Phần I:Chức Tư tế phổ quát của tín hữu và chức tư tế thừa tác
1. Ngước mắt lên mà xem (Ga 4,35)
1. Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái! (Ga 4,35) Những lời này của Chúa chúng ta minh hoạ rõ ràng chân trời bao la của sứ vụ tình yêu của Ngôi Lời Nhập thể. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ (Ga 3,17). Suốt cuộc đời trần thế của Người, hoàn toàn đồng hoá với thánh ý cứu độ của Chúa Cha, là một sự biểu lộ liên lỉ Thánh ý Thiên Chúa muốn cứu rỗi nhân loại và mọi người đạt đến ơn cứu độ như Chúa Cha mong muốn tự muôn đời. Người đã truyền giao sứ mệnh lịch sử này lại cho Giáo hội và uỷ thác cách đặc biệt cho các thừa tác viên chức thánh. Quả thực, cao cả thay mầu nhiệm mà chúng ta được đặt làm thừa tác viên. Một mầu nhiệm về tình yêu không giới hạn, vì Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1). 1
Các thừa tác viên linh mục của Đức Giê-su Ki-tô, mang ấn tín và ân sủng của Bí tích truyền chức thánh và được chỉ định làm chứng nhân và thừa tác viên về lòng thương xót của Thiên Chúa, tự nguyện đảm nhận phục vụ mọi người trong Giáo hội. Trong bất cứ hoàn cảnh xã hội, văn hoá hay lịch sử nào, cả trong xã hội ngày nay, mang dấu ấn sâu đậm của tinh thần tục hoá và chủ nghĩa tiêu thụ đang xói mòn ý nghĩa ki-tô giáo nơi nhiều tín hữu, các thừa tác viên của Chúa phải luôn luôn nhớ đến điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta (1 Ga 5,4). Thật vậy, xã hội hiện nay tạo cho chúng ta cơ hội để nhớ lại sức mạnh bất khuất của lòng tin và lòng mến đối với Chúa Ki-tô, và nhắc nhớ rằng, dù không thiếu những khó khăn và ngay cả sự thiếu tin tưởng nào đó, các tín hữu ki-tô giáo - cũng như nhiều người chưa tin - vẫn đánh giá cao và cần đến thái độ sẵn sàng phục vụ của các linh mục. Họ muốn tìm thấy nơi linh mục một con người của Thiên Chúa, theo như lời Thánh Âu-tinh: Kiến thức của chúng ta là Đức Ki-tô, sự khôn ngoan của chúng ta cũng là Đức Ki-tô. Người ban cho chúng ta đức tin để nhìn xem các thực tại trần thế và chính Người mạc khải thực tại vĩnh cửu cho chúng ta. 2 Chúng ta sống trong thời đại của một công cuộc phúc âm hoá mới và do đó, chúng ta phải ra đi và tìm gặp những người đang chờ cơ hội được gặp gỡ Đức Ki-tô.
2. Theo những mức độ khác nhau, Đức Ki-tô thông ban tư cách người Mục tử chăn dắt các linh hồn của Người cho các Giám mục và Linh mục, thông qua bí tích Truyền chức thánh, để làm cho các ngài có khả năng hành đông nhân danh Người và đại diện quyền thủ lãnh (potestas capitis) của Người trong Giáo hội. Sự hiệp nhất sâu xa của Dân mới không có nghĩa là không có những trách nhiệm khác biệt và bổ túc cho nhau trong đời sống của Dân mới. Những người có trách nhiệm hành động trong tư cách của Đức ki-tô (in persona Christi) và làm lại điều Đức Giê-su đã thực hiện trong Bữa tiệc ly, khi Người thiết lập Hy lễ Tạ ơn, nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống ki-tô hữu (Lumen Gentium), được liên kết một cách đặc biệt với các tông đồ đầu tiên. Ấn tích làm cho các ngài trổi vượt nhờ việc lãnh nhận thánh chức, bảo đảm cho sự hiện diện và tác vụ của các ngài là duy nhất, không thể thiếu và thay thế được. 3 Sự hiện diện của một thừa tác viên chức thánh là điều kiện tất yếu cho đời sống của Giáo hội, chứ không chỉ nhằm để tổ chức sao cho hiệu quả.
