Sự Thật của Luân Thư

MẠNG SỐNG CON NGƯỜI (MSCN)

ĐHY Karol Wojtyla

Nửa năm sau ngày luân thư MSCN được ban hành, giữa sự bùng nổ dữ dội của tranh luận và chống đối, ta đọc thấy bài bình luận sắc bén với tựa đề như trên của ĐHY Karol Wojtyla, vị Giáo Hoàng tương lai lừng danh của Giáo Hội, được đăng tải trên tờ L’Osservatore Romano, ấn bản Anh Ngữ hằng tuần, ngày 16 tháng Giêng năm 1969. Xin tạm dịch để cống hiến bạn đọc trong loạt bài tìm hiểu Luân Thư MSCN của ĐGH Phaolô VI.

MỘT CHỨNG TỪ

Thật lạ lùng nếu chúng ta mở đầu suy tư về luân thư ‘MSCN’ bằng cách trích dẫn từ cuốn ‘Tiểu Sử của M. Gandhi.’ “Theo thiển ý tôi--vị vĩ nhân Ấn Độ viết--nếu bảo rằng hành vi dục tính là một hành động tương tự như ăn uống, ngủ nghỉ, thì quả là dốt đặc. Sự hiện hữu của thế giới lệ thuộc vào hành vi sinh sản; và bởi vì thế giới nằm dưới quyền thống lĩnh của Thiên Chúa và là phản ảnh uy quyền của Ngài, do đó hành vi sinh sản phải lệ thuộc vào quy luật vốn nhằm bảo vệ sự phát triển sự sống trên trái đất. Ai ý thức được tất cả những điều trên, hẳn sẽ bằng mọi giá làm chủ giác quan mình và trang bị cho mình sự hiểu biết cần thiết để giúp hậu duệ mình phát huy sự tăng triển cả về mặt thể lý lẫn tâm linh. Người ấy sẽ thông truyền sự hiểu biết này cho đám hậu sinh cũng như sử dụng kiến thức này cho chính sự tiến triển của mình.” Cũng trong cuốn Tiểu Sử này, ở một chỗ khác, Gandhi nói rằng trong đời sống hôn nhân của mình, ông đã hai lần bị ảnh hưởng bởi việc quảng cáo các phương tiện ngừa thai nhân tạo. Thế nhưng, ông đi đến xác tín rằng “ta phải tiên quyết hành động bằng sức mạnh nội tâm, bằng việc tự chủ và tự chế.”

Những lời trích dẫn trên đây từ tiểu sử Gandhi mang ý nghĩa của một chứng từ đặc biệt đối với luân thư MSCN, nhắc cho ta những lời nói của Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Rôma, liên quan đến bản chất của Lề Luật đã được ghi khắc vào tâm khảm con người và được minh chứng qua những tiếng gọi của một lương tâm ngay thẳng (Rom. 2, 15). Ngay trong thời đại của Thánh Phaolô, tiếng nói của một lương tâm ngay thẳng đã là một khiển trách đối với những ai không tuân theo, cho dù mang danh là những kẻ “sở hữu Lề Luật.”

Chứng từ của một người không phải Kitô hữu như Gandhi cũng là một điều hay đối với chúng ta. Thật là thích hợp nếu chúng ta ý thức về “bản chất của Lề Luật” đuợc viết ra trong trái tim con người và được minh chứng qua tiếng lương tâm, ngõ hầu có thể thấu nhập vào chân lý thâm sâu của giáo lý Hội Thánh chất chứa trong luân thư MSCN của ĐGH Phaolô VI. Do đó, chứng từ của Gandhi đã được dùng để bắt đầu cho những suy tư nhằm soi sáng cho chân lý đạo đức cũng như nền tảng khách quan của giáo huấn trong MSCN. Cho dù về mặt lịch sử, chứng tứ này đã đi trước luân thư hàng mấy thập niên, nhưng điều đó không hề làm mất đi ý nghĩa của nó: quả vậy, cốt yếu của vấn đề vẫn chỉ là một, và ngay cả hoàn cảnh cũng khá tương đồng.

LÀM CHA MẸ CÓ TRÁCH NHIỆM CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

Để trả lời cho những câu hỏi nêu lên ở đầu luân thư (số 3), ĐGH Phaolô VI đã phân tích hai “thực tại lớn và căn bản của đời sống hôn nhân,” đó là tình yêu vợ chồng và tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm (số 7), trong mối quan hệ hỗ tương của chúng. Phân tích về việc làm cha mẹ có trách nhiệm đã làm thành chủ điểm của luân thư bởi vì những câu hỏi được đặt ra ngay từ đầu đã trình bầy vấn đề này: “Liệu có thể, với ý hướng hạn chế sinh sản một cách hợp lý, người ta có thể biến việc vô hiệu hóa năng lực sinh sản thành một kiểm soát sinh sản hợp pháp và khôn ngoan được chăng? Liệu có thể chấp nhận rằng cứu cánh của việc sinh sản thì gắn liền với toàn thể đời sống hôn nhân, chứ không phải chỉ gắn liền với một hành vi riêng lẻ của đời sống ấy chăng? Liệu đã đến lúc con người thời đại được quyền căn cứ vào lý trí và ý chí của mình để tự điều hòa việc sinh sản, hơn là phó mặc cho các nhịp điệu sinh lý của cơ thể mình?” (số 3)

