên tri Ezechiel sau khi đã trưng ra sự trừng phạt Gierusalem và thời đi đầy, đã nói đến trách nhiệm cá nhân trong bài đọc một: “Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình, và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó làm mà nó phải chết”. Trách nhiệm chúng ta là phải làm theo ý Đức Chúa trời. Chúng ta phải phản ánh Lời Chúa trong cuộc sống mình. Khi cử hành Phụng vụ, cầu nguyện, làm việc thiện, chúng ta tuyên xưng Đức Giê-su bằng danh hiệu “Chúa”, thì phải thực hành những nội dung của lời kêu xin. Nhưng thường khi quyên lãng, vì vậy trước Thánh lễ hôm nay, chúng ta kêu xin Chúa: Lord have mercy, Christ have mercy, Lord have mercy: Xin Chúa thương xót, xin Chúa Kitô thương xót, xin Chúa thương xot. Nhưng tôi cam đoan chẳng ai dám nói rõ những ai là kẻ có lỗi, ai không? Cho nên dụ ngôn chỉ ra các trường hợp ăn năn thống hối để chúng ta noi gương. Người đời thường nói: Bộ diện va lời nói có thể lừa dối. Nếu thiếu phán đoán, khi thoạt nghe người con thứ nhất trả lời bố: con không đi. Chúng ta lập tức cho hắn là hư hỏng, không vâng lời cha. Cũng vậy, với người con thứ hai ngọt ngào: con sẽ đi, chúng ta liền cho hắn là đứa ngoan. Chúng ta vỗ lưng hắn khen, tốt quá, đứa con dễ bảo, và còn thêm: chắc chắn ba mày hãnh diện về mày. Nhưng thực tế có đúng như vậy đâu. Đứa con thứ hai mới là đứa con hư, không vâng lời bố. Bé cái lầm. Biết bao lần thiên hạ đã mắc bẫy như vậy, vì hồ đồ, tưởng tượng. Cầu xin Thánh Linh giúp chúng ta tránh được hoàn cảnh này càng nhiều càng tốt, tuy không tránh khỏi hoàn toàn vì yếu đuối con người.
Tôi cảm thấy rằng trong dụ ngôn, hai người con có rất nhiều thời gian và không gian. Sau lời đề nghị của bố, họ có cơ hội suy nghĩ, không vội vàng phản ứng. Người con thứ hai có thể chu toàn câu trả lời “có” của mình, không ai thúc giục và người con thứ nhất cũng có thể thay đổi ý kiến. Phải chăng thánh Mattheo đã cho chúng ta cơ hội để thi hành thánh ý Đức Chúa Trời? Nếu chúng ta nhận ra lẽ phải và lợi dụng thời gian. Các lãnh đạo Do thái cũng có cơ may như vậy. Họ có đủ thời giờ để vâng theo tiếng Chúa Giê-su kêu gọi. Nhưng họ cố tình bịt tai, bởi Chúa Giê-su không có địa vị nào khiến họ chú ý lắng nghe. Ngài chẳng qua là một thanh niên vô danh tiểu tốt, làm nghề thợ mộc, đi lang thang rao giảng những điều khác với truyền thống. Cho nên họ đã chất vấn Ngài: “Ông lấy quyền nào mà làm những điều ấy”. Thực ra sự thật tự nó đã là một thứ quyền bính mà người ta không thể cưỡng lại được. Đến đây chúng ta lại thấy thành ngữ giáo lý giết người (murderous theology) là có lý. Bởi nó bịt mắt con người không cho phép trông thấy sự thật. Vì lẽ đó, Chúa Giê-su cầu xin Chúa Cha tha thứ cho họ, vì lầm không biết. Tin mừng là cuốn sách kể truyện đời xưa, nhưng cũng là cuốn sách của thời bây giờ. Vậy trước Thánh thể nó khởi động lại câu truyện của hai người con cho chúng ta suy nghĩ. Chúng ta cũng có nhiều thời giờ để lựa chọn: Thái độ của người con thứ nhất hay hành xử của người con thứ hai? chúng ta cùng nhau cầu nguyện để biết trả lời thế nào cho yêu cầu của “Chúa
” làm vườn nho cho Ngài trong cuộc sống hằng ngày, như là mỗi cá nhân? Phải trả lời thế nào cho Chúa mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính: Tôi tin kính Đức Giê-su Kitô, là Thiên Chúa và là Chúa chúng tôi trong thời đại đầy nhiễu nhương này? Thời đại đòi hỏi nhiều hy sinh chứng tá? Phải chăng vườn nho Giáo hội đòi hỏi nhiều tay thợ “lành nghề” hơn là thợ chỉ biết khoa trương môi miệng? Liệu chúng ta có trung thực công bố danh thánh Đức Chúa trong cuộc sống mình? Nếu trung thực thì lời phán xét của Chúa trong ngày sau hết mà thánh Mattheo ghi lại không làm cho chúng ta sợ hãi. Trái lại vui mừng, vì danh Chúa đã được biểu dương, thờ phượng: “Xưa ta đói các ngươi đã cho ta ăn, ta khát các ngươi đã cho uống, ta mình trần các ngươi đã cho mặc, ta là khách lạ các ngươi đã tiếp rước, ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm.” (25, 31). Nếu không dụ ngôn còn cho ta cơ hội để cải tổ, nó khuyến khích chúng ta thay đổi suy nghĩ và khởi sự những chi con cái Thiên Chúa phải thực hiện để được vào Nước trời.