3. Duc in altum! 4 Mọi ki-tô hữu cảm nghiệm ánh sáng đức tin trong tâm hồn và muốn đi trên con đường Đức Giáo hoàng đã vạch ra, đều phải chuyển lời mời gọi truyền giáo khẩn trương và dứt khoát này thành việc làm. Các mục tử trong Giáo hội, nhờ cảm thức siêu nhiên mà có khả năng phân định những đường lối Thiên Chúa muốn hướng dẫn Dân Người, nhất thiết phải thấu hiểu lời mời gọi này và thi hành với lòng nhiệt thành và sẵn sàng. Duc in altum! Chúa mời gọi chúng ta chèo ra chỗ sâu, với một lòng tin tưởng vào Lời Người. Chúng ta hãy học từ kinh nghiệm của Đại Năm thánh và kiên trì trong nhiệm vụ làm chứng cho Tin mừng, với lòng nhiệt thành mà việc chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô làm nẩy sinh trong chúng ta. 5
4. Quả là quan trọng khi nhắc lại Đức Thánh Cha đã hiểu như thế nào về các mục tiêu căn bản mà ngài đã đề ra vào lúc bế mạc Đại Năm thánh 2000 và trao cho các Giáo hội địa phương thực hiện. Khi mời gọi các Giáo hội địa phương đảm nhận trách nhiệm này, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến nhu cầu phải tận dụng ân huệ đã lãnh nhận, bằng cách đem ra thực hành qua các quyết định và đường lối hành động. 6
Ân huệ này liên quan đến sứ mạng phúc âm hoá của Giáo hội, sứ mạng đó đòi hỏi một đời sống thánh thiện về phía người mục tử cũng như giáo dân, một sự nhiệt thành với việc tông đồ phù hợp với bậc sống riêng của mình và thấm nhuần vào các trách nhiệm và bổn phận của họ, và nhận thức rằng ơn cứu rỗi vĩnh cửu của nhiều người tùy thuộc vào việc biểu lộ Đức Ki-tô một cách trung thành qua lời nói cũng như việc làm. Vì thế, từ đó nẩy sinh một nhu cầu cấp bách cần đưa ra một sự thúc đẩy mãnh mẽ hơn cho thừa tác vụ linh mục trong các Giáo hội địa phương, nhất là trong các giáo xứ. Điều đó phải đặt nền tảng trên sự hiểu biết đích thật về thừa tác vụ và đời sống của các linh mục.
Là Linh mục, chúng ta được thánh hiến trong Giáo hội để thi hành thừa tác vụ đặc thù đó. Chúng ta được kêu gọi bằng nhiều cách khác nhau để góp phần đào tạo Dân Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào Thiên Chúa quan phòng đặt để chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa giao phó cho chúng ta, không phải vì miễn cưỡng nhưng hoàn toàn tự nguyện, không lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho chúng ta, nhưng nêu gương sáng cho đoàn chiên (x. 1 Pr 5, 2-3). (). Đó là con đường nên thánh của chúng ta, nhằm dẫn đưa chúng ta tiến vào cuộc gặp gỡ tối hậu với vị Mục tử tối cao là Đấng nắm giữ triều thiên vinh hiển trong tay (1 Pr 5, 4). Đó là sứ mạng của chúng ta trong việc phục vụ Dân Ki-tô giáo. 7
2. Những yếu tố nòng cốt
của thừa tác vụ và đời sống Linh mục 8
a) Căn tính Linh mục
5. Căn tính Linh mục phải được xem xét trong bối cảnh Thánh ý cứu độ của Thiên Chúa, vì đó là hoa trái của tác động có tính bí tích của Chúa Thánh Thần, một sự tham dự vào công trình cứu độ của Chúa Ki-tô, và hoàn toàn nhằm mục đích phục vụ cho công trình đó trong Giáo hội, khi nó diễn ra trong lịch sử. Căn tính Linh mục có ba chiều kích: Thánh khí học, Ki-tô học và Giáo hội học. Cơ cấu thần học nền tảng này của mầu nhiệm Linh mục, là thừa tác viên của ơn cứu độ, không hề bao giờ bị xem nhẹ, nếu linh mục am hiểu đúng đắn ý nghĩa của công tác mục vụ trong những hoàn cảnh cụ thể của giáo xứ.9 Linh mục là đầy tớ của Đức Ki-tô. Nhờ Người, với Người và trong Người, người linh mục trở nên đầy tớ của loài người. Chính con người của vị linh mục, được đồng hoá với Đức Ki-tô về phương diện hữu thể, làm nên nền tảng của hữu thể được truyền chức thánh nhằm phục vụ cộng đoàn. Sự dấn thân trọn vẹn cho Đức Ki-tô, được thực hiện cách thích đáng và được làm chứng qua đời sống đôc thân, đặt người linh mục vào vai trò phục vụ mọi người. Ân huệ phi thường của đời sống độc thân 10 đã tìm được ánh sáng và động lực từ sự đồng hoá với ân huệ hôn ước mà Con Thiên Chúa chịu đóng đinh và sống lại đã ban tặng cho một nhân loại được cứu chuộc và đổi mới.
