Tìm hiểu luân thư
MẠNG SỐNG CON NGƯỜI (MSCN)
của ĐGH Phaolô VI
“Tháng tám ở Koln trời đâu mưa gió, trời không mưa, sao bắt mặc áo mưa?” Theo tin tức từ Kolh gửi về thì đây là câu hát nghe được từ miệng một thanh niên Việt Nam đi dự ngày Quốc Tế Giới Trẻ mà gặp ngay cảnh phân phát bao cao su (‘áo mưa’) của nhóm phá rối (xem bài ‘Không, cám ơn, người Công Giáo chúng tôi không xài thứ này’ đăng trên VietCatholic ngày 22/8/05 vừa qua). Vụ này khiến tôi liên tưởng đến luân thư MSCN được ĐGH Phaolô VI gửi đến cho toàn thể giáo hội để rồi đã gây ra cả một luồng vũ bão phản ứng dây chuyền mà việc phát ‘áo mưa’ vừa qua chỉ là một gợn sóng lăn tăn. Tiếp nối loạt bài THXT của ĐGH Gioan Phaolô II, mà nguyên chương 8 được dành cho chủ đề này, cũng như nhân dịp kỷ niệm 37 năm ngày luân thư được ban hành, xin cống hiến bạn đọc bản lược dịch bài “MSCN- 25 năm sau” do LM Phaolô A. Duffner, dòng Đaminh, đăng trên nguyệt san “The Rosary: Light & Life- Vol. 47, số 1, tháng Giêng-Hai năm 1994.”
Luân thư MSCN của ĐGH Phaolô VI có lẽ là văn kiện giáo hoàng gặp nhiều chống đối nhất cũng như đã gây nhiều tranh cãi chưa từng thấy. Không phải vì Giáo Hội dậy một điều không đúng, mà là vì Giáo Hội dậy điều không thịnh hành, điều đòi hỏi phải hy sinh, điều mà thế giới ham vui khoái lạc ngày nay cố tình làm ngơ, điều mà người có đạo nhưng yếu lòng tin không muốn chấp nhận.
CĂN BẢN GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI
Lên tiếng trong ngày Đại Hội Quốc Tế về Thần Học Luân Lý tổ chức để kỷ niệm hai mươi năm ban hành luân thư MSCN, ĐGH Gioan Phaolô II đã giải thích: “Đây không phải là giáo lý con người tạo ra; nó được khắc sâu vào chính bản tính con nguời từ bàn tay Tạo Hóa, và được Ngài xác nhận trong mạc khải.” Luân thư này xác nhận giáo lý mà ĐGH Piô XI đã nêu lên trong luân thư viết về Hôn Nhân Kitô Giáo: “Bất kỳ cách thức nào mà hôn nhân xử dụng khiến cho hành vi hôn phối cố tình làm mất tác dụng trong mục tiêu tự nhiên của nó là phát sinh mầm sống thì đều là một xúc phạm đối với luật Thiên Chúa và luật Tự Nhiên.”
ĐGH Phaolô VI giải thích căn bản giáo lý của MSCN như sau: “Giáo huấn của huấn quyền căn cứ trên mối liên kết bất khả ly giữa hai ý nghĩa của hành vi hôn nhân, điều mà chính Thiên Chúa đã muốn và loài người không được tự ý hủy bỏ: đó là ý nghĩa kết hợp và ý nghĩa sinh sản” (12).
Bàn về lời giáo huấn trên của ĐGH Phaolô VI, ĐGH Gioan Phaolô II đã viết trong Tông Huấn “Familiaris Consortio” như sau: “Qua việc sử dụng phương tiện ngừa thai, khi đôi vợ chồng tách biệt hai ý nghĩa mà Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa đã ghi khăc trong hữu thể người nam cũng như người nữ và trong tính năng động của mối thông hiệp phái tính nơi họ, họ đã hành xử như thể là chính quan toà đối với kế hoạch của Thiên Chúa; họ còn thao túng và hạ giảm dục tính con người, (cũng là hạ giá chính họ và người phối ngẫu) bằng cách biến đổi giá trị của việc tự trao hiến hoàn toàn.”
Xét về nền tảng Thánh Kinh, Thiên Chúa đã ám chỉ ý nghĩa kết hợp của hành vi vợ chồng khi Ngài nóí rằng: “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2:24; Mt 19:5). Ngài ám chỉ ý nghĩa sinh sản khi nói với nguyên tổ chúng ta: “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều cho đầy mặt đất…” (St. 1:28)
Thế nhưng, ta không được hiểu lầm lời Giáo Hội dậy về khía cạnh này. Nhà thần học luân lý lừng danh, Đức Ông William Smith vạch ra rằng: “Giáo Hội nhìn nhận rằng hai chiều kích này của hành vi vợ chồng thì bất-khả-ly, nhưng điều này không có nghĩa là cả hai chiều kích ấy phải được thể hiện trong từng thời đoạn. Tại sao? Bởi vì đó là dự tính và kế hoạch của Chúa; và ta là cộng sự viên, chứ không phải là quan toà của kế hoạch ấy.
