Các Mầu Nhiệm Sự Sáng trong Kinh Mân Côi (Phần 2)
RAO GIẢNG NƯỚC THIÊN CHÚA
Ý nghĩa căn bản của ‘Nước Thiên Chúa’, như Chúa Giêsu hiểu và muốn nói đến, là sự thống trị của Thiên Chúa trong thời sau hết khi mà, như thánh Phaolô đã viết, Thiên Chúa sẽ là ‘tất cả trong mọi sự’ (1 Cor 15,18). Khi đó lời cầu nguyên của Chúa Giêsu: “Xin cho nước Cha trị đến. Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Math 6,10) sẽ được thành toàn. Tuy nhiên, Chúa Giêsu nhấn mạnh qua cuộc sống cũng như sứ vụ của mình rằng sự thống trị của Thiên Chúa đã trở thành hiện thực lúc này và tại đây (xem Lc 11,20; 17,21). Vì thế, cách tốt nhất để hiểu được bản chất của nước Thiên Chúa và sự thống trị của ngài là là thấy nó đang hành động qua việc làm và lời nói của Chúa Giêsu - trong chính con người của ngài.
Trong khi loan truyền về Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã bao hàm Thiên Chúa là Cha, và nhân loại như là con cái Thiên Chúa và là anh chị em với nhau. Đó là lý do cho lối giải thích về quyền bính của ngài. Bởi vì cộng đoàn của những người theo ngài được mang dấu ấn của koinonia, sự hiệp thông, không có chỗ cho những cách thức thống trị, ‘còn đối với các ngươi thì khác’ (Mc 10,40). Quyền bính tìm được lối diễn tả trong phục vụ.
Trong một thế giới đầy bất công và bất bình đẳng, Chúa Giêsu quan tâm đặt biệt đến những người bị áp bức và bỏ rơi. Ngài không muốn và không thể coi ai là ‘mạt hạng’. Ngài biểu lộ sự tôn trọng đặc biệt phụ nữ và trẻ em. Ngài nhạy cảm trước những đau khổ và rộng lòng chữa lành những bệnh tật của con người. Ngài quan tâm đặc biệt đến cơn bệnh tàn phá là tội lỗi, đến độ ngài được mệnh danh la ‘bạn của người tội lỗi’. Theo ngài không phải là một chọn lựa nhẹ nhàng: những môn đệ nam cũng như nữ của ngài phải từ bỏ tất cả. Đường của ngài là đường dẫn đến Thập Giá: “Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu” (Gn 15,130. Sự thống trị của Thiên Chúa là con đường yêu thương.
BIẾN HÌNH
(Mc 9,1-8; Mt 17,1-8; Lc 9,28-35)
Biến cố biến hình giống như một cảm nghiệm cầu nguyện trong đó Chúa Giêsu chấp nhận cuộc xuất hành, cuộc ‘ra đi’: cái chết của mình. Hiển nhiên là cảm nghiệm này rất sâu đậm, đã để lại một ấn tượng không thể xóa nhòa trong lòng các môn đệ đã chứng kiến biến cố này. Được hồi tưởng lại với ánh sáng của biến cố Phục Sinh, biến cố biến hình là một viễn ảnh thấy trước Chúa Giêsu trong vinh quang của người. Giờ đây nó được viết lại vì lợi ích cho các môn đệ, một mạc khải được ban tặng cho họ. Chóp đỉnh của trình thuật biến hình là lời nói từ trên trời: “Đây là con yêu dấu của Ta, hãy nghe lời người” (Mc 9,7).
Trong trình thuật, Môisen và Êlia đại diện cho Lề luật và các Tiên tri, cho Thánh Kinh của Israel. Việc thánh Phêrô xin dựng ba ‘lều’, một cho Chúa Giêsu, một cho Môisen và một cho Êlia, đã đặt cả ba ngang hàng với nhau. Thánh Phêrô thực sự ‘không biết mình đang nói gì’. Tiếng nói từ trời đã đặt lại đúng vị trí: chỉ mình Người Con mới nói trọn vẹn lời của Chúa. Trong trình thuật theo phúc âm thánh Mátthêu, các môn đệ hoảng sợ đã được Chúa Giêsu xác quyết lại điều đó: “Và khi ngước mắt lên, các ông không còn thấy ai trừ một mình Chúa Giêsu” (Mt 17,8). Môisen và Êlia vẫn còn nói lên lời của Chúa, nhưng chưa là lời dứt khoát. Lúc này Thiên Chúa “nói với chúng ta qua Người Con” (Dth 1,2).
