ROME< SEPT.16, 2005 (enit.org).- Trong bài giải thích của ngài về các bài đọc Chúa nhật, Cha Raniero Cantalamessa Dòng Capuchin, người giảng Phủ Giáo Hoàng, đề cập chủ đề sự công chính và lòng tốt của Thiên Chúa trong việc quyết định ai sẽ được vào nước trời.

* * *

Matthêu (20:1-16)

Dụ ngôn những người làm thuê được mướn làm việc trong vườn nho qua những giờ khác nhau, tất cả lãnh lương giống như nhau là một đồng bạc, đã luôn gây nên một sự khó khăn cho những người đọc Tin Mừng. Cách hành động của ông chủ có chấp nhận được không? Điều đó không phải xúc phạm đến nguyên tắc đền bù xứng đáng sao ? Những hiệp hội lao động có lẽ tất cả sẽ nổi loạn nếu có ai hành động giống như ông chủ này.

Sự khó khăn phát xuất từ một sự sai lầm. Vấn đề đền bù được xem xét trong trừu tượng, hay đúng hơn trong sự qui chiếu về sự đời đời. Xem xét được như thế, trên thực tế chủ đề sẽ trái ngược với nguyên tắc, theo đó Thiên Chúa "sẽ thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm" (Rm 2:6).

Chúa Giêsu qui chiếu ở đây về một tình huống cụ thể. Đồng bạc duy nhất được trả cho tất cả là nước Chúa, Chúa Giêsu đã mang xuống thế, đó là khả năng tham gia trong sự cứu rỗi của Đấng Messiah. Dụ ngôn bắt đầu: "Nước Trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình." Nước trời, như vậy, là chủ đề chính và là bối cảnh của dụ ngôn.

Vấn đề, một lần nữa, là vấn đề thái độ của người Do thái và dân ngoại, hay là của kẻ lành và những người tội lỗi, trước sự cứu rỗi được Chúa Giêsu công bố. Mặc dầu chỉ vì nghe huấn giáo của Chúa Giêsu mà người dân ngoại (những kẻ tội lỗi, những người thu thuế, những người đĩ điếm, v.v.) quyết định theo Chúa, trong khi trước lúc đó họ còn đứng đàng xa ("nhàn rỗi). Vì ý định theo Chúa mà họ sẽ không chiếm một chỗ bậc hai trong vương quốc. Họ cũng sẽ ngồi cùng một bàn như những người khác và hưởng đầy đủ những của cải thời cứu thế.

Hơn nữa, vì những dân ngoại chứng tỏ mình sẵn sàng nhận lãnh Tin Mừng hơn những kẻ được gọi là công chính (những người Pharisêu và các kỳ mục), chúng ta thấy ở đây điều Chúa Giêsu nói ở cuối dụ ngôn: "kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết."

Một khi vương quốc được biết đến, tức là một khi đức tin được chấp nhận, lúc đớ chắc chắc có những khác biệt. Người phục vụ Thiên Chúa suốt đời mình, bằng cách làm cho những nén của mình sinh lợi nhiều nhất, và người cho Chúa những đồ thừa của cuộc đời mình với một sự xưng tội để đền bù, có thể nói trong giờ sau hết số phận của họ không giống nhau.

Để làm sáng tỏ điểm chính này, thật là hợp lý đế mang ra ánh sáng những huấn giáo khác của dụ ngôn. Một huấn giáo là Thiên Chúa kêu gọi mọi người trong mọi giờ. Đó là một lời kêu gọi phổ quát đi làm vườn nho của Chúa! Nói tóm lại, đó là vấn đề kêu gọi hơn là vấn đề thưởng.

Đó là đường lối trong đó dụ ngôn chúng ta được sử dụng trong tông huấn của Đức Gioan Phaolo II "Christifideles Laici" (về ơn gọi và sứ vụ người giáo dân trong Giáo Hội và thế giới): "Người tín hữu giáo dân tùy thuộc vào dân Thiên Chúa, được tiêu biểu bởi những người làm thuê vườn nho.. . 'Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta' " (Số 1-2).

Dụ ngôn cũng khơi lên vấn đề thất nghiệp: "Không có ai thuê chúng tôi!" Nhiều người thất nghiệp có thể coi như là chính câu trả lời bất hạnh của mình trong giờ phút chót.. Tất cả chúng ta biết điều gì xảy ra cho môt người thất nghiệp có gia đình, hay là cho một thanh niên ước muốn kết hôn nhưng không thể được, vì anh ta không có việc làm và không đủ bảo đảm tối thiểu về khả năng nâng đỡ gia đình mình cách xứng đáng.

Nếu thiếu việc làm,. lý do là vì có thể một số người có quá nhiều công việc (đây không phải chỉ có lý đo đó, cũng không phải là lý do chíngh nhưng chắc chắn có một lý do chính đáng)-- cho nên tất cả được đền bù bằng những cách khác nhau.

Một huấn giáo khác có thể rút ra từ dụ ngôn. Ông chủ biết rằng những người làm thuê giờ cuối cũng có những nhu cầu như bao người khác, họ cũng có con cái phải nuôi ăn, như những nguời làm thuê giờ thứ nhất. Khi trả cho mọi người đồng lương y nhau, ông chủ chứng tỏ rằng ông không xét theo công trạng cho bằng theo nhu cầu. Ông chứng tỏ rằng ông không những công bằng, mà còn "tốt lành," quãng đại và nhân đạo.