Chính đời sống và công việc của người linh mục - con người được thánh hiến và thừa tác vụ của ngài - là những thực tại thần học không thể tách rời và có mục tiêu là đẩy mạnh sứ mạng của Giáo hội, 11 tức là đem ơn cứu độ vĩnh cửu cho nhân loại. Lý do hiện hữu của chức linh mục được tìm thấy và khám phá trong mầu nhiệm Giáo hội, là Nhiệm thể Chúa Ki-tô và là Dân Thiên Chúa đang lữ hành trong lịch sử, được thiết lập như bí tích phổ quát của ơn cứu độ. 12 Cộng đoàn Giáo hội nhất thiết cần đến chức tư tế thừa tác, để cho Chúa Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử, hiện diện giữa cộng đoàn. 13
6. Chức tư tế phổ quát hay chức tư tế do bí tích Thanh Tẩy của các ki-tô hữu, một sự tham dự đích xác vào chức tư tế của Chúa Ki-tô, là yếu tính của Dân mới của Thiên Chúa: 14 Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa... (1Pr 2,9); (Người) làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người (Kh 1,6); (Người) cũng làm cho họ thành một vương quốc, thành những tư tế, để phụng thờ Thiên Chúa chúng ta (Kh 5,10), họ sẽ là tư tế của Thiên Chúa và của Đức Kitô, họ sẽ hiển trị với Đức Kitô (Kh 20,6). Những đoạn kinh thánh này gợi lại Biến cố Xuất hành và ứng dụng điều đã được nói về dân Ít-ra-en cũ cho Dân Ít-ra-en mới: Các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta giữa hết mọi dân; vì toàn cõi đất đều là của Ta, và Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh (Xh 19, 5-6). Chúng cũng gợi lại sách Đệ nhị luật: Anh em là một dân thánh hiến cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em; Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người (Dt 7,6).
Trong khi chức tư tế phổ quát là hệ quả của việc dân Ki-tô giáo đã được Thiên Chúa tuyển chọn như chiếc cầu nối liền với nhân loại và liên hệ đến mọi tín hữu đã được tháp nhập vào dân ấy, thì chức tư tế thừa tác là hoa trái của việc được tuyển chọn, hoa trái của một ơn gọi đặc biệt: (Đức Giê-su) kêu các môn đệ lại và chọn lấy mười hai ông (Lc 6, 13-16). Nhờ chức tư tế thừa tác, các tín hữu ý thức đến chức tư tế phổ quát của họ và thể hiện ra trong đời sống (x. Ep 4,11-12); người linh mục kiên trì nhắc nhở cho họ biết họ là Dân Thiên Chúa và chuẩn bị cho họ dâng những lễ tế thiêng liêng (x. 1Pr 2,5), nhờ đó, chính Đức Ki-tô biến chúng ta thành tế phẩm vĩnh cửu dâng lên Chúa Cha (x. 1Pr 3,18). Không có sự hiện diện của Chúa Ki-tô, đại diện bởi linh mục, là người lãnh đạo tinh thần của cộng đoàn, thì không thể là một sự hiệp thông giáo hội trọn vẹn được. 15
Trong dân tư tế này, Chúa đã thiết lập chức tư tế thừa tác mà một số người được kêu gọi để họ có thể phục vụ các tín hữu qua đức ái mục tử nhờ potestas sacra (quyền năng thánh). Chức tư tế phổ quát và chức tư tế thừa tác không chỉ khác nhau trong cấp độ, nhưng cả trong bản chất. 16 Do vậy, sự khác biệt giữa hai chức tư tế không chỉ là tham dự nhiều hay ít hơn vào chức Tư tế của Đức Ki-tô, nhưng là khác biệt về bản chất của cách tham dự vào chức tư tế ấy. Chức tư tế của người tín hữu đặt nền tảng trên ấn tích của bí tích Thánh Tẩy, tức là trên dấu ấn thiêng liêng xác nhận họ được dành riêng cho Đức Ki-tô. Chức tư tế đó cho phép và giao cho các ki-tô hữu nhiệm vụ phụng sự Thiên Chúa, qua việc tham dự một cách sinh đông vào phụng vụ của Giáo hội và thi hành chức tư tế phổ quát bằng chứng tá của đời sống thánh thiện và việc bác ái thiết thực. 17