TIỆC LY - LẬP BÍ TÍCH THÁNH THỂ
(Mc 14,12-28; Mth 26,20-29; Lc 22,14-23; 1Cor 11,17-33)
Điều thánh Mátcô quan tâm trong chương14, 12-25 là nối kết bửa tiệc ly của Chúa Giêsu với lễ Vượt Qua (của người Do Thái) -trong câu 14, rỏ ràng muốn mô tả đó là bữa tiệc lễ Vượt Qua. Điều đó muốn nói lên Chúa chịu chết trong lễ Vượt Qua, và Phúc Âm theo thánh Mátthêu và thánh Luca cũng đã theo cách nói này. Tương tự như thế phúc âm theo thánh Gioan cũng nói cách rỏ ràng (Gn 18,28; 19,14) Chúa chịu chết trong buổi chiều trước lễ Vượt Qua. Trong thực tế dường như bữa Tiệc Ly là bữa tiệc chia tay trọng thể - không phải là bữa tiệc lễ Vượt Qua truyền thống. Đó là tuyệt đỉnh của một loạt các bữa ăn mà Chúa Giêsu cùng chia sẽ với các môn đệ. Chúng ta có thể nói rằng dù ý nghĩa chính xác của bữa Tiệc Ly là gì đi nữa thì nó vẫn được đặt trong bối cảnh bữa tiệc Vượt Qua. Các thánh sử đã khai thác yếu tố này.
Chúa Giêsu đã làm theo tâp tục của người chủ gia đình trong các bữa lễ tiệc của ngươì Do thái là bẻ bánh và phân chia cho mọi người. Ngài ‘cầm lấy bánh’, ‘chúc tụng, bẻ ra’, ‘trao’ - cũng là những động tác ngài làm và những lời ngài nói trong các câu chuyện ngài nuôi dân chúng (6,41; 8:6). Rỏ ràng là sự giống nhau ở đây là có chủ ý; những tự vựng ở đó được nhắc lại bằng ngôn ngữ thánh thể ở đây. Lúc đó các môn đệ ‘không hiểu về phép lạ bánh’ (6,25). Bây giờ mầu nhiệm đã được mạc khải. Chúa Giêsu là ‘một tấm bánh’ (xem 8,14) cho người Do Thái và cho dân ngọai vì chính ngài đã nói với họ thân xác ngài được trao ban, máu ngài đổ ra là cho mọi người (14,23-24).
Trừ hai đoạn trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrinthô (10,16-17; 11,17-34) dường như thánh Phaolô không viết gì về bí tích Thánh Thể. Dù sao đoạn thư 1Cor 11,23-26 cho biết rõ Tiệc Ly của Chúa đã là một phần trong niềm tin và tâp tục của các Kitô hữu ngay từ đầu. Đoạn văn này là đoạn đầu tiên trong Tân Ước nhắc đến Tiệc Thánh Thể. Điều đáng ngạc nhiên là thánh Phaolô không nghĩ về bí tích Thánh Thể và sự hiện diện của Chúa trong đó ở trạng thái tỉnh. Ngược lại trình thuật được diễn tả đầy tính năng động. Đó không chỉ là làm cho thịt máu Chúa Giêsu hiện diện; nhưng còn là lời rao truyền và tưởng nhớ cái chết của ngài, tưởng nhớ một biến cố. Tương tự như thế, chén là ‘chén giao ước mơí trong máu ta’, tức là một biến cố, việc thiết lập giao ước có hệ quả tồn tại và dứt khoát cho đời sống của dân giao ước. Lệnh truyền lập lại hành động của Chúa ‘Hãy làm việc này…’ không những kết buộc cộng đoàn cử hành Tiệc Thánh Thể thường xuyên và như thế giữ cho sống động ý nghĩa của cái chết của Chúa Giêsu, nhưng qua đó còn đòi buộc loan truyền ý nghĩa cứu độ của cái chết của ngài.