Để trả lời cho những câu hỏi này, ĐGH đã không nại đến trật tự truyền thống về các mục đích của hôn nhân vốn có tột đỉnh là sự sinh sản; trái lại, ngài phân tích các mối quan hệ hỗ tương giữa tình yêu hôn nhân và tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm. Đây cùng là một định thức của vấn đề vốn chất chứa trong Hiến Chế Mục Vụ “Gaudium et Spes” (Vui Mừng và Hi Vọng).

Một phân tích chính xác và thấu triệt về tình yêu hôn nhân phải giả định một ý tưởng xác đáng về hôn nhân. Hôn nhân không phải là “sản phẩm của các lực lượng tự nhiên vô ý thức’ (số 8), mà là một “hiệp thông hữu thể” (số 8), dựa trên sự trao thân giữa hai người. Chính vì lý do này, để có được một phán đoán chính xác về tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm, cần phải có sẵn một “nhãn quan toàn diện về con người và về ơn gọi làm người” (số 7). Để có được một phán đoán như thế, nếu chỉ có những “quan điểm phiến diện-dù thuộc trật tự sinh lý, tâm lý, dân số, hay xã hội” (số 7)-thì vẫn chưa đầy đủ. Không quan điểm nào có thể kiến tạo được căn bản cho một câu trả lời thoả đáng và đúng đắn cho các vấn nạn được đặt ra. Quan điểm phiến diện chỉ có thể đem lại một câu trả lời phiến diện. Để có một câu trả lời thoả đáng, cần phải có một nhãn quan chính xác về con người xét như hữu thể, bởi vì hôn nhân tạo nên một hiệp thông hữu thể, được khai sinh bằng sự trao thân giữa hai người. Tình yêu hôn nhân mang nét đặc trưng là các yếu tố xuất phát từ sự hiệp thông hữu thể, và tương ứng với phẩm giá cá nhân của người nam và người nữ, của chồng và vợ. Đây là vấn đề của tình yêu toàn diện, hoặc tình yêu bao hàm toàn vẹn con người: cảm tính, xúc động tính, và thiêng liêng tính, vốn phải vừa chung thủy lại vừa độc chiếm. Tình yêu này không “bị cạn kiệt trong hiệp thông vợ chồng, mà được định hướng để tiếp tục gầy dựng những mầm sống mới” (số 9); đó là tình yêu có kết quả. Sự hiệp thông yêu thương này của đôi hôn phối-qua đó, theo sách Sáng Thế 2:24, họ trở thành “một xương một thịt”-là một điều kiện của khả năng sinh sản. Vì mang một tính cách đặc loại--thể xác và phái tính--sự hiệp thông hữu thể hôn nhân nhất thiết phải đưa đến bình diện nhân vị cũng như phải phù hợp với phẩm giá con người. Một phán đoán xác đáng về tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm phải được xây dựng trên căn bản này.

Trước hết, phán đoán này liên hệ đến thực chất của phụ tính-và về khía cạnh này, đây là một phán đoán tích cực: “tình yêu hôn nhân đòi buộc vợ chồng có ý thức về sứ mệnh làm cha mẹ có trách nhiệm…(số 10). Xuyên suốt chiều dài của luân thư, phán đoán này đươc hình thành liên tục và được đề nghị như một trả lời căn bản cho các vấn nạn nêu trên: tình yêu hôn nhân phải là tình yêu mang lại kết quả, nghĩa là, “được hướng đến việc làm cha mẹ.” Việc làm cha mẹ mà phát xuất từ tình yêu giữa hai nhân vị thì chính là “việc làm cha mẹ có trách nhiệm.” Có thể nói, trong MSCN, tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm chính là ‘tên riêng’ của sự sinh sản con người.

Tuy nhiên, phán đoán căn bản tích cực này về tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm cần được khai triển thêm nữa mới có thể có được một câu trả lời phổ quát cho các vấn nạn đầu tiên. ĐGH Phaolô VI cống hiến cho ta những khai triển này. Theo MSCN, tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm có nghĩa là “một quyết định dứt khoát và quảng đại trong việc tăng nhân số trong gia đình, và cũng có nghĩa là một quyết định tránh sinh sản, tạm thời hay vô hạn định” (số 10). Nếu tình yêu hôn nhân là một tình yêu mang lại kết quả, nghĩa là, mở ngỏ cho việc trở thành cha mẹ, thì thật khó mà nghĩ rằng ý nghĩa của tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm-xét về thực chất--lại chỉ có thể đồng nghĩa với hạn chế sinh sản. Như vậy, tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm được áp dụng cho đôi hôn nhân nào, do quyết định quảng đại chín chắn, sẵn sàng chấp nhận một gia đình đông con, cũng như áp dụng cho đôi hôn nhân nào, vì “các lý do nghiêm trọng và với đầy lòng tôn trọng lề luật luân lý” (số 10), đã quyết định giới hạn số con cái trong gia đình.