Đức Ông thêm rằng: “Giáo lý này khởi sự từ ba nguồn linh thánh: Kinh Thánh do Chúa mạc khải, Thánh Truyền do Chúa Thánh Thần soi dẫn, và Huấn Quyền được Chúa Giêsu trao ban như một hồng ân để dậy dỗ Nhân Danh Ngài.” Công Đồng Vaticanô II đã đề cập đến ba nguồn mạch này trong Hiến Chế Mạc Khải:”Sự kiện rõ ràng là Thánh Truyền, Thánh Kinh, và Huấn Quyền, theo dự tính khôn ngoan vô cùng của Chúa, thì liên kết với nhau chặt chẽ đến độ không thể đứng vững nếu tách rời nhau; dưới tác động của Chúa Thánh Thần, cùng với nhau, mỗi nguồn theo cách thức riêng, đều góp phần hữu hiệu cho việc cứu rỗi linh hồn.” (số 10)
Bất kỳ tình huống nào liên quan đến dục tính con người mà Giáo hội đã chối bỏ vì xét là vô luân do bởi trái ngược với dự tính của Chúa, thì bằng cách này hay cách khác đều liên quan đến việc tách rời hai kết quả của tình yêu hôn nhân này (tức là kết hợp và sinh sản) trong khi Thiên Chúa đã liên kết chúng lại với nhau. Xin chỉ nêu một vài tiêu biểu: thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai hộ, dự trữ tinh trùng, sinh sản vô tính, kiểm soát sinh sản nhân tạo…
Những lời sau đây của Chúa Kitô, tuy được sử dụng trong trường hợp ly dị, nhưng cũng có thể áp dụng cho mối liên kết bất khả ly giữa hai ý nghĩa (kết hợp và sinh sản) của hành vi vợ chồng: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mt. 19:6)
TẢNG ĐÁ PHÊRÔ
Điều quan trọng là nhìn thấy vai trò của ĐGH trong thời buổi khó khăn đầy bất đồng và khủng hoảng đức tin nơi nhiều người trong Giáo hội. Chúa Kitô xây Hội Thánh Ngài trên Phêrô: “Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” (Mt. 16:18). Ngài trao phó sứ điệp cho các tông đồ mà Phêrô làm đầu, rồi cho họ quyền giáo huấn và cầm buộc: “Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy.” (Lc. 10:16) “Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy” (Mt. 16:19).
Chúa Giêsu đã cho giáo Hội Ngài hai nguồn hiệp nhất, hai nguồn hướng dẫn. Một là nguồn hướng dẫn nội tâm, tức là Ánh Sáng Đức Tin; hai là nguồn hướng dẫn bên ngoài, tức Tiếng Nói của Phêrô. Với người Công giáo, hai nguồn này luôn đi đôi với nhau. Không có cái này thì cái kia không thể đứng vững: Ánh Sáng Đức Tin sẽ lụi tàn nếu Tiếng Nói của Phêrô bị chối bỏ; không có Ánh Sáng Đức Tin thì Tiếng Nói của Phêrô cũng bị chối bỏ luôn.
LƯƠNG TÂM KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG LÀ HƯỚNG DẪN VIÊN ĐÚNG ĐẮN
Ai chối bỏ hai nguồn hướng dẫn mà Chúa đã ban tặng, thì không còn được Ánh Sáng Đức Tin hướng dẫn nữa, hoạ chăng còn có lý trí loài người vốn đã bị khuất lấp bởi nguyên tội. Khi đó, dù ý thức hay không, người ấy sẽ chỉ còn suy tưởng theo mơ ước, vốn là một yếu điểm của bản tính sa đoạ loài người. Do đó, ta dễ biện minh cho điều ta muốn làm, hoặc không làm điều ta không muốn làm. Chính là do bởi phán đoán của ta đã bị dục vọng làm nghiêng lệch. Càng dính bén của cải vật chất, hoặc thú vui, thân xác ta và bản năng của ta càng che mờ lý trí, càng khiến ta dễ bị mắc lừa.
Đó là lý do tại sao lương tâm ta, vốn chỉ là một phán đoán thực tiễn của trí năng, không phải lúc nào cũng là một hướng dẫn viên đáng tin cậy. Đây chính là cội rể vấn đề của nhiều người trong Giáo Hội ngày nay vin vào để chối bỏ giáo huấn của Giáo Hội. Họ nói: “Tôi đang sống theo tiếng lương tâm, nó cho phép tôi chối bỏ giáo huấn của Giáo Hội (tỉ như về vấn đề ngừa thai), để sống theo công cảm.” Nói như thế chẳng khác nào bảo rằng: “Lương tâm tôi cho phép tôi chối bỏ điều Thánh Thần của Chúa Kitô dậy bảo, để đi theo gợi ý của tinh thần thế gian.”
Về điểm này, ĐGH Gioan Phaolô, trong huấn từ ngày 17 tháng 8 năm 1983, đã nói rằng: “Nếu bảo một người rằng: ‘hãy luôn nghe tiếng lương tâm’ thì thật là chưa đủ. Cần phải thêm ngay rằng: ‘Hãy tự hỏi xem lương tâm bạn đang nói thật hay đang nói láo, và hãy luôn nhớ tìm kiếm sự thật. Không làm thế, ta sẽ liều mình đi tìm trong lương tâm một sức mạnh có khả năng hủy hoại nhân tính, hơn là tìm thấy ở nơi đó một nơi chốn để Thiên Chúa mạc khải điều thiện hảo cho mình.”
