Sự Thật của Luân Thư

MẠNG SỐNG CON NGƯỜI (MSCN)

ĐHY Karol Wojtyla

Nửa năm sau ngày luân thư MSCN được ban hành, giữa sự bùng nổ dữ dội của tranh luận và chống đối, ta đọc thấy bài bình luận sắc bén với tựa đề như trên của ĐHY Karol Wojtyla, vị Giáo Hoàng tương lai lừng danh của Giáo Hội, được đăng tải trên tờ L’Osservatore Romano, ấn bản Anh Ngữ hằng tuần, ngày 16 tháng Giêng năm 1969.

Xin tạm dịch để cống hiến bạn đọc trong loạt bài tìm hiểu Luân Thư MSCN của ĐGH Phaolô VI


(tiếp theo và hết)

TRẬT TỰ CHÍNH XÁC CỦA CÁC GIÁ TRỊ

Sự thật có tính cách luật lệ của MSCN thì liên kết chặt chẽ với những giá trị được biểu thị trong trật tự luân lý khách quan theo giai tầng riêng của chúng. Đây là những giá trị nhân bản đích thực liên hệ đến đời sống hôn nhân và gia đình. Như ta đọc thấy trong luân thư, Hội Thánh tự coi mình là người canh giữ và bảo đảm cho những giá trị này. Khi đối đầu với bất kỳ nguy cơ nào đang chực chờ đe doạ, Hội Thánh cảm thấy có bổn phận phải đứng ra bảo vệ các giá trị ấy. Các giá trị nhân bản đích thực chính là căn bản và đồng thời cũng là động lực của các nguyên tắc luân lý hôn nhân mà luân thư đề cập đến. Thật là bổ ích khi phải nhấn mạnh lại một lần nữa cho dẫu những điều ấy đã được bàn cãi trong phần trước, và vấn đề khá rõ ràng, bởi lẽ ý nghĩa chân thực của tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm đã được luân thư đề cập đến trong mối liên hệ với tình yêu hôn nhân.

Cái giá trị nằm ở chiều sâu căn bản của điều ta muốn chứng minh chính là giá trị của mạng sống con nguời, nghĩa là của mầm sống đã được cưu mang và triển nở trong dòng sống chung của đôi vợ chồng. Tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm, điều mà toàn thể luân thư muốn cống hiến, đã tự nó nói lên giá trị này.

Giá trị của sự sống được cưu mang trong giai đoạn khởi đầu của nó đã không được luân thư duyệt xét trong bối cảnh của sự sinh sản xét như là mục tiêu của hôn nhân, mà trong bối cảnh nhãn quan về tình yêu và trách nhiệm của đôi vợ chồng, điều này đặt chính giá trị nhân bản trong một luồng sáng mới. Người nam và người nữ--trong đời sống hôn nhân như một hiệp thông nhân vị--phải tạo ra một nhân vị mới. Việc thụ thai và cưu mang một nhân vị qua các nhân vị--đây mới chính là thước đo đích xác các giá trị vốn phải được sử dụng nơi đây. Đồng thời, đó cũng chính là thước đo đích xác cái trách nhiệm vốn phải hướng dẫn tính cách làm cha mẹ của nhân loại.