“Này là mình Ta..này là máu Ta’. Máu thịt nói lên chính mình ngài, con người của ngài: Chúa Giêsu trao ban chính mình, và trao ban chính mình trong cái chết. Thánh Phaolô đã nắm bắt được ý nghĩa của ân huệ: ân huệ của “Con Thiên Chúa, đấng yêu thương vào trao ban chính mình cho tôi” (Gal 1-20). Cái chết của Chúa Giêsu là ‘cho’ chúng ta. Và như một lệnh truyền, “Hãy làm việc này để nhớ đến Ta”, bí tích Thánh Thể là một anamnesis, ‘tưởng niệm’, nhớ đến là một hình thức của sự hiện diện. Bí tích Thánh Thể thành toàn lời Thiên Chúa hứa “Hãy nhớ, Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mth 28,20).
Thánh Phaolô tuyên bố: “Chén chúc tụng mà chúng ta nâng để chúc tụng không phải là thông phần vào máu Đức Kitô sao? Tấm bánh chúng ta bẻ ra không phải là thông phần vào thân thể của Đức Kitô sao?”(1Cor 10,26). Điểm nhấn mạnh của thánh Phaolô không chỉ ở một bánh và một chén, nhưng là sự thông chia cùng một bánh và một chén. Là vì trong cách thế thông chia, họ tham phần vào một tấm bánh, và những người cử hành trở nên ‘một thân thể’ - thân thể của Đức Kitô. “Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều nhưng là một thân thể, vì tất cả tham phần cùng một tấm bánh” (10,17). Phép Thánh Thể có nghĩa là mối dây hiệp nhất. Việc cử hành Thánh Thể phải là một chứng cứ tỏ hiện cho hiệp nhất. Quan điểm của thánh Phaolô cho rằng ở đâu không có sự hiệp nhất là không có Thánh Thể (11,20) khiến chúng ta phải suy nghĩ. Việc cử hành Thánh Thể, thánh lễ của chúng ta có là một dấu chứng tỏ tường về sự hiệp nhất chưa? Đó có thực là Tiệc Thánh của Chúa không?
Wilfrid J. Harrington O.P.
(Kim Thanh chuyển ngữ)
RAO GIẢNG NƯỚC THIÊN CHÚA
Ý nghĩa căn bản của ‘Nước Thiên Chúa’, như Chúa Giêsu hiểu và muốn nói đến, là sự thống trị của Thiên Chúa trong thời sau hết khi mà, như thánh Phaolô đã viết, Thiên Chúa sẽ là ‘tất cả trong mọi sự’ (1 Cor 15,18). Khi đó lời cầu nguyên của Chúa Giêsu: “Xin cho nước Cha trị đến. Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Math 6,10) sẽ được thành toàn. Tuy nhiên, Chúa Giêsu nhấn mạnh qua cuộc sống cũng như sứ vụ của mình rằng sự thống trị của Thiên Chúa đã trở thành hiện thực lúc này và tại đây (xem Lc 11,20; 17,21). Vì thế, cách tốt nhất để hiểu được bản chất của nước Thiên Chúa và sự thống trị của ngài là là thấy nó đang hành động qua việc làm và lời nói của Chúa Giêsu - trong chính con người của ngài.
Trong khi loan truyền về Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã bao hàm Thiên Chúa là Cha, và nhân loại như là con cái Thiên Chúa và là anh chị em với nhau. Đó là lý do cho lối giải thích về quyền bính của ngài. Bởi vì cộng đoàn của những người theo ngài được mang dấu ấn của koinonia, sự hiệp thông, không có chỗ cho những cách thức thống trị, ‘còn đối với các ngươi thì khác’ (Mc 10,40). Quyền bính tìm được lối diễn tả trong phục vụ.
Trong một thế giới đầy bất công và bất bình đẳng, Chúa Giêsu quan tâm đặt biệt đến những người bị áp bức và bỏ rơi. Ngài không muốn và không thể coi ai là ‘mạt hạng’. Ngài biểu lộ sự tôn trọng đặc biệt phụ nữ và trẻ em. Ngài nhạy cảm trước những đau khổ và rộng lòng chữa lành những bệnh tật của con người. Ngài quan tâm đặc biệt đến cơn bệnh tàn phá là tội lỗi, đến độ ngài được mệnh danh la ‘bạn của người tội lỗi’. Theo ngài không phải là một chọn lựa nhẹ nhàng: những môn đệ nam cũng như nữ của ngài phải từ bỏ tất cả. Đường của ngài là đường dẫn đến Thập Giá: “Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu” (Gn 15,130. Sự thống trị của Thiên Chúa là con đường yêu thương.