Một khi đã chối bỏ sự khôn ngoan của Chúa Kitô ban xuống qua tay Giáo Hội (sự khôn ngoan này bao gồm cả thập giá), thì ta sẽ không thể không chấp nhận sự khôn ngoan của thế gian. Không có con đường thứ ba, không có vị trí trung lập. “Ai không đi với tôi là chống lại tôi” (Mt. 12:30).
Một khi đã chối bỏ giáo huấn Giáo Hội về những điều quan yếu, thật là dễ chối bỏ những giáo huấn căn bản khác của Giáo Hội. Có người tự cho mình là Công Giáo nhưng lại phò phá thai…Họ muốn được gọi là ‘Công Giáo phò-chọn-lựa.’ Hẳn nhiên, những người này sẽ là những kẻ chối bỏ Huấn Quyền bằng cách đi tiên phong trong hàng ngũ những người chối bỏ Humanae Vitae (MSCN). Khi không còn đuợc ánh sáng đức tin soi lối nữa, thì tinh thần thế gian sẽ tràn đến ngay.
Trong dịp kỷ niệm hai mươi năm ban hành luân thư MSCN, ĐGH Gioan Phaolô II đã bình luận như sau: “Không thể bảo rằng người tín hữu đã thực tâm tìm kiếm sự thật nếu người ấy không đếm xỉa gì đến Huấn Quyền, hoặc tự coi mình như quan toà, bằng càch đặt Huấn Quyền ngang hàng với bất kỳ một thứ tri thức nào khác; hoặc nếu rơi vào tình trạng hoài nghi, người ấy sẽ chỉ theo ý riêng của mình hay của một thần học gia nào đó, và coi ý kiến ấy cao hơn cả giáo huấn chân thực của Giáo Hội...
“Gắn liền với vấn đề lương tâm luân lý là vấn đề đòi buộc của quy luật luân lý trong MSCN. Khi tuyên bố rằng hành vi ngừa thai thì tự nội là trái phép, ĐGH Phaolô VI muốn dậy rằng không hề có luật trừ. Không có một tình huống cá nhân hay xã hội nào bao giờ, hôm nay và mai sau, có thể làm cho nó trở thành hợp pháp tự nội. Đây là giáo huấn bất biến của Thánh Truyền và của Huấn Quyền mà không một thần học gia Công giáo nào có thể đặt vấn đề được.”
Nói khác đi, điều ấy không thể thực hiện hợp pháp được; và nếu có xẩy ra ở đâu đó, thì đúng là người mù đang dẫn kẻ đui. “Mù mà lại dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố.” (Mt. 15:14)
VƯỜN ĐIẠ ĐÀNG NGÀY NAY
Thật là hữu ích nếu ta móc nối điều vừa đề cập với điều đã xẩy ra vào buổi hừng đông của nhân loại. Bạn hẳn còn nhớ câu truyện trong sách Sáng Thế khi Ađam và Evà bất tuân lệnh Chúa không được ăn trái cây biết lành biết dữ. “Rắn nói với người đàn bà: Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” (St. 3:5)
Thay vì nhìn nhận uy quyền, tối thượng tính và sự thống lĩnh muôn loài của Thiên Chúa, ông bà đã phản loạn chống lại lệnh truyền của Ngài; và ta đã biết hậu quả như thế nào rồi.
Vì biết rõ bản tính nhân loại, ma qủy ngày nay đang dùng cùng một thứ xảo thuật và chiến lược đã áp dụng với ông bà nguyên tổ. “Cứ chối phắt giáo huấn này đi. Các vị ban hành những thứ lệnh này lạc hậu quá rồi. Bạn rành thế gian hơn các cụ ấy. Các cụ làm gì có những vấn đề như bạn đang gặp. Cứ làm như bạn nghĩ phải là được rồi.”
Đó là đề nghị của Thần Dữ. Sau khi Ađam và Evà phạm tội, vuơng quốc của Satan được hình thành, và ông bà sống dưới quyền thống trị của hắn. Chỉ trừ một mình Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, mọi hậu duệ của Ađam khi bước vào đời đều nằm dưới ách thống trị của Satan, mãi cho tới khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy. Nhưng dù có chịu Bí Tích Thánh Tẩy rồi chăng nữa, Kitô hữu nào ra khỏi tình trạng ân sủng thì lại rơi trở lại dưới quyền thống lĩnh của Satan. Càng chống cưỡng uy quyền Thiên Chúa, người ấy càng rơi sâu hơn nữa vào tầm ảnh hưởng của Satan và tiếp tay cho hắn thao túng.
