Tản mạn về chế độ "ăn uống nhà tu"nhân dịp thăm vị giám mục trẻ
Một buổi chiều, tôi đến thăm một vị giám mục trẻ. Khoảng thời gian ngắn ngủi chưa đến ba mươi phút nhưng câu chuyện trao đổi giữa tôi và Đức Cha làm cho những dấu ấn mạnh mẽ được ghi vào lòng tôi từ lâu bỗng bật dậy. Tôi nghĩ nhiều đến bệnh tật, việc tu hành và “ăn để mà sống”.
Nhìn một thùng lớn đầy ắp những quả bưởi to, đính kèm một gói muối ớt, để ở phòng khách của Đức Cha, tôi được nghe giải thích rằng: người bị thứ bệnh cơ thể không hấp thụ được đường, lượng đường phải thoát ra bằng lối bài tiết thì không được ăn các loại cây trái khác ngoài bưởi và có chế độ ăn uống khá nghiêm ngặt.
Tôi thầm nghĩ bệnh tật là một hiện tượng làm ai cũng sợ hãi và thái độ của những người đang có bệnh cũng khác nhau rất nhiều. Kẻ lạc quan, người cam chịu, ai đó buông xuôi, có người bất mãn muốn tìm cách lẩn trốn … Trong Tin Mừng người ta không thấy ghi lại Đức GiêSu bị bệnh gì cả. Có phải vì là Thiên Chúa nên Ngài không có bệnh gì chăng? Không đâu, đã làm người thì ai cũng “Sinh, bệnh, lão, tử” nhưng chắc là một vài thứ bệnh lặt vặt do thời tiết, môi trường, v.v... không làm ảnh hưởng đến quá trình rao giảng của Ngài. Thái độ khi mang bệnh là một vấn đề cũng không kém phần quan trọng. Tôi thầm nghĩ: nếu Đức GiêSu có một căn bệnh và tỏ một thái độ khi mang chứng bệnh đó thì chác là chúng ta đã có một khuôn mẫu để sống với bệnh khi ở trần gian. Phải chăng Ngài muốn chúng ta thẩm thấu tim mình để cảm nghiệm ra cần phải nghĩ gì, làm gì khi mắc bệnh trong vị trí người KyTô hữu.
Việc “ăn để mà sống” có nhiều đều đáng nói. Nhưng hôm nay tôi chú ý đến chuyện ăn uống của người tu hành. Ngay từ khi đáp lại lời mời gọi thiêng liêng để sống một cuộc đời dâng hiến, người tu hành đã phải nhận ra một khoảng tự do bị mất đi, một sự hy sinh nhỏ bé trong việc ăn uống nhất là những người sống đời tận hiến trong cộng đoàn; Ăn có giờ giấc, không hẳn là được ăn uống những gì mình thích, chắc là không được thưởng thức thỏa thuê món mình ưa chuộng… Tất cả dành cho sự TIẾT ĐỘ.
Nhớ lại một chút, có lần tôi đến thăm vị ni cô đang trụ trì chùa B.Đ, sư cô cảm nặng mà chỉ ăn một chén cháo đậu đen nấu chung với đậu đỏ. Tôi e ngại mà không dám nói vì ăn như thế thì làm sao có sức mà lướt qua căn bệnh (tôi mà cảm cúm như thế là phải một ly cối sữa tươi và một tô phở lớn). Đi công tác xã hội tận Sóc Trăng thế mà các sư cô chỉ ăn một chút bánh mì hoặc cơm chay. Tôi không chịu nổi phải tạt vào chợ ăn thêm còn các cô vẫn vô tư cười. Điều đó có hợp lý không? Chế độ dinh dưỡng kham khổ dẫn đến hậu quả thế nào?
Khi được học thần học chung với các nữ tu ở Đại Chủng Viện khóa đầu tiên vào những năm 1990, buổi trưa tôi thấy các chị mang cơm theo ngồi thành vòng tròn với những món ăn rất đơn sơ. Khi đi ngang, tôi lịch sự: “Chúc các chị một bữa trưa ngon miệng nhé!”. Một chị trả lời: “ Cám ơn nha! Đi ăn cơm tiệm như chị thì thích quá nhỉ!”. Câu nói đơn sơ mà chứa đựng một chút tâm lý rất tự nhiên. Ngồi quây quần ăn đơn giản trong tiếng cười nói như các chị thì vui hơn hay là ăn những món ngon vừa ý muốn mà trong cô quạnh như tôi thì có thích hơn không?
Có phải kẻ tầm thường coi miếng ăn là trọng, người bình thường phải ăn để mà sống, người quân tử khác thường thì món ăn của họ là những việc tinh thần còn dường như chuyện ăn uống đời thường càng không là gì cả?