Mặt khác, chức tư tế thừa tác đặt nền tảng trên ấn tích của Bí tích Truyền chức thánh, là bí tích làm cho người linh mục nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, để có thể hành động trong tư cách của Đức Ki-tô, Thủ lãnh, và thi hành potestas sacra qua việc dâng Hi Lễ và ban ơn tha tội. 18 Một sứ mạng mới và đặc biệt được thông ban qua bí tích cho những người chịu phép rửa đã lãnh nhận ân sủng của chức tư tế thừa tác: đó là biểu hiện ba chức vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả của Đức Ki-tô, trong tư cách là Thủ lãnh và Mục tử của Hội Thánh 19 giữa đoàn dân Thiên Chúa. Trong khi thi hành những chức vụ đặc biệt này, các linh mục hành động in persona Christi Capitis (trong tư cách của Chúa Ki-tô là Đầu) và vì thế, cùng một cách thức ấy, họ hành động nhân danh Giáo hội. 20
7. Vì thế, chức tư tế do bí tích vừa có tính chất phẩm trật vừa có tính chất thừa tác. Đó là một thừa tác vụ (ministerium) đặc biệt, một việc phục vụ đối với cộng đoàn tín hữu. Tuy nhiên, chức tư tế ấy không bắt nguồn từ cộng đoàn, cũng không phát sinh do yêu cầu hay sự uỷ thác của cộng đoàn. Đúng hơn, thừa tác vụ ấy là một ân ban cho cộng đoàn, phát xuất từ chính Đức Ki-tô và chức tư tế sung mãn của Người (...) Nhận thức điều đó, chúng ta hiểu chức tư tế của chúng ta có tính chất phẩm trật như thế nào, nghĩa là nó nối kết với quyền đào tạo và quản trị một dân tộc tư tế như thế nào (x. Lumen Gentium, số 10), và chính vì thế, mà chức tư tế cũng có tính chất thừa tác như thế nào. Chúng ta thi hành một chức vụ, qua đó Đức Ki-tô không ngừng phụng sự Chúa Cha qua công trình cứu độ chúng ta. Toàn thể cuộc đời linh mục của chúng ta là và phải là một cuộc đời được thấm nhiễm bởi sự phục vụ ấy, nếu chúng ta muốn tiến dâng Lễ tế Tạ ơn một cách xứng hợp in persona Christi. 21
Trong thời gian qua, Giáo hội đã gặp phải những vấn đề về căn tính Linh mục, đôi khi nảy sinh từ sự hiểu biết không rõ ràng về hai cách tham dự vào chức tư tế của Đức Ki-tô trên bình diện thần học. Trong một vài lãnh vực, những khó khăn này đã đi đến mức phá hủy sự cân bằng sâu xa của Giáo hội, vốn là tính chất đặc thù của Huấn quyền ngàn đời và đích thực.
Tuy nhiên, ngày nay, các hoàn cảnh đã đổi thay, nên có thể vượt qua mối nguy giáo sĩ hoá giáo dân và tục hoá hàng giáo sĩ.
Sư dấn thân quảng đại của hàng giáo dân trong lãnh vực phụng tự, truyền bá đức tin và cộng tác mục vụ, trước tình trạng thiếu hụt linh mục, đã khiến một số thừa tác viên có chức thánh và giáo dân vượt quá giới hạn cho phép bởi Giáo hội và bởi khả năng do hữu thể và bí tích của riêng mình. Điều này đưa đến việc xem nhẹ về phương diện lý thuyết và thực hành sứ mạng riêng của người giáo dân là thánh hoá các cơ cấu xã hội từ bên trong.
Chính khủng hoảng về căn tính này cũng đã gây ra sự tục hoá nơi một vài thừa tác viên thánh chức, khi làm lu mờ vai trò riêng biệt và hoàn toàn không thể thiếu của họ trong sự hiệp thông giáo hội.
8. Trong Giáo hội, người linh mục, alter Christus, là thừa tác viên của những hành đông thiết yếu đem lại ơn cứu độ. 23 Hành động trong tư cách của Đức Ki-tô là Đầu, linh mục là nguồn mạch sự sống và sức sống trong Giáo hội, và trong giáo xứ của mình, nhờ quyền tế lễ làm nên Mình và Máu thánh Đấng Cứu thế, nhờ quyền công bố Tin mừng và quyền xua đuổi sự ác của tội lỗi qua bí tích Giải tội. Bản thân người linh mục không phải là nguồn mạch sự sống thiêng liêng. Đúng hơn, sự sống ấy bắt nguồn từ Đấng ban phát sự sống thiêng liêng cho toàn Dân Thiên Chúa. Người linh mục, được Thánh thần xức dầu, là người tôi tớ đi vào cung thánh mang tính bí tích (santuario sacramentale): đó là Đức Giê-su Ki-tô Chịu đóng đinh (x. Ga 19, 31-37) và phục Sinh, từ đó xuất phát ơn cứu độ.
