Tìm Hiểu Luân Thư

MẠNG SỐNG CON NGƯỜI (MSCN)


ĐGH PHAOLÔ VI: một vị Ngôn Sứ

Liệu các lời tiên đoán táo bạo của MSCN có đúng chăng?

Tiếp nối loạt bài tìm hiểu luân thư MSCN, xin giới thiệu cùng bạn đọc một tác giả có thể nói là ‘chuyên trị’ vấn đề then chốt mà luân thư này nói đến: ngừa thai. Riêng về đề tài này, không thể không đề cập đến cuốn băng đã được phát hành tới hơn 700,000 cuốn, mang tưạ đề: “Contraception: Why Not?” ghi lại bài thuyết trình của tác giả trước hội nghị các bác sĩ Công giáo tổ chức tại Đại Học Giáo Hoàng Josephinum, Columbus, Ohio, vào tháng Năm 1994. Ngoài vài chục bài bình luận dài ngắn đăng trên nhiều tập san và báo chí, phải nói đến hai cuốn sách khá nổi tiếng, cuốn thứ nhất “Humanae Vitae: A Generation Later” do CUA xuất bản tại Washington DC vào năm 1991, và cuốn thứ hai “Why Humanae Vitae Was Right: A Reader” do Ignatius Press ấn hành tại San Francisco năm 1993. Chuyên gia này chính là Nữ Tiến Sĩ Janet E. Smith, Giáo sư Chủ Nhiệm các vấn đề Sự Sống tại Đại Chủng Viện Sacred Heart (Detroit), sau khi giảng dậy 9 năm tại University of Notre Dame và 12 năm tại University of Dallas. Trong những buổi diễn giảng trong và ngoài nước Mỹ, tuy nói đến nhiều đề tài khác nhau, về đạo đức học và đạo đức sinh học, nhưng nổi bật nhất vẫn là những bài tác giả nhận định về giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo về dục tính. Hiện tại, bà đang trong nhiệm kỳ thứ hai làm Cố Vấn cho Ủy Ban Giáo Hoàng về Gia Đình.

Xin cống hiến bạn đọc bản lược dịch bài “Pope Paul VI as Prophet-Have Humanae Vitae’s Bold Predictions Come True?” của Tiến Sĩ Janet Smith đăng trên Crisis số tháng 9 năm 1988.


Hai muơi lăm năm trước đây, luân thư MSCN đã ‘nói tiên tri’ rằng hôn nhân và xã hội sẽ bị ảnh hưởng tệ hại nếu việc sử dụng phương tiện ngừa thai được phổ biên tràn lan. Hiện tại phần lớn các cặp hôn nhân, cũng như những người không kết hôn, đều sử dụng một hình thức ngừa thai nào đó.

Hẳn nhiên, luân thư không được viết để trở thành một văn kiện tiên tri. Đúng hơn, nó được viết như một văn kiện soi sáng vấn đề, nhằm giảng giải điều Hội Thánh dậy về ngừa thai. Luân thư thực sự trình bầy giáo huấn này một cách rõ ràng, nhưng trong suốt hai mươi lăm năm qua, nó không đuợc chú ý mấy. Thống kê cho thấy ít có người Công Giáo sống những lời giáo huấn này, và có thể nói một cách an toàn rằng ít có người Công Giáo đọc luân thư MSCN.

Người Kitô hữu hiểu hôn nhân là một tiếng gọi hướng thượng, qua đó Thiên Chúa đăng nhập những người kết hôn vào trong một ‘công trình tối quan trọng’ là gây tạo những mầm sống mới. Hội Thánh dậy rằng sử dụng phương tiện ngừa thai là chối bỏ Thiên Chúa và từ khước những phúc lành mang lại sự sống của Ngài. Hội Thánh không chỉ dậy rằng ngừa thai là sai trái, nhưng còn dậy rằng, vì ngừa thai là sai trái, cho nên nó sẽ gây ra những hậu quả tê hại hơn nữa.