CÂY BIẾT LÀNH BIẾT DỮ
Biết bao nhiêu đôi vợ chồng ngày hôm nay đã bị ma qủy lôi cuốn vào việc ăn trái cây biết lành biết dữ. Thiên Chúa cho phép nguyên tổ chúng ta sử dụng mọi thứ cây quả trong Vuờn Địa Đàng, chỉ trừ một cây. Điều gì Thiên Chúa đã thực sự cấm đoán? Điều gì Ngài đã thực sự không ban phép cho tổ phụ loài người được làm khi truyền lệnh không được ăn trái cây biết lành biết dữ? Một chú thích trong bản kinh thánh Jerusalem đã giải thích như sau: “Đó chính là quyền tự mình quyết định điều gì lành, điều gì dữ, và hành xử theo đó, một yêu sách muốn hoàn toàn độc lập về luân lý, qua đó con người chối bỏ việc nhìn nhận thân phận thụ tạo của mình. Cái tội đầu tiên này chính là dám tấn công vào quyền tối thượng của Thiên Chúa, cái tội kiêu ngạo.”
Nói về đoạn văn vừa trưng dẫn, trong luân thư về luân lý Kitô giáo “Veritatis Splendor” (Vẻ huy hoàng của Chân lý}, ĐGH Gioan Phaolô II đã viết: “Như thế có nghĩa là việc định đoạt điều lành điều dữ không thuộc quyền con người, nhưng hoàn toàn là quyền của Thiên Chúa mà thôi…Tự do con người không phải là vô hạn. Nó phải dừng lại trước “’cây biết lành biết dữ,’ bởi vì tự do ấy được mời gọi chấp nhận luật luân lý do Thiên Chúa ban” (số 35).
Thế mà hôm nay, biết bao người đang chối bỏ lời Chúa cảnh báo truyền xuống qua tay Giáo Hội, họ đang cắn vào trái cấm! Cũng như Ađam và Evà, biết bao người đang yêu sách cho chính mình một quyền độc lập luân lý, từ khước nhìn nhận giới hạn mà Tạo Hóa đã sắp đặt trên họ. Biết bao nhiêu người, không còn được ánh sáng đức tin soi dẫn, đang chạy theo bản năng ích kỷ, thế mà cứ cho rằng mình hiểu biết nhiều hơn Giáo Hội. Biết bao nhiêu người đang chìm sâu trong tầm ảnh hưởng của Thần Dữ, chạy theo đề nghi của hắn hơn là nghe theo tiếng Chúa Giêsu nói qua Giáo hội của Ngài: “Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy” (Lc. 10:16).
NGƯỜI CÔNG GIÁO PHÒ-LỰA-CHỌN
Những người chối bỏ giáo huấn của Giáo Hội đề ra trong MSCN đều hình thành nhóm “Công Giáo Phò-Lựa-Chọn.” Tôi có quyền chọn lựa chứ! Phải, nhưng cái hạn từ ‘phò-lựa-chọn’ thực ra ám chỉ “phá thai.” Vấn đề đúng là ở chỗ ấy; nó đúng là áp dụng cho phá thai. Hạn từ ấy áp dụng thật đúng cho những ai sử dụng phương tiện ngừa thai, bởi vì rất nhiều hình thức ngừa thai đều mang tính chất phá thai, nghĩa là đều đưa đến phá thai. Janet E. Smith, người đã xuất bản hai cuốn sách bênh vực MSCN, đã giải thích như sau: “Có nhiều chứng cớ cho thấy rằng không phải tất cả mọi viên thuốc ngừa thai đều tác dụng bằng cách làm ngưng trệ tiến trình rụng trứng. Dù có dùng nhiều loại thuốc viên chăng nữa, người phụ nữ vẫn có thể rụng trứng và thụ thai. Nếu phụ nữ thụ thai trong khi dùng thuốc, hầu chắc là sẽ hư thai. Bởi vì chất ngừa thai làm cho thành tử cung chống lại trứng thụ tinh, do đó noãn thụ tinh, tức mầm sống mới, không đậu được và phải chết non. Phương pháp IUD (đặt vòng) hầu như tác động như thế. Do đó, phương pháp IUD và một số thuốc viên khác không chỉ góp phần vào việc phá thai, mà thực ra đã gây ra phá thai; chúng là những phương tiện phá thai. Như vậy, ngừa thai không phải là nguyên nhân chính đưa đến phá thai hay sao?” (“Tại sao MSCN đã nói đúng”, trang 523)
Chỉ một mình Thiên Chúa mới biết được có bao nhiêu nhân mạng được thụ thai và rồi bị loại trừ dưới tay những người sử dụng phương tiện ngừa thai. Cách thức này thật chi li, kín đáo, nhưng đó chính là tiêu diệt những mạng người vô tội. ĐGH Piô XI đã cảnh báo trong luân thư Hôn Nhân Kitô Giáo của ngài rằng: “Ta phải biết rằng Thiên Chúa chính là Thẩm Phán và Đấng Báo Thù cho những dòng máu vô tội đang kêu la từ đất vọng thấu lên đến trời.”
Tuy nhiên, không nói chi đến sự kiện phá thai thường theo sau việc sử dụng phương tiện ngừa thai, chỉ nguyên việc chủ ý sử dụng các phương thức nhân tạo để làm trệch hướng điều Thiên Chúa và thiên nhiên vạch định đạ là điều sai trái tự nội, và sẽ không bao giờ biện minh được, bởi vì đó chính là đòi cho bằng được cái quyền từ chối kế hoạch của Thiên Chúa, và can thiệp vào tiến trình tự nhiên mà Ngài đã thiết lập.