Với Đức Ma-ri-a, Mẹ của Linh mục Thượng phẩm Vĩnh cửu, người linh mục ý thức rằng, với Mẹ, người linh mục là một khí cụ hiệp nhất cứu độ giữa Thiên Chúa và con người, mặc dù theo những cách thức khác nhau: với Đức Trinh nữ thì thông qua mầu nhiệm Nhập thể, còn với người linh mục thì thông qua Bí tích Truyền chức thánh. 24 Mối tương quan giữa linh mục và Đức Trinh nữ Ma-ri-a không chỉ dựa trên nhu cầu bảo trợ và nâng đỡ, nhưng còn hơn thế nữa dựa trên nhận thức về một sự kiện khách quan: sự hiện diện của Mẹ chúng ta, một sự hiện diện có tác dụng làm cho Giáo hội sống mầu nhiệm Đức Ki-tô. 25
9. Trong tư cách của một người tham gia vào hành động lãnh đạo của Đức Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử của Nhiệm thể, 26 người linh mục, trên bình diện mục vụ, đặc biệt có vai trò làm người của hiệp thông 27, quản trị và phục vụ mọi người. Người linh mục có trách nhiệm cổ võ và duy trì mối hiệp nhất giữa các chi thể với Đầu, và giữa các chi thể với nhau. Do ơn gọi, người linh mục liên kết và phục vụ hai chiều kích ấy của chức mục tử của Đức Ki-tô (x. Mt 20,28; Mc 10, 45; Lc 22, 27). Để phát triển, đời sống Giáo hội cần phải có những sinh lực mà chỉ nhờ thừa tác vụ hiệp thông, quản trị và phục vụ mới có thể cung cấp. Điều đó đòi buộc các linh mục, là những người đồng hoá hoàn toàn với Đức Ki-tô, Đấng ban phát ơn gọi, phải hoàn toàn thuộc về Người. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người, trong và với Đức Ki-tô, sống những nhân đức được thể hiện nơi Đức Ki-tô Mục tử, và tìm ánh sáng, đồng hoá với hiến lễ hôn ước mà Con Thiên Chúa chịu đóng dinh và sống lại dành cho nhân loại được cứu chuộc và đổi mới. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người mong muốn trở nên nguồn mạch sự hiệp nhất và tự hiến cho mọi người trong tình huynh đệ - nhất là cho những người thiếu thốn. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người, một khi ý thức rằng căn tính linh mục của họ bắt nguồn từ Vị Mục tử Tốt lành, 29 mang lấy hình ảnh đó trong nội tâm và biểu lộ hình ảnh ấy ra bên ngoài bằng một cung cách mà mọi người dễ dàng nhìn thấy. 30
Người linh mục làm cho Đức Ki-tô, Thủ lãnh của Giáo hội, hiện diện qua thừa tác vụ của Lời, tức là chia sẻ chức vụ ngôn sứ của Người. 31 Trong tư cách và nhân danh Đức Ki-tô, người linh mục là thừa tác viên của lời có tác dụng phúc âm hoá, tức là lời mời gọi mọi người hoán cải và nên thánh. Người linh mục là thừa tác viên của lời tôn thờ, tức là lời chúc tụng sự cao cả của Thiên Chúa và cảm tạ lòng thương xót của Người. Người Linh mục là thừa tác vụ của lời của các bí tích, vốn là nguồn mạch đầy hiệu năng của ân sủng. Bằng những cách thức khác nhau ấy, người linh mục, với quyền năng Thánh thần, kéo dài giáo huấn của Đức Ki-tô trong Giáo hội của Người.
1. Ngước mắt lên mà xem (Ga 4,35)
1. Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái! (Ga 4,35) Những lời này của Chúa chúng ta minh hoạ rõ ràng chân trời bao la của sứ vụ tình yêu của Ngôi Lời Nhập thể. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ (Ga 3,17). Suốt cuộc đời trần thế của Người, hoàn toàn đồng hoá với thánh ý cứu độ của Chúa Cha, là một sự biểu lộ liên lỉ Thánh ý Thiên Chúa muốn cứu rỗi nhân loại và mọi người đạt đến ơn cứu độ như Chúa Cha mong muốn tự muôn đời. Người đã truyền giao sứ mệnh lịch sử