BỐN LỜI TIÊN TRI

ĐGH Phaolô VI đã nói bốn lời tiên tri về chuyện gì sẽ xẩy ra nếu giáo huấn của Hội Thánh về ngừa thai bị phớt lờ đi.

Trước hết, ĐGH ghi nhận rằng việc phổ biến lan tràn các phương tiện ngừa thai sẽ “dẫn đến việc thiếu chung thủy trong hôn nhân và sự giảm hạ luân lý.” Thật là khó chối cãi sự kiện trong vòng hai mươi lăm năm qua ở khắp mọi nơi luân lý bị suy đồi, nhất là luân lý dục tính. Chỉ cần nhìn vào con số gia tăng những cuộc ly dị, phá thai, có bầu không cưới hỏi, và những bệnh tật về đường sinh dục, cũng đủ thấy ngay chiều hướng suy đồi luân lý dục tính trong thời đại chúng ta.

1.Sống vô trách nhiệm thì lại được tưởng thưởng

Hiển nhiên ngừa thai chính là thủ phạm đứng ngay sau lưng những rắc rối vừa kể. Ngừa thai đã làm cho sinh hoạt tình dục trở thành một chọn lựa phổ thông hơn trước đây khi việc sợ có bầu đã khiến cho phần lớn thanh niên thiếu nữ e dè trước khi tiến bước vào đường ân ái tiền hôn nhân. Sự dễ dàng thoải mái của việc ngừa thai đã khiến họ tin rằng bây giờ họ có thể dấn bước hiên ngang “đầy trách nhiệm” vào sinh hoạt tình dục tiền hôn nhân. Thế nhưng đám trẻ thì bắt đầu cảm thấy “đầy trách nhiệm” khi sử dụng phương tiện ngừa thai y như chúng luôn cảm thấy có trách nhiệm trong tất cả mọi giai đoạn của đời mình: thu giường trải chiếu, don dẹp phòng riêng cho sạch sẽ và làm bài nộp bài cho đúng hẹn.

2. Mất niềm tôn trọng phụ nữ

ĐGH Phaolô cũng lập luận rằng ‘người nam’ sẽ đánh mất niềm tôn trọng đối với ‘người nữ’ và ‘không còn chăm lo cho thế quân bình cả về thể lý lẫn tâm lý của nàng nữa’ và rồi sẽ đi tới chỗ ‘chỉ coi nàng là một dụng cụ để hưởng thụ ích kỷ, chứ không còn là người bạn đường đáng kính và đáng yêu nữa.’ Mối ưu tư này phản ảnh điều gọi là nhận thức luân lý có tính ‘nhân vị.’ Nhận thức có tính nhân vị về điều sai trái được đặt trên nền tảng tôn trọng phẩm giá của nhân vị con người. ĐGH thừa nhận rằng giáo huấn Hội Thánh về ngừa thai thực sự nhắm đến việc bảo vệ thiện ích của tình yêu hôn nhân. Khi vi phạm thiện ích này, đôi hôn phối không còn hành động theo phẩm gía bẩm sinh của mình, và do đó gây phương hại cho hạnh phúc lứa đôi. Khi coi thân xác mình như những phuơng tiện máy móc để thao túng tùy thích, họ đã liều mình đối xử với người khác như những đối tượng của lạc thú.

3. Lạm dụng quyền hành

ĐGH Phaolô VI cũng nhận xét rằng việc chấp nhận tràn lan các phương tiện ngừa thai sẽ đặt một “thứ khí giới nguy hiểm…vào trong tay những viên chức chính phủ vốn chẳng hề quan tâm đến những đòi hỏi luân lý.” Lịch sử các chương trình kế hoạch hóa gia đình tại Thế Giới Thứ Ba là một chứng từ khiêm tốn minh chứng cho thực tại này. Tại các nước trong Thế Giới Thứ ba, nhiều người phải triệt sản mà không biết. Việc cưỡng bức phá thai tại Trung Hoa là một thái cực lộ liễu của các chương trình kiểm soát dân số do chính quyền chủ trương. Hơn nữa, ít có người muốn nhìn nhận sự kiện ngày càng trở thành hiển nhiên là tại nhiều nơi trên trái đất này, vấn đề phải đương đầu không phải là nạn nhân mãn, mà là thiếu dân cư. Phải rất nhiều năm nữa mới đảo ngược được não trạng “chống trẻ em” đang thịnh hành tại nhiều nơi trên thế giới.