MẠNG SỐNG CON NGƯỜI (MSCN)
của ĐGH Phaolô VI
“Tháng tám ở Koln trời đâu mưa gió, trời không mưa, sao bắt mặc áo mưa?” Theo tin tức từ Kolh gửi về thì đây là câu hát nghe được từ miệng một thanh niên Việt Nam đi dự ngày Quốc Tế Giới Trẻ mà gặp ngay cảnh phân phát bao cao su (‘áo mưa’) của nhóm phá rối (xem bài ‘Không, cám ơn, người Công Giáo chúng tôi không xài thứ này’ đăng trên VietCatholic ngày 22/8/05 vừa qua). Vụ này khiến tôi liên tưởng đến luân thư MSCN được ĐGH Phaolô VI gửi đến cho toàn thể giáo hội để rồi đã gây ra cả một luồng vũ bão phản ứng dây chuyền mà việc phát ‘áo mưa’ vừa qua chỉ là một gợn sóng lăn tăn. Tiếp nối loạt bài THXT của ĐGH Gioan Phaolô II, mà nguyên chương 8 được dành cho chủ đề này, cũng như nhân dịp kỷ niệm 37 năm ngày luân thư được ban hành, xin cống hiến bạn đọc bản lược dịch bài “MSCN- 25 năm sau” do LM Phaolô A. Duffner, dòng Đaminh, đăng trên nguyệt san “The Rosary: Light & Life- Vol. 47, số 1, tháng Giêng-Hai năm 1994.”
Luân thư MSCN của ĐGH Phaolô VI có lẽ là văn kiện giáo hoàng gặp nhiều chống đối nhất cũng như đã gây nhiều tranh cãi chưa từng thấy. Không phải vì Giáo Hội dậy một điều không đúng, mà là vì Giáo Hội dậy điều không thịnh hành, điều đòi hỏi phải hy sinh, điều mà thế giới ham vui khoái lạc ngày nay cố tình làm ngơ, điều mà người có đạo nhưng yếu lòng tin không muốn chấp nhận.
CĂN BẢN GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI
Lên tiếng trong ngày Đại Hội Quốc Tế về Thần Học Luân Lý tổ chức để kỷ niệm hai mươi năm ban hành luân thư MSCN, ĐGH Gioan Phaolô II đã giải thích: “Đây không phải là giáo lý con người tạo ra; nó được khắc sâu vào chính bản tính con nguời từ bàn tay Tạo Hóa, và được Ngài xác nhận trong mạc khải.” Luân thư này xác nhận giáo lý mà ĐGH Piô XI đã nêu lên trong luân thư viết về Hôn Nhân Kitô Giáo: “Bất kỳ cách thức nào mà hôn nhân xử dụng khiến cho hành vi hôn phối cố tình làm mất tác dụng trong mục tiêu tự nhiên của nó là phát sinh mầm sống thì đều là một xúc phạm đối với luật Thiên Chúa và luật Tự Nhiên.”
ĐGH Phaolô VI giải thích căn bản giáo lý của MSCN như sau: “Giáo huấn của huấn quyền căn cứ trên mối liên kết bất khả ly giữa hai ý nghĩa của hành vi hôn nhân, điều mà chính Thiên Chúa đã muốn và loài người không được tự ý hủy bỏ: đó là ý nghĩa kết hợp và ý nghĩa sinh sản” (12).
Bàn về lời giáo huấn trên của ĐGH Phaolô VI, ĐGH Gioan Phaolô II đã viết trong Tông Huấn “Familiaris Consortio” như sau: “Qua việc sử dụng phương tiện ngừa thai, khi đôi vợ chồng tách biệt hai ý nghĩa mà Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa đã ghi khăc trong hữu thể người nam cũng như người nữ và trong tính năng động của mối thông hiệp phái tính nơi họ, họ đã hành xử như thể là chính quan toà đối với kế hoạch của Thiên Chúa; họ còn thao túng và hạ giảm dục tính con người, (cũng là hạ giá chính họ và người phối ngẫu) bằng cách biến đổi giá trị của việc tự trao hiến hoàn toàn.”
Xét về nền tảng Thánh Kinh, Thiên Chúa đã ám chỉ ý nghĩa kết hợp của hành vi vợ chồng khi Ngài nóí rằng: “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2:24; Mt 19:5). Ngài ám chỉ ý nghĩa sinh sản khi nói với nguyên tổ chúng ta: “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều cho đầy mặt đất…” (St. 1:28)
Thế nhưng, ta không được hiểu lầm lời Giáo Hội dậy về khía cạnh này. Nhà thần học luân lý lừng danh, Đức Ông William Smith vạch ra rằng: “Giáo Hội nhìn nhận rằng hai chiều kích này của hành vi vợ chồng thì bất-khả-ly, nhưng điều này không có nghĩa là cả hai chiều kích ấy phải được thể hiện trong từng thời đoạn. Tại sao? Bởi vì đó là dự tính và kế hoạch của Chúa; và ta là cộng sự viên, chứ không phải là quan toà của kế hoạch ấy.