Theo giáo lý Hội Thánh, tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm không là, và không thể chỉ là hiệu quả của một thứ “kỹ thuật” hợp tác vợ chồng: thực ra, tiên quyết và tự nội, nó mang một giá trị đạo đức. Mối nguy cơ thực sự và căn bản--điều mà luân thư MSCN dường như là một phương thuốc chữa trị mang tính quan phòng--là ở chỗ người ta bị cám dỗ xem vấn đề này như nằm bên ngoài lãnh vực đạo đức, để cố tình tước lột khỏi con người cái trách nhiệm về các hành động của mình, vốn đã bén rễ sâu vào trong toàn thể cơ cấu cá nhân mình. ĐGH viết: “Tư cách làm cha mẹ có trách nhiệm có nghĩa là ý chí và lý trí phải thống lĩnh các xu hướng bản năng và đam mê” (số 10). Sự thống lĩnh này giả định sự “hiểu biết và tôn trọng các tiến trình sinh học” (số 10), và không chỉ đặt các quá trình này vào trong năng động tính sinh học của chúng, mà còn cả trong sự hình thành cá nhân, nghĩa là, trên bình diện nhân vị, bởi vì “bên trong năng lực sinh sản, trí năng con người khám phá ra được các định luật sinh học vốn là một phần của nhân vị con người” (số 10).

Tình yêu là hiệp thông nhân vị. Nếu tư cách làm cha mẹ, nhất là làm cha mẹ có trách nhiệm tương ứng với tình yêu này, thì cách hành động dẫn đến tư cách làm cha mẹ ấy không thể mang tính dửng dưng về mặt luân lý được. Quả vậy, nó quyết định hành vi dục tính của hiệp thông nhân vị có phải là tình yêu đích thực hay không. “Qua việc bảo vệ cả hai khía cạnh quan yếu này, tức khiá cạnh kết hợp và sinh sản, hành vi vợ chồng duy trì toàn vẹn ý nghĩa của tình yêu hỗ tương chân thực…” (số 12)

Con người “không thể tự ý tách lià mối liên kết bất khả ly giữa hai ý nghĩa của hành vi vợ chồng: ý nghĩa kết hợp và ý nghĩa sinh sản” (số 12). Chính vì lý do này mà luân thư MSCN hỗ trợ lập trường trước đây của Huấn Quyền và duy trì sự khác biệt giữa cái gọi là điều hoà sinh sản tự nhiên vốn kêu mời sự tiết dục định kỳ với việc ngừa thai bằng cách sử dụng các phương pháp nhân tạo. Ta sử dụng từ ngữ ‘duy trì’ bởi vì “hai trường hợp hoàn toàn khác biệt nhau” (số 16). Sự khác biệt này rất lớn xét về tính cách đạo đức.

Là một văn kiện của Huấn Quyền tối cao, luân thư của ĐGH Phaolô VI trình bầy giáo huấn về đạo đức con người và Kitô giáo qua một trong những điểm mấu chốt. Vì thế, sự thật của “MSCN” tiên quyết là một sự thật mang tính lề luật. Nó nhắc nhở ta về các nguyên tắc luân lý, vốn cấu thành quy luật khách quan. Quy luật này được ghi khắc trong trái tim con người, như được minh chứng ít là qua chứng từ của Gandhi mà ta trích dẫn trên đây. Tuy vậy, nguyên tắc luân lý khách quan này dễ bị bóp méo một cách chủ quan hoặc bị che mờ giữa lòng đại chúng. Mặt khác, nhiều nguyên tắc luân lý khác tỉ như các nguyên tắc nói đến trong luân thư “Populorum Progressio” (Sự Tiến Bộ của Các Dân Tộc) cũng chịu chung số phận. Trong luân thư “MSCN,” Đức Thánh Cha trước hết nói lên sự thấu triệt của ngài về các hoàn cảnh dường như đối nghịch lại nguyên tắc luân lý mà Giáo Hội dậy. Ngài cũng ý thức rõ ràng về những khó khăn mà người thời đại phải đương đầu, cũng như những yếu đuối họ đang gặp phải. Tuy nhiên, con đường dẫn đến giải pháp cho vấn đề nhất thiết phải đi qua chân lý Tin Mừng: “Việc không hề làm suy giảm giáo huấn cứu độ của Chúa Kitô chính là hình thức bác ái cao cả đối với các linh hồn” (số 29). Động lực bác ái đối với các linh hồn, chứ không phải bất kỳ một động lực nào khác, đã khiến Giáo Hội “không ngừng công bố--tuy khiêm tốn nhưng kiên quyết-toàn thể luật lệ luân lý, cả về tự nhiên lẫn theo tin mừng” (số 18).

(còn một kỳ)