Luân thư nhìn nhận giá trị này. Cho dù có vẻ không đề cập nhiều lắm đến giá trị này, thế nhưng luân thư gián tiếp nhấn mạnh điều đó nhiều hơn nữa khi đặt nó một cách vững chắc trong cảnh vực của các giá trị khác. Đây chính là các giá trị căn bản của đời sống con người, và đồng thời cũng là các giá trị biệt loại của hôn nhân và gia đình. Biệt loại bởi vì chỉ riêng hôn nhân và gia đình--chứ không còn một tình huống nào khác của con người--mới tạo ra môi trường biệt loại để các giá trị này xuất hiện. Y như một thửa đất mầu mỡ để các gía trị ấy mọc lên. Một trong số đó chính là giá trị tình yêu hôn nhân và gia đình, còn một cái khác nữa, đó là giá trị của nhân vị, hoặc nhân phẩm, được biểu tỏ trong những giao tiếp gần gũi và thân mật nhất của con người. Hai gía trị này thấu nhập vào nhau chặt chẽ đến độ--theo một nghĩa nào đó-chúng tạo nên một thiện ích duy nhất. Đây chính là thiện ích thiêng liêng của hôn nhân, là kho tàng của cải lớn nhất nơi các thế hệ mới của nhân loại: “…đôi vợ chồng phát huy nhân cách họ một cách toàn diện, sau khi được phong phú hoá bởi các giá trị thiêng liêng. Điều này ban xuống trên đời sống gia đình các hoa quả của sự thanh thản và bình an…nó hướng đưa sự chú ý đến người phối ngẫu; nó giúp cho cả hai loại bỏ tính ích kỷ vốn là kẻ thù của tình yêu đích thực; và nó đào sâu ý thức trách nhiệm. Nhờ đó, người làm cha mẹ có thể thủ đắc được khả năng tạo ra một tầm ảnh hưởng sâu xa hơn và hữu hiệu hơn trong việc giáo dục con cái; các con trẻ và vị thành niên lớn lên với đầy lòng qúy mến đúng đắn đối với các giá trị nhân bản, trong sự phát triển thanh thản và hài hoà các khả năng thiêng liêng và cảm xúc của mình” (số 21). Đây chính là cảnh vực đầy đủ cũng như là bối cảnh phổ quát của các giá trị làm nền tảng cho giáo lý về tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm; thái độ trách nhiệm trải dài trên toàn thể đời sống hôn nhân và toàn thể quá trình giáo dục. Chỉ những ai đạt được mức trưởng thành nhân vị sung mãn qua một nền giáo dục toàn diện mới có thể thành công trong việc giáo dục những nhân vị mới. Tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm và đức khiết tịnh cố hữu trong mối quan hệ hỗ tương của đôi vợ chồng chính là chứng cớ cho mức trưởng thành thiêng liêng của họ. Nhờ thế họ phóng dọi ánh sáng của mình trên toàn thể quá trình giáo dục được hoàn tất trong khung cảnh gia đình.

Luân thư MSCN không chỉ chất chứa những quy luật rõ ràng và minh nhiên cho đời sống hôn nhân, tư cách làm cha mẹ có ý thức và một phương cách điều hòa sinh sản đúng đắn, nhưng còn biểu thị các giá trị xuyên qua các quy luật này. Nó xác nhận các ý nghĩa chính xác và cảnh báo các ý nghĩa sai lệch. Nó biểu lộ mối ưu tư sâu xa trong việc bảo vệ con người khỏi nguy cơ biến đổi các giá trị căn bản nhất. Một trong các giá trị căn bản nhất chính là giá trị tình yêu nhân bản. Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa là chính “Tình Yêu.” ĐGH Phaolô VI đã đặt chân lý mạc khải này ngay từ khởi đầu phần phân tích thấu đáo về tình yêu hôn nhân, bởi vì nó diễn đạt giá trị cao cả nhất vốn phải được thừa nhận trong tình yêu nhân bản. Tình yêu nhân bản thật phong phú qua các kinh nghiệm, nhưng nét phong phú chân thực của nó nằm ở sự hiệp thông nhân vị, của một người nam và một người nữ, trong sự trao thân của họ cho nhau. Tình yêu hôn nhân được phong phú hoá qua việc nhân vị này trao ban chính mình cho nhân vị kia. Đây chính là sự trao ban hỗ tương mà không ai được quyền biến đổi. Nếu trong hôn nhân, cần phải có sự thể hiện tình yêu nhận vị đích thực qua việc trao hiến xác thân, nghĩa là qua “sự kết hợp thân xác” của người nam và người nữ, thì do giá trị của chính tình yêu, sự tự trao thân hỗ tương này không thể bị biến đổi trong bất kỳ khía cạnh nào của hành vi vợ chồng mang tính cách liên nhân vị.

GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC CỦA TÌNH YÊU NHÂN BẢN

Chính giá trị của tình yêu nhân bản và tính chất chân thực của nó đòi hỏi một đức khiết tịnh trong hành vi vợ chồng như Hội Thánh hằng căn dặn, và một lần nữa được luân thư nhắc lại. Nhờ sử dụng các phương pháp nhân tạo mà trong nhiều lãnh vực, con người đã thống lĩnh thiên nhiên, bắt nó phải lụy phục mình. Theo một nghĩa nào đó, đây chính là tiến bộ và văn minh. Tuy nhiên, trong lãnh vực này, nơi tình yêu giữa một nhân vị với một nhân vị khác, được biểu lộ qua hành vi vợ chồng, và nơi nhân vị phải tự hiến một cách chân thực và nhận lãnh hỗ tương, thì việc sử dụng các phương tiện nhân tạo lại có nghĩa là làm biến đổi chính hành vi tình yêu. Tác giả luân thư MSCN rất ý thức về giá trị chân thực của tình yêu nhân bản, vốn khơi nguồn từ chính Thiên Chúa, và được xác nhận bởi một lương tâm đúng đắn và một “ý thức luân lý” lành mạnh. Chính nhân danh giá trị này mà ĐGH đã giảng dậy về các nguyên tắc trách nhiệm đạo đức. Đây cũng chính là trách nhiệm có khả năng bảo vệ được phẩm chất tình yêu nhân bản trong hôn nhân. Tình yêu này cũng được biểu lộ qua tiết dục-ngay cả tiết dục định kỳ--bởi vì tình yêu có khả năng từ bỏ hành vi vợ chồng, nhưng lại không thể chối bỏ việc hiến tặng nhân vị chân thực. Chối từ hành vi vợ chồng, trong một số hoàn cảnh nào đó, có thể là một hiến tăng bản thân chân chính. Về điểm này ĐGH viết rằng: “Kỷ luật này, vốn thích hợp với tấm lòng trong sạch của đôi vợ chồng, không những không làm hại tình yêu hôn nhân, mà còn ban tặng cho nó một giá trị nhân bản cao vời hơn nữa” (số 21).

Khi diễn tả mối ưu tư sâu sắc đối với giá trị chân chính của tình yêu nhân bản, luân thư MSCN muốn ngỏ lời với con người và kêu gọi ý thức về nhân phẩm của con người với tư cách là một nhân vị. Quả vậy, theo như Giá Trị chân thực tối cao, tình yêu phải được người nam và người nữ thể hiện trong hôn nhân. Khả năng yêu thương và khả năng tự hiến chân chính ấy đòi hỏi cả hai người phải có một ý thức về phẩm giá cá nhân. Kinh nghiệm về giá trị dục tính phải thấm nhuần một ý thức linh động về giá trị của nhân vị. Quả thực, giá trị này giải thích tại sao nhân vị lại cần phải tự chủ: thực ra, nhân cách được biểu lộ qua tự chủ và tự chế. Nếu không, con người sẽ không có khả năng tự hiến hoặc đón nhận quà tặng đó theo như thước đo giá trị vốn là nét đặc trưng của sự trao đổi ấy. Như thế, học thuyết luân lý mà Hội Thánh công bố thì góp phần “xây dựng một nền văn minh nhân bản chân chính; Hội Thánh khuyến cáo con người không được chối bỏ trách nhiệm của mình để chỉ ỷ lại vào các phương tiện kỹ thuật; chính nhờ thế, Hội Thánh có thể bảo vệ được phẩm giá của đôi vợ chồng” (số 18).