BIẾN HÌNH
(Mc 9,1-8; Mt 17,1-8; Lc 9,28-35)
Biến cố biến hình giống như một cảm nghiệm cầu nguyện trong đó Chúa Giêsu chấp nhận cuộc xuất hành, cuộc ‘ra đi’: cái chết của mình. Hiển nhiên là cảm nghiệm này rất sâu đậm, đã để lại một ấn tượng không thể xóa nhòa trong lòng các môn đệ đã chứng kiến biến cố này. Được hồi tưởng lại với ánh sáng của biến cố Phục Sinh, biến cố biến hình là một viễn ảnh thấy trước Chúa Giêsu trong vinh quang của người. Giờ đây nó được viết lại vì lợi ích cho các môn đệ, một mạc khải được ban tặng cho họ. Chóp đỉnh của trình thuật biến hình là lời nói từ trên trời: “Đây là con yêu dấu của Ta, hãy nghe lời người” (Mc 9,7).
Trong trình thuật, Môisen và Êlia đại diện cho Lề luật và các Tiên tri, cho Thánh Kinh của Israel. Việc thánh Phêrô xin dựng ba ‘lều’, một cho Chúa Giêsu, một cho Môisen và một cho Êlia, đã đặt cả ba ngang hàng với nhau. Thánh Phêrô thực sự ‘không biết mình đang nói gì’. Tiếng nói từ trời đã đặt lại đúng vị trí: chỉ mình Người Con mới nói trọn vẹn lời của Chúa. Trong trình thuật theo phúc âm thánh Mátthêu, các môn đệ hoảng sợ đã được Chúa Giêsu xác quyết lại điều đó: “Và khi ngước mắt lên, các ông không còn thấy ai trừ một mình Chúa Giêsu” (Mt 17,8). Môisen và Êlia vẫn còn nói lên lời của Chúa, nhưng chưa là lời dứt khoát. Lúc này Thiên Chúa “nói với chúng ta qua Người Con” (Dth 1,2).
TIỆC LY - LẬP BÍ TÍCH THÁNH THỂ
(Mc 14,12-28; Mth 26,20-29; Lc 22,14-23; 1Cor 11,17-33)
Điều thánh Mátcô quan tâm trong chương14, 12-25 là nối kết bửa tiệc ly của Chúa Giêsu với lễ Vượt Qua (của người Do Thái) -trong câu 14, rỏ ràng muốn mô tả đó là bữa tiệc lễ Vượt Qua. Điều đó muốn nói lên Chúa chịu chết trong lễ Vượt Qua, và Phúc Âm theo thánh Mátthêu và thánh Luca cũng đã theo cách nói này. Tương tự như thế phúc âm theo thánh Gioan cũng nói cách rỏ ràng (Gn 18,28; 19,14) Chúa chịu chết trong buổi chiều trước lễ Vượt Qua. Trong thực tế dường như bữa Tiệc Ly là bữa tiệc chia tay trọng thể - không phải là bữa tiệc lễ Vượt Qua truyền thống. Đó là tuyệt đỉnh của một loạt các bữa ăn mà Chúa Giêsu cùng chia sẽ với các môn đệ. Chúng ta có thể nói rằng dù ý nghĩa chính xác của bữa Tiệc Ly là gì đi nữa thì nó vẫn được đặt trong bối cảnh bữa tiệc Vượt Qua. Các thánh sử đã khai thác yếu tố này.