Đức Ông thêm rằng: “Giáo lý này khởi sự từ ba nguồn linh thánh: Kinh Thánh do Chúa mạc khải, Thánh Truyền do Chúa Thánh Thần soi dẫn, và Huấn Quyền được Chúa Giêsu trao ban như một hồng ân để dậy dỗ Nhân Danh Ngài.” Công Đồng Vaticanô II đã đề cập đến ba nguồn mạch này trong Hiến Chế Mạc Khải:”Sự kiện rõ ràng là Thánh Truyền, Thánh Kinh, và Huấn Quyền, theo dự tính khôn ngoan vô cùng của Chúa, thì liên kết với nhau chặt chẽ đến độ không thể đứng vững nếu tách rời nhau; dưới tác động của Chúa Thánh Thần, cùng với nhau, mỗi nguồn theo cách thức riêng, đều góp phần hữu hiệu cho việc cứu rỗi linh hồn.” (số 10)
Bất kỳ tình huống nào liên quan đến dục tính con người mà Giáo hội đã chối bỏ vì xét là vô luân do bởi trái ngược với dự tính của Chúa, thì bằng cách này hay cách khác đều liên quan đến việc tách rời hai kết quả của tình yêu hôn nhân này (tức là kết hợp và sinh sản) trong khi Thiên Chúa đã liên kết chúng lại với nhau. Xin chỉ nêu một vài tiêu biểu: thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai hộ, dự trữ tinh trùng, sinh sản vô tính, kiểm soát sinh sản nhân tạo…
Những lời sau đây của Chúa Kitô, tuy được sử dụng trong trường hợp ly dị, nhưng cũng có thể áp dụng cho mối liên kết bất khả ly giữa hai ý nghĩa (kết hợp và sinh sản) của hành vi vợ chồng: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mt. 19:6)
TẢNG ĐÁ PHÊRÔ
Điều quan trọng là nhìn thấy vai trò của ĐGH trong thời buổi khó khăn đầy bất đồng và khủng hoảng đức tin nơi nhiều người trong Giáo hội. Chúa Kitô xây Hội Thánh Ngài trên Phêrô: “Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” (Mt. 16:18). Ngài trao phó sứ điệp cho các tông đồ mà Phêrô làm đầu, rồi cho họ quyền giáo huấn và cầm buộc: “Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy.” (Lc. 10:16) “Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy” (Mt. 16:19).
Chúa Giêsu đã cho giáo Hội Ngài hai nguồn hiệp nhất, hai nguồn hướng dẫn. Một là nguồn hướng dẫn nội tâm, tức là Ánh Sáng Đức Tin; hai là nguồn hướng dẫn bên ngoài, tức Tiếng Nói của Phêrô. Với người Công giáo, hai nguồn này luôn đi đôi với nhau. Không có cái này thì cái kia không thể đứng vững: Ánh Sáng Đức Tin sẽ lụi tàn nếu Tiếng Nói của Phêrô bị chối bỏ; không có Ánh Sáng Đức Tin thì Tiếng Nói của Phêrô cũng bị chối bỏ luôn.
LƯƠNG TÂM KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG LÀ HƯỚNG DẪN VIÊN ĐÚNG ĐẮN
Ai chối bỏ hai nguồn hướng dẫn mà Chúa đã ban tặng, thì không còn được Ánh Sáng Đức Tin hướng dẫn nữa, hoạ chăng còn có lý trí loài người vốn đã bị khuất lấp bởi nguyên tội. Khi đó, dù ý thức hay không, người ấy sẽ chỉ còn suy tưởng theo mơ ước, vốn là một yếu điểm của bản tính sa đoạ loài người. Do đó, ta dễ biện minh cho điều ta muốn làm, hoặc không làm điều ta không muốn làm. Chính là do bởi phán đoán của ta đã bị dục vọng làm nghiêng lệch. Càng dính bén của cải vật chất, hoặc thú vui, thân xác ta và bản năng của ta càng che mờ lý trí, càng khiến ta dễ bị mắc lừa.
Đó là lý do tại sao lương tâm ta, vốn chỉ là một phán đoán thực tiễn của trí năng, không phải lúc nào cũng là một hướng dẫn viên đáng tin cậy. Đây chính là cội rể vấn đề của nhiều người trong Giáo Hội ngày nay vin vào để chối bỏ giáo huấn của Giáo Hội. Họ nói: “Tôi đang sống theo tiếng lương tâm, nó cho phép tôi chối bỏ giáo huấn của Giáo Hội (tỉ như về vấn đề ngừa thai), để sống theo công cảm.” Nói như thế chẳng khác nào bảo rằng: “Lương tâm tôi cho phép tôi chối bỏ điều Thánh Thần của Chúa Kitô dậy bảo, để đi theo gợi ý của tinh thần thế gian.”
Về điểm này, ĐGH Gioan Phaolô, trong huấn từ ngày 17 tháng 8 năm 1983, đã nói rằng: “Nếu bảo một người rằng: ‘hãy luôn nghe tiếng lương tâm’ thì thật là chưa đủ. Cần phải thêm ngay rằng: ‘Hãy tự hỏi xem lương tâm bạn đang nói thật hay đang nói láo, và hãy luôn nhớ tìm kiếm sự thật. Không làm thế, ta sẽ liều mình đi tìm trong lương tâm một sức mạnh có khả năng hủy hoại nhân tính, hơn là tìm thấy ở nơi đó một nơi chốn để Thiên Chúa mạc khải điều thiện hảo cho mình.”