4. Lạm dụng thân xác

Lời cảnh báo cuối cùng của ĐGH Phaolô VI: ngừa thai sẽ khiến con người nghĩ rằng mình có quyền vô hạn trên thân thể mình. Triệt sản hiện nay là một hình thái ngừa thai được sử dụng tràn lan nhất tại Hoa Kỳ; người ta quá xác tín về quyền kiểm soát thân thể mình đến độ không còn do dự thay đổi ngay cả cách cấu tạo thể chất của mình luôn.

Cái khát vọng thống trị vô hạn trên chính thân thể mình còn vượt quá cả việc ngừa thai nữa. Việc sản xuất các ‘hài nhi trong ống nghiệm’ là một bằng chứng khác nữa của việc phủ nhận các giới hạn của thân xác; cũng thế đối với vấn đề an tử và việc sử dụng các cơ phận lấy ra từ những người bị coi là “gần” chết. Người ta tìm cách điều chỉnh thân xác cho hợp với khát vọng và thời biểu, thay vì tự điều chỉnh theo các nhu cầu của nó.

NHỮNG LỜI TIÊN TRI TÍCH CỰC

ĐGH Phaolô cũng đưa ra một số những tiên đoán tích cực nữa. Ngài thừa nhận rằng vợ chồng có thể gặp khó khăn khi cố gắng tập luyện việc tự chế cần thiết để thực hành các phương pháp kế hoạch hóa gia đình vốn đòi phải tiết dục định kỳ. Nhưng ngài dậy rằng tự chế là khả thi, nhất là nếu cậy nhờ vào ơn bí tích. Trong đoạn 21, ngài nhận xét rằng: “Kỷ luật tự chế thích ứng với lòng thanh khiết của đôi hôn phối, không những không gây phương hại gì cho tình yêu hôn nhân, mà trái lại còn đem lại một giá trị nhân bản cao cả hơn. Hẳn nhiên là phải cố gắng liên tục, thế nhưng, nhờ ở tầm ảnh hưởng ban phát ơn lành của nó, vợ chồng phát huy được hoàn toàn nhân cách mình, và được phong phú hóa nhờ các giá trị thiêng liêng. Kỷ luật như thế sẽ ban xuống cho đời sống gia đình những hoa quả của sự thanh thản và bình an; giúp giải quyết được nhiều vấn đề khác; tập trung chú ý vào người phối ngẫu, giúp cả hai xóa bỏ tính ích kỷ vốn là kẻ thù của tình yêu chân chính; và đào sâu ý thức trách nhiệm của họ.”

Dù đoạn văn trên ít khi được khảo sát, tuy nhiên, ĐGH Gioan Phaolô II là một nhà bình luận biết nhận ra chiều sâu của sự khôn ngoan ẩn dấu trong đó. Nó đóng một vai trò then chốt trong các suy tư của ngài về luân thư MSCN; ngài chú trọng đến việc “tự chế” trong sinh hoạt dục tính, và giải thích ý nghĩa thân xác và nhân vị con người có tác dụng thế nào trên dục tính.

ĐGH Gioan Phaolô II đã nói đến giáo huấn Hội Thánh về ngừa thai như là một phần “gia sản trường tồn” của Đức Tin. Hai mươi lăm năm trời chểnh mảng lời giáo huấn của MSCN đã tạo ra đủ những hệ lụy đáng buồn khiến ta nhận ra rằng: thật là ngu xuẩn và nguy hiểm biết chừng nào, nếu ta cứ tiếp tục phung phí của gia bảo này.