Chúa Giêsu đã làm theo tâp tục của người chủ gia đình trong các bữa lễ tiệc của ngươì Do thái là bẻ bánh và phân chia cho mọi người. Ngài ‘cầm lấy bánh’, ‘chúc tụng, bẻ ra’, ‘trao’ - cũng là những động tác ngài làm và những lời ngài nói trong các câu chuyện ngài nuôi dân chúng (6,41; 8:6). Rỏ ràng là sự giống nhau ở đây là có chủ ý; những tự vựng ở đó được nhắc lại bằng ngôn ngữ thánh thể ở đây. Lúc đó các môn đệ ‘không hiểu về phép lạ bánh’ (6,25). Bây giờ mầu nhiệm đã được mạc khải. Chúa Giêsu là ‘một tấm bánh’ (xem 8,14) cho người Do Thái và cho dân ngọai vì chính ngài đã nói với họ thân xác ngài được trao ban, máu ngài đổ ra là cho mọi người (14,23-24).
Trừ hai đoạn trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrinthô (10,16-17; 11,17-34) dường như thánh Phaolô không viết gì về bí tích Thánh Thể. Dù sao đoạn thư 1Cor 11,23-26 cho biết rõ Tiệc Ly của Chúa đã là một phần trong niềm tin và tâp tục của các Kitô hữu ngay từ đầu. Đoạn văn này là đoạn đầu tiên trong Tân Ước nhắc đến Tiệc Thánh Thể. Điều đáng ngạc nhiên là thánh Phaolô không nghĩ về bí tích Thánh Thể và sự hiện diện của Chúa trong đó ở trạng thái tỉnh. Ngược lại trình thuật được diễn tả đầy tính năng động. Đó không chỉ là làm cho thịt máu Chúa Giêsu hiện diện; nhưng còn là lời rao truyền và tưởng nhớ cái chết của ngài, tưởng nhớ một biến cố. Tương tự như thế, chén là ‘chén giao ước mơí trong máu ta’, tức là một biến cố, việc thiết lập giao ước có hệ quả tồn tại và dứt khoát cho đời sống của dân giao ước. Lệnh truyền lập lại hành động của Chúa ‘Hãy làm việc này…’ không những kết buộc cộng đoàn cử hành Tiệc Thánh Thể thường xuyên và như thế giữ cho sống động ý nghĩa của cái chết của Chúa Giêsu, nhưng qua đó còn đòi buộc loan truyền ý nghĩa cứu độ của cái chết của ngài.
“Này là mình Ta..này là máu Ta’. Máu thịt nói lên chính mình ngài, con người của ngài: Chúa Giêsu trao ban chính mình, và trao ban chính mình trong cái chết. Thánh Phaolô đã nắm bắt được ý nghĩa của ân huệ: ân huệ của “Con Thiên Chúa, đấng yêu thương vào trao ban chính mình cho tôi” (Gal 1-20). Cái chết của Chúa Giêsu là ‘cho’ chúng ta. Và như một lệnh truyền, “Hãy làm việc này để nhớ đến Ta”, bí tích Thánh Thể là một anamnesis, ‘tưởng niệm’, nhớ đến là một hình thức của sự hiện diện. Bí tích Thánh Thể thành toàn lời Thiên Chúa hứa “Hãy nhớ, Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mth 28,20).
Thánh Phaolô tuyên bố: “Chén chúc tụng mà chúng ta nâng để chúc tụng không phải là thông phần vào máu Đức Kitô sao? Tấm bánh chúng ta bẻ ra không phải là thông phần vào thân thể của Đức Kitô sao?”(1Cor 10,26). Điểm nhấn mạnh của thánh Phaolô không chỉ ở một bánh và một chén, nhưng là sự thông chia cùng một bánh và một chén. Là vì trong cách thế thông chia, họ tham phần vào một tấm bánh, và những người cử hành trở nên ‘một thân thể’ - thân thể của Đức Kitô. “Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều nhưng là một thân thể, vì tất cả tham phần cùng một tấm bánh” (10,17). Phép Thánh Thể có nghĩa là mối dây hiệp nhất. Việc cử hành Thánh Thể phải là một chứng cứ tỏ hiện cho hiệp nhất. Quan điểm của thánh Phaolô cho rằng ở đâu không có sự hiệp nhất là không có Thánh Thể (11,20) khiến chúng ta phải suy nghĩ. Việc cử hành Thánh Thể, thánh lễ của chúng ta có là một dấu chứng tỏ tường về sự hiệp nhất chưa? Đó có thực là Tiệc Thánh của Chúa không?
Wilfrid J. Harrington O.P.
(Kim Thanh chuyển ngữ)