Cũng trong khóa học đó một chị nữ tu có cái tên khá lạ là Nguyễn Thị Cung Phi, ngồi cạnh tôi trong những ngày học môn Tín Lý, chị ngồi nghiêm túc ghi chép cẩn thận còn tôi thì lơ là, ít tập trung. Gần ngày thi tôi mượn vở của chị rồi cô đọng các bài lại để ôn trong một buổi, rồi yên tâm chờ đến lúc làm bài kiểm tra. Còn chị thì dần dà đuối sức, rồi vật vờ và kết quả là không đến thi được. Từ trong thâm tâm, tôi thấy có một cái gì đó không ổn nhưng đến bây giờ tôi vẫn không giải thích được cảm xúc trong lòng lúc đó.
Những người đang dấn thân phục vụ trong sức trẻ thì có được phép chuẩn bị đường dài cho tuổi già của mình không? Vì nếu không được vun quén đúng mức, khi tuổi già ập đến sẽ có khá nhiều lỗ hổng để bệnh tật chui qua.
Dưới cái nhìn của tôi, những người bị bệnh mà phải tránh điều này điều nọ, món này món kia thì như đang thực hiện một cuộc tử đạo từng phần trong cuộc đời, dẫu nguyên nhân của bệnh có thế nào đi nữa, người bệnh vẫn có thể hiệp thông sự đớn đau ấy trên cây thập tự, nơi có Đức GiêSu, một con người khỏe mạnh bình thường mà phải đi ngang qua cái chết vừa đau đớn, vừa tức tưởi, không có gì trả giá được ngoài yêu thương; Thật diễm phúc cho người biết hiệp thông với sự đau đớn ấy!
Thiên Chúa tế nhị hay vô tình khi che kín con mắt loài người về những bí mật đằng sau cái chết; làm cho thế gian đón nhận sự chết với muôn vàn thái độ khác nhau, nhất là những người mang tật bệnh. Diễm phúc cho người biết phó thác; buồn thay cho người đã buông xuôi; riêng những người KyTô hữu được hạnh phúc là có một cái nhìn chung sau cái chết. Đó là niềm tin, niềm hy vọng vào một đời sống trọn vẹn, vĩnh cửu dựa vào tình yêu của Thiên Chúa.
Dựa vào niềm tin đó dù bệnh tật, bất hạnh gian nan hay an bình no đủ, chúng ta đón nhận tất cả những gì xảy đến như một hồng ân mà Thiên Chúa dành cho từng người.
Một buổi chiều, tôi đến thăm một vị giám mục trẻ. Khoảng thời gian ngắn ngủi chưa đến ba mươi phút nhưng câu chuyện trao đổi giữa tôi và Đức Cha làm cho những dấu ấn mạnh mẽ được ghi vào lòng tôi từ lâu bỗng bật dậy. Tôi nghĩ nhiều đến bệnh tật, việc tu hành và “ăn để mà sống”.
Nhìn một thùng lớn đầy ắp những quả bưởi to, đính kèm một gói muối ớt, để ở phòng khách của Đức Cha, tôi được nghe giải thích rằng: người bị thứ bệnh cơ thể không hấp thụ được đường, lượng đường phải thoát ra bằng lối bài tiết thì không được ăn các loại cây trái khác ngoài bưởi và có chế độ ăn uống khá nghiêm ngặt.
Tôi thầm nghĩ bệnh tật là một hiện tượng làm ai cũng sợ hãi và thái độ của những người đang có bệnh cũng khác nhau rất nhiều. Kẻ lạc quan, người cam chịu, ai đó buông xuôi, có người bất mãn muốn tìm cách lẩn trốn … Trong Tin Mừng người ta không thấy ghi lại Đức GiêSu bị bệnh gì cả. Có phải vì là Thiên Chúa nên Ngài không có bệnh gì chăng? Không đâu, đã làm người thì ai cũng “Sinh, bệnh, lão, tử” nhưng chắc là một vài thứ bệnh lặt vặt do thời tiết, môi trường, v.v... không làm ảnh hưởng đến quá trình rao giảng của Ngài. Thái độ khi mang bệnh là một vấn đề cũng không kém phần quan trọng. Tôi thầm nghĩ: nếu Đức GiêSu có một căn bệnh và tỏ một thái độ khi mang chứng bệnh đó thì chác là chúng ta đã có một khuôn mẫu để sống với bệnh khi ở trần gian. Phải chăng Ngài muốn chúng ta thẩm thấu tim mình để cảm nghiệm ra cần phải nghĩ gì, làm gì khi mắc bệnh trong vị trí người KyTô hữu.