Một khi đã chối bỏ sự khôn ngoan của Chúa Kitô ban xuống qua tay Giáo Hội (sự khôn ngoan này bao gồm cả thập giá), thì ta sẽ không thể không chấp nhận sự khôn ngoan của thế gian. Không có con đường thứ ba, không có vị trí trung lập. “Ai không đi với tôi là chống lại tôi” (Mt. 12:30).
Một khi đã chối bỏ giáo huấn Giáo Hội về những điều quan yếu, thật là dễ chối bỏ những giáo huấn căn bản khác của Giáo Hội. Có người tự cho mình là Công Giáo nhưng lại phò phá thai…Họ muốn được gọi là ‘Công Giáo phò-chọn-lựa.’ Hẳn nhiên, những người này sẽ là những kẻ chối bỏ Huấn Quyền bằng cách đi tiên phong trong hàng ngũ những người chối bỏ Humanae Vitae (MSCN). Khi không còn đuợc ánh sáng đức tin soi lối nữa, thì tinh thần thế gian sẽ tràn đến ngay.
Trong dịp kỷ niệm hai mươi năm ban hành luân thư MSCN, ĐGH Gioan Phaolô II đã bình luận như sau: “Không thể bảo rằng người tín hữu đã thực tâm tìm kiếm sự thật nếu người ấy không đếm xỉa gì đến Huấn Quyền, hoặc tự coi mình như quan toà, bằng càch đặt Huấn Quyền ngang hàng với bất kỳ một thứ tri thức nào khác; hoặc nếu rơi vào tình trạng hoài nghi, người ấy sẽ chỉ theo ý riêng của mình hay của một thần học gia nào đó, và coi ý kiến ấy cao hơn cả giáo huấn chân thực của Giáo Hội...
“Gắn liền với vấn đề lương tâm luân lý là vấn đề đòi buộc của quy luật luân lý trong MSCN. Khi tuyên bố rằng hành vi ngừa thai thì tự nội là trái phép, ĐGH Phaolô VI muốn dậy rằng không hề có luật trừ. Không có một tình huống cá nhân hay xã hội nào bao giờ, hôm nay và mai sau, có thể làm cho nó trở thành hợp pháp tự nội. Đây là giáo huấn bất biến của Thánh Truyền và của Huấn Quyền mà không một thần học gia Công giáo nào có thể đặt vấn đề được.”
Nói khác đi, điều ấy không thể thực hiện hợp pháp được; và nếu có xẩy ra ở đâu đó, thì đúng là người mù đang dẫn kẻ đui. “Mù mà lại dắt mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố.” (Mt. 15:14)
VƯỜN ĐIẠ ĐÀNG NGÀY NAY
Thật là hữu ích nếu ta móc nối điều vừa đề cập với điều đã xẩy ra vào buổi hừng đông của nhân loại. Bạn hẳn còn nhớ câu truyện trong sách Sáng Thế khi Ađam và Evà bất tuân lệnh Chúa không được ăn trái cây biết lành biết dữ. “Rắn nói với người đàn bà: Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” (St. 3:5)
Thay vì nhìn nhận uy quyền, tối thượng tính và sự thống lĩnh muôn loài của Thiên Chúa, ông bà đã phản loạn chống lại lệnh truyền của Ngài; và ta đã biết hậu quả như thế nào rồi.
Vì biết rõ bản tính nhân loại, ma qủy ngày nay đang dùng cùng một thứ xảo thuật và chiến lược đã áp dụng với ông bà nguyên tổ. “Cứ chối phắt giáo huấn này đi. Các vị ban hành những thứ lệnh này lạc hậu quá rồi. Bạn rành thế gian hơn các cụ ấy. Các cụ làm gì có những vấn đề như bạn đang gặp. Cứ làm như bạn nghĩ phải là được rồi.”
Đó là đề nghị của Thần Dữ. Sau khi Ađam và Evà phạm tội, vuơng quốc của Satan được hình thành, và ông bà sống dưới quyền thống trị của hắn. Chỉ trừ một mình Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, mọi hậu duệ của Ađam khi bước vào đời đều nằm dưới ách thống trị của Satan, mãi cho tới khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy. Nhưng dù có chịu Bí Tích Thánh Tẩy rồi chăng nữa, Kitô hữu nào ra khỏi tình trạng ân sủng thì lại rơi trở lại dưới quyền thống lĩnh của Satan. Càng chống cưỡng uy quyền Thiên Chúa, người ấy càng rơi sâu hơn nữa vào tầm ảnh hưởng của Satan và tiếp tay cho hắn thao túng.