Luân thư MSCN hình thành một giai tầng giá trị mang tính chất căn cơ và quyết định đối với toàn thể vấn đề làm cha mẹ có trách nhiệm. Giai tầng này không thể đảo lộn và trật tự chính xác của các giá trị không thể đổi thay. Khi liều lĩnh đảo lộn hay thay đổi trật tự giá trị hầu giải quyết vấn đề, ta đã lấy các khiá cạnh phiến diện làm khởi điểm thay vì khởi đi từ “một nhãn quan bao quát về con người và ơn gọi làm người.” Mỗi một khiá cạnh phiến diện thì tự nó rất quan trọng-và ĐGH Phaolô VI không hề giảm hạ tầm quan trọng này-cho dù đó là khiá cạnh dân số-xã hội hay khiá cạnh sinh học-tâm lý. Trái lại, ngài nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Có điều là ngài chỉ muốn đề phòng không để cho một khiá cạnh phiến diện nào, dù quan trọng đến đâu chăng nữa, có thể tiêu diệt giai tầng giá trị chân chính và tước đoạt ý nghĩa chân thực của tình yêu hiều như một hiệp thông nhân vị, cũng như lược bỏ ý nghĩa chân thực của con người hiểu như một nhân vị có khả năng tự hiến chân chính, một tự hiến trong đó con người không thể bị thay thế bởi kỹ thuật. Tuy vậy, trong tất cả những điều vừa nói, ĐGH không hề bỏ sót bất kỳ một khía cạnh phiến diện nào của vấn đề; trái lại, ngài đối diện với nó, thiết lập nội dung căn bản cho nó và công bố giai tầng chính xác của các giá trị. Chính trên nẻo đường này, vẫn có khả thể của sự kiểm soát sinh sản, và nhờ thế, vẫn giúp giải quyết được các khó khăn về xã hội-dân số. Chính vì thế, ĐGH Phaolô VI đã có thể viết chắc như thế này: “Chính quyền có thể và phải góp phần giải quyết vấn đề dân số” (số 23). Khi đề cập đến các khía cạnh sinh học hoặc ngay cả tâm lý học-như luân thư dậy-con đường dẫn đến việc thể hiện các giá trị liên hệ, nhất thiết phải đi qua đỉnh cao giá trị của tình yêu và nhân vị. Sau đây xin trích dẫn lời của nhà sinh vật học lỗi lạc, Giáo Sư P.P. Grasset, thuộc Hàn Lâm Viện Khoa Học: “Luân thư đi theo đúng hướng của các dữ kiện sinh học, nó nhắc nhở các vị bác sĩ về bổn phận của mình và chỉ dẫn cho con người con đường qua đó nhân phẩm--cả về sinh lý lẫn luân lý--sẽ không hề bị xâm phạm” (Báo Le Figaro, ngày 10 tháng 6 năm 1968).

Có người cho rằng luân thư đạt thấu tới cốt lõi của vấn đề phổ quát mà Công Đồng Vaticanô II đã cam kết. Vấn đề phát triển “thế giới,” cả trong những đòi hỏi mới mẻ trong tầm tay lẫn những viễn cảnh trước mắt, đều đưa đến một chuỗi những vấn nạn con người đặt ra cho chính mình. Một số vấn nạn này được vạch ra trong Hiến Chế Mục Vụ “Gaudium et Spes” (Niềm Vui và Hy Vọng). Không thể có câu trả lời chính xác cho các vấn nạn này nếu ta không ý thức được ý nghĩa các giá trị vốn làm cho con người và đời người trở thành nhân bản chân chính. Trong luân thư MSCN, ĐGH Phaolô VI cố công nghiên cứu các giá trị này trong chính trọng tâm của chúng.

TRẮC DIỆN TIN MỪNG

Việc khảo sát các giá trị cũng như chính quy luật của tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm được phác họa trong luân thư MSCN mang theo nó một thứ dấu ấn đặc biệt của Tin Mừng. Thiết tưởng cần phải nêu rõ điểm này một lần nữa khi kết thúc những dòng suy tư này cho dù chính ý tưởng này đã trở thành mối dây liên kết các vấn đề đã nói đến. Những vấn nạn đang khuấy động tâm tư con người thời đại “đòi hỏi quyền giáo huấn của Hội Thánh một suy tư mới mẻ và sâu xa hơn về các nguyên tắc của giáo huấn luân lý về hôn nhân, vốn là giáo huấn xây dựng trên luật tự nhiên và được soi sáng cũng như phong phú hoá bởi mạc khải của Thiên Chúa.” Là sự bầy tỏ tư tưởng vĩnh cửu của Thiên Chúa, Mạc Khải cho phép ta, nhưng cũng đồng thời khuyến cáo ta, biết nhìn nhận hôn nhân như là một cơ chế để lưu truyền sự sống con người, trong đó đôi phối ngẫu trở thành “các cộng sự viên tự do và hữu trách của Thiên Chúa Tạo Hóa” (số 1).