Việc “ăn để mà sống” có nhiều đều đáng nói. Nhưng hôm nay tôi chú ý đến chuyện ăn uống của người tu hành. Ngay từ khi đáp lại lời mời gọi thiêng liêng để sống một cuộc đời dâng hiến, người tu hành đã phải nhận ra một khoảng tự do bị mất đi, một sự hy sinh nhỏ bé trong việc ăn uống nhất là những người sống đời tận hiến trong cộng đoàn; Ăn có giờ giấc, không hẳn là được ăn uống những gì mình thích, chắc là không được thưởng thức thỏa thuê món mình ưa chuộng… Tất cả dành cho sự TIẾT ĐỘ.
Nhớ lại một chút, có lần tôi đến thăm vị ni cô đang trụ trì chùa B.Đ, sư cô cảm nặng mà chỉ ăn một chén cháo đậu đen nấu chung với đậu đỏ. Tôi e ngại mà không dám nói vì ăn như thế thì làm sao có sức mà lướt qua căn bệnh (tôi mà cảm cúm như thế là phải một ly cối sữa tươi và một tô phở lớn). Đi công tác xã hội tận Sóc Trăng thế mà các sư cô chỉ ăn một chút bánh mì hoặc cơm chay. Tôi không chịu nổi phải tạt vào chợ ăn thêm còn các cô vẫn vô tư cười. Điều đó có hợp lý không? Chế độ dinh dưỡng kham khổ dẫn đến hậu quả thế nào?
Khi được học thần học chung với các nữ tu ở Đại Chủng Viện khóa đầu tiên vào những năm 1990, buổi trưa tôi thấy các chị mang cơm theo ngồi thành vòng tròn với những món ăn rất đơn sơ. Khi đi ngang, tôi lịch sự: “Chúc các chị một bữa trưa ngon miệng nhé!”. Một chị trả lời: “ Cám ơn nha! Đi ăn cơm tiệm như chị thì thích quá nhỉ!”. Câu nói đơn sơ mà chứa đựng một chút tâm lý rất tự nhiên. Ngồi quây quần ăn đơn giản trong tiếng cười nói như các chị thì vui hơn hay là ăn những món ngon vừa ý muốn mà trong cô quạnh như tôi thì có thích hơn không?
Có phải kẻ tầm thường coi miếng ăn là trọng, người bình thường phải ăn để mà sống, người quân tử khác thường thì món ăn của họ là những việc tinh thần còn dường như chuyện ăn uống đời thường càng không là gì cả?
Cũng trong khóa học đó một chị nữ tu có cái tên khá lạ là Nguyễn Thị Cung Phi, ngồi cạnh tôi trong những ngày học môn Tín Lý, chị ngồi nghiêm túc ghi chép cẩn thận còn tôi thì lơ là, ít tập trung. Gần ngày thi tôi mượn vở của chị rồi cô đọng các bài lại để ôn trong một buổi, rồi yên tâm chờ đến lúc làm bài kiểm tra. Còn chị thì dần dà đuối sức, rồi vật vờ và kết quả là không đến thi được. Từ trong thâm tâm, tôi thấy có một cái gì đó không ổn nhưng đến bây giờ tôi vẫn không giải thích được cảm xúc trong lòng lúc đó.
Những người đang dấn thân phục vụ trong sức trẻ thì có được phép chuẩn bị đường dài cho tuổi già của mình không? Vì nếu không được vun quén đúng mức, khi tuổi già ập đến sẽ có khá nhiều lỗ hổng để bệnh tật chui qua.
Dưới cái nhìn của tôi, những người bị bệnh mà phải tránh điều này điều nọ, món này món kia thì như đang thực hiện một cuộc tử đạo từng phần trong cuộc đời, dẫu nguyên nhân của bệnh có thế nào đi nữa, người bệnh vẫn có thể hiệp thông sự đớn đau ấy trên cây thập tự, nơi có Đức GiêSu, một con người khỏe mạnh bình thường mà phải đi ngang qua cái chết vừa đau đớn, vừa tức tưởi, không có gì trả giá được ngoài yêu thương; Thật diễm phúc cho người biết hiệp thông với sự đau đớn ấy!
Thiên Chúa tế nhị hay vô tình khi che kín con mắt loài người về những bí mật đằng sau cái chết; làm cho thế gian đón nhận sự chết với muôn vàn thái độ khác nhau, nhất là những người mang tật bệnh. Diễm phúc cho người biết phó thác; buồn thay cho người đã buông xuôi; riêng những người KyTô hữu được hạnh phúc là có một cái nhìn chung sau cái chết. Đó là niềm tin, niềm hy vọng vào một đời sống trọn vẹn, vĩnh cửu dựa vào tình yêu của Thiên Chúa.
Dựa vào niềm tin đó dù bệnh tật, bất hạnh gian nan hay an bình no đủ, chúng ta đón nhận tất cả những gì xảy đến như một hồng ân mà Thiên Chúa dành cho từng người.