CÂY BIẾT LÀNH BIẾT DỮ
Biết bao nhiêu đôi vợ chồng ngày hôm nay đã bị ma qủy lôi cuốn vào việc ăn trái cây biết lành biết dữ. Thiên Chúa cho phép nguyên tổ chúng ta sử dụng mọi thứ cây quả trong Vuờn Địa Đàng, chỉ trừ một cây. Điều gì Thiên Chúa đã thực sự cấm đoán? Điều gì Ngài đã thực sự không ban phép cho tổ phụ loài người được làm khi truyền lệnh không được ăn trái cây biết lành biết dữ? Một chú thích trong bản kinh thánh Jerusalem đã giải thích như sau: “Đó chính là quyền tự mình quyết định điều gì lành, điều gì dữ, và hành xử theo đó, một yêu sách muốn hoàn toàn độc lập về luân lý, qua đó con người chối bỏ việc nhìn nhận thân phận thụ tạo của mình. Cái tội đầu tiên này chính là dám tấn công vào quyền tối thượng của Thiên Chúa, cái tội kiêu ngạo.”
Nói về đoạn văn vừa trưng dẫn, trong luân thư về luân lý Kitô giáo “Veritatis Splendor” (Vẻ huy hoàng của Chân lý}, ĐGH Gioan Phaolô II đã viết: “Như thế có nghĩa là việc định đoạt điều lành điều dữ không thuộc quyền con người, nhưng hoàn toàn là quyền của Thiên Chúa mà thôi…Tự do con người không phải là vô hạn. Nó phải dừng lại trước “’cây biết lành biết dữ,’ bởi vì tự do ấy được mời gọi chấp nhận luật luân lý do Thiên Chúa ban” (số 35).
Thế mà hôm nay, biết bao người đang chối bỏ lời Chúa cảnh báo truyền xuống qua tay Giáo Hội, họ đang cắn vào trái cấm! Cũng như Ađam và Evà, biết bao người đang yêu sách cho chính mình một quyền độc lập luân lý, từ khước nhìn nhận giới hạn mà Tạo Hóa đã sắp đặt trên họ. Biết bao nhiêu người, không còn được ánh sáng đức tin soi dẫn, đang chạy theo bản năng ích kỷ, thế mà cứ cho rằng mình hiểu biết nhiều hơn Giáo Hội. Biết bao nhiêu người đang chìm sâu trong tầm ảnh hưởng của Thần Dữ, chạy theo đề nghi của hắn hơn là nghe theo tiếng Chúa Giêsu nói qua Giáo hội của Ngài: “Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy” (Lc. 10:16).
NGƯỜI CÔNG GIÁO PHÒ-LỰA-CHỌN
Những người chối bỏ giáo huấn của Giáo Hội đề ra trong MSCN đều hình thành nhóm “Công Giáo Phò-Lựa-Chọn.” Tôi có quyền chọn lựa chứ! Phải, nhưng cái hạn từ ‘phò-lựa-chọn’ thực ra ám chỉ “phá thai.” Vấn đề đúng là ở chỗ ấy; nó đúng là áp dụng cho phá thai. Hạn từ ấy áp dụng thật đúng cho những ai sử dụng phương tiện ngừa thai, bởi vì rất nhiều hình thức ngừa thai đều mang tính chất phá thai, nghĩa là đều đưa đến phá thai. Janet E. Smith, người đã xuất bản hai cuốn sách bênh vực MSCN, đã giải thích như sau: “Có nhiều chứng cớ cho thấy rằng không phải tất cả mọi viên thuốc ngừa thai đều tác dụng bằng cách làm ngưng trệ tiến trình rụng trứng. Dù có dùng nhiều loại thuốc viên chăng nữa, người phụ nữ vẫn có thể rụng trứng và thụ thai. Nếu phụ nữ thụ thai trong khi dùng thuốc, hầu chắc là sẽ hư thai. Bởi vì chất ngừa thai làm cho thành tử cung chống lại trứng thụ tinh, do đó noãn thụ tinh, tức mầm sống mới, không đậu được và phải chết non. Phương pháp IUD (đặt vòng) hầu như tác động như thế. Do đó, phương pháp IUD và một số thuốc viên khác không chỉ góp phần vào việc phá thai, mà thực ra đã gây ra phá thai; chúng là những phương tiện phá thai. Như vậy, ngừa thai không phải là nguyên nhân chính đưa đến phá thai hay sao?” (“Tại sao MSCN đã nói đúng”, trang 523)
Chỉ một mình Thiên Chúa mới biết được có bao nhiêu nhân mạng được thụ thai và rồi bị loại trừ dưới tay những người sử dụng phương tiện ngừa thai. Cách thức này thật chi li, kín đáo, nhưng đó chính là tiêu diệt những mạng người vô tội. ĐGH Piô XI đã cảnh báo trong luân thư Hôn Nhân Kitô Giáo của ngài rằng: “Ta phải biết rằng Thiên Chúa chính là Thẩm Phán và Đấng Báo Thù cho những dòng máu vô tội đang kêu la từ đất vọng thấu lên đến trời.”
Tuy nhiên, không nói chi đến sự kiện phá thai thường theo sau việc sử dụng phương tiện ngừa thai, chỉ nguyên việc chủ ý sử dụng các phương thức nhân tạo để làm trệch hướng điều Thiên Chúa và thiên nhiên vạch định đạ là điều sai trái tự nội, và sẽ không bao giờ biện minh được, bởi vì đó chính là đòi cho bằng được cái quyền từ chối kế hoạch của Thiên Chúa, và can thiệp vào tiến trình tự nhiên mà Ngài đã thiết lập.