Chính Chúa Kitô đã xác nhận phẩm giá bất biến này của đôi vợ chồng cũng như đã sắp đặt toàn thể đời sống hôn nhân vào giữa công trình Cứu Chuộc của Ngài, và còn nâng hôn nhân lên hàng bí tích. Qua bí tích hôn phối, “vợ chồng được kiện cường, và có thể nói là được thánh hiến, ngõ hầu trung thành làm tròn các bổn phận riêng mình, hoàn tất ơn gọi biệt loại của mình cho tới mức trọn lành, cũng như đóng trọn vai trò chứng tá Kitô Hữu trước mặt thế gian” (số 25). Bởi vì giáo lý về luân lý Kitô giáo đã được vạch rõ trong luân thư, thế nên giáo lý về tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm, hiểu như lối biểu tỏ đúng đắn tình yêu hôn nhân và phẩm giá con người, đã trở thành một cấu tố của chứng tá Kitô hữu.

Nói cho đúng ra, để hoàn thành chứng tá này, con người phải thực hiện một số những hy sinh để minh chứng cho các giá trị chân thực. Tin Mừng liên tục xác nhận sự cần thiết của những hy sinh ấy, vốn cũng được xác nhận bởi công trình Cứu Chuộc đã được diễn tả toàn diện qua Mầu Nhiệm Phục Sinh. Thập Giá của Chúa Kitô đã trở thành cái giá cứu chuộc nhân loại. Ai bước đi trên nẻo đường của các giá trị chân chính đều phải đón nhận một phần của cây thập giá ấy như là cái giá phải trả để đổi lấy các giá trị chân thực. Cái giá này nằm trong một nỗ lực đặc biệt: “Luật của Thiên Chúa, ĐGH viết, đòi hỏi sự cam kết nghiêm chỉnh và thật nhiều cố gắng,” rồi ngài lại thêm ngay rằng: “những nỗ lực ấy làm con người trở thành cao thượng và sinh ích lợi cho cộng đồng nhân loại” (số 20).

Phần cuối luân thư là lời kêu gọi mọi người sống cam kết nghiêm chỉnh và cố gắng liên tục, ngõ hầu “tạo nên được một bầu không khí thuận lợi cho việc giáo dục về lòng khiết tịnh” (số 22), đồng thời cũng kêu gọi chính quyền và các nhà khoa học phải cố gắng “cung cấp một căn bản vững chắc đầy đủ cho việc điều hòa sinh sản, dựa trên việc quan sát các nhịp điệu tự nhiên” của sự thụ tinh (số 24). Cuối cùng luân thư kêu gọi chính các đôi vợ chồng, những người làm việc tông đồ gia đình cho các gia đình, các vị bác sĩ, các linh mục, và các giám mục là những mục tử chăm sóc các linh hồn.

Còn đối với những người thời đại, đang thao thức và bất nhẫn, nhưng cũng đang bị đe doạ trong lãnh vực các giá trị và nguyên tắc nồng cốt nhất, ĐGH nhắc nhở họ về các luật lệ đang thống trị lãnh vực này. Nhận thấy họ thiếu nhẫn nại, lúc nào cũng chỉ đi tìm những điều đơn giản và những giải pháp dễ dàng, ngài nhắc họ nhớ đến cái giá cần phải trả để có được các giá trị chân thực, cũng như cần phải có bao nhiêu nhẫn nại và nỗ lực mới thể hiện được các giá trị ấy. Dường như xuyên qua những lý chứng và lời mời gọi của luân thư vốn mang đầy những căng thẳng bi tráng, chúng ta vẫn còn nghe thấy văng vẳng tiếng nói của Thầy Chí Thánh: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình” (Luca 21:19). Thực sự, điểm cốt cán sau cùng là như thế đó.