Một dòng chữ của dụ ngôn gây cho tôi ấn tượng nhất, an ủi và thách thức tôi nhất, là khi nói về người con thứ nhất. Dòng chữ đó là :” Hắn thay đổi ý nghĩ”. Thánh Mattheo viết như sau: “Nó đáp, con không muốn, nhưng sau đó nó hối hận nên lại đi”. Chi tiết nhỏ nhưng tính vĩ đại của nó nằm trong việc thi hành ý muốn của cha mình. Nhiều lần tôi trầm ngâm trước câu văn này: Nó bảo đảm với linh hồn tôi và mọi người rằng, cho đến lúc qua đời, chấm dứt mọi hành động thì chẳng có chi kết liễu, chẳng có chi cố định, chẳng có chi khoá chặt lại. Người ta còn cơ hội đổi thay. Không nhất thiết tôi vẫn tiếp tục nếp sống xưa cũ. Tôi còn khả năng thay đổi, còn khả năng trở nên hoàn thiện, bắt đầu một cuộc sống mới. Giây phút này là tội nhân, giây phút sau có thể là thánh nếu tôi tích cực nghe theo ơn Chúa Thánh Thần thúc giục. Vì vậy, thánh Phaolô trong bài đọc hai viết cho tín hữu thành Philipphê: “Thưa anh em nếu quả thật, sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta niềm an ủi, nếu tình bác ai khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn ven.” Thánh nhân kêu gọi sự thánh thiện nơi các tín hữu, trở về với cảm tính thiêng liêng. Ngài khuyên nhủ họ trong Đức Kitô để cùng nhau dự yến tiệc hiệp thông trong Thần khí: Bắt chước Đức Kitô tận thâm tâm, từ đó nẩy sinh vui mừng và an ủi. Thánh nhân đã dùng đến công thức ba ngôi trong lời kêu gọi: liên kết với Đức Kitô, khích lệ của Chúa Cha (bác ái) và hiệp thông trong Thần khí. Lời kêu gọi như vậy rất mạnh mẽ. Các tín hữu Philipphê phải nên thánh, trở về cùng Đức Chúa Trời, thi hành thánh ý Ngài như người con cả trong dụ ngôn hôm nay. Sau đó ngài cao hứng chép toàn bộ lời kinh Phụng vụ của cộng đoàn tín hữu tiên khởi, ca tụng nhân đức của Chúa Giê-su. Bài ca này, Phụng vụ cho chúng ta đọc thường xuyên trong kinh chiều, ngõ hầu nhớ lại gương sáng của Chúa Giê-su trong đời sống tín hữu.
Như vậy trước thánh thể hôm nay, chúng ta được Chúa kêu gọi thay đổi cuộc sống. Thánh thể là của ăn thức uống nuôi dưỡng ước vọng ấy. Tôi nghe như người con cả trong thâm tâm khích lệ mình quay trở về với lời mời gọi của Thiên Chúa, thay đổi não trạng và nếp sống. “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông”. Là lời cảnh cáo nghiêm khắc, nếu tôi không thay đổi con người mình. Chúa không đưa ra lời doạ dẫm trống rỗng, nhưng là một lời khuyên chân thật. Liệu tôi có đủ thiện chí lắng nghe? Cuộc đời tôi đã rập khuân theo những thói quen khó bỏ, gần giống như bản tính thứ hai. tôi có nhiều nguy cơ chống lại lời mời gọi nên hoàn thiện của Chúa Thánh Thần. Giống như người con thứ hai, mau mắn vâng lời cha, nhưng kỳ thực vẫn ù lỳ trong các thòi xấu của mình: ươn lười, hưởng thụ, tiện nghi, dễ dãi, khoái lạc. Lạy Chúa Giê-su, đấng kể dụ ngôn cho nhân loại, xin thức tỉnh lương tâm chúng con. Amen.