163. TẠ ƠN

Tôi vẫn nhớ ngày Tạ Ơn ấy,

khi vỏn vẹn vài chiếc lá vàng

lác đác rơi,

trên vĩa hè lạnh vắng.

Con đường dẫn xuống phố Phila sáng tinh sương ấy thật vắng người,

lác đác đây đó vài người homeless, co ro, lập cập bên những ống thoát hơi đang xì khói, nhả chút hơi ấm từ hệ thống đường hầm subway.

Tôi mang đến bên người một chút McDonald Breakfast, với ly cà phê nóng để cùng ông vui ngày Thanksgiving bên lề cuộc đời.

- Tạ Ơn đời ư?

- Mẹ kiếp! Chém cha cuộc đời chó má!

Tôi thầm tưởng ông ta sẽ nghĩ thế.

Nhưng tôi đã lầm.

Người ấy trông già cỗi lắm, dơ dáy và thum thủm mùi hôi.

Ông ta nâng niu ly cà phê nóng với hai bàn tay run rẫy, nhưng ánh mắt vẫn sáng ngời, và đôi môi ấp úng lời Thank you.

Tôi những tưởng ông ta sẽ ngấu nghiến cái Egg McMuffin,

nhưng lạ thay, ông bình thản nhai,

và sau mỗi miếng lại ngỏ lời Thank You.

Con người ấy như đã hút hồn tôi.

Tôi ngồi bệt xuống vĩa hè trên con đường Chestnut,

ngồi sát bên ông ta,

không phải để che gió che tuyết cho ông,

nhưng để nhận hơi ấm từ tim ông,

nghe ông nói chuyện.

Tôi mới biết rằng, xưa ông đã từng tham chiến tại quê tôi.

Ông ta say sưa kể lại những cuộc hành quân, và cứ sau mỗi trận, ông ta lại cất tiếng Thank God, I'm alive.

Tôi thật biết ơn ông.

Ngay trong hoàn cảnh homeless hiện nay, ông vẫn không thay tiếng Thank You bằng F. You như bao người ăn sung mặc ấm, mỗi ngày đi ngang qua con đường ông sống, nhìn ông, nhìn đời với con tim vô ơn.

Tôi đã đến đại học, học kiến thức với những vị đầy bằng cấp, nhưng tôi đã học bài học biết ơn, và đức tin, nơi người homeless đầy bằng sống ấy.

Tạ Ơn Chúa

Cám ơn người.

Thank God, I'm alive!

Hát lên mừng Chúa một bài ca mới,

Ngợi khen Người trong cộng đoàn những kẻ hiếu trung (Thánh vịnh 149: 1).

Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,

Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương (Thánh vịnh 117: 1).

- Cầu nguyện

- Quyết tâm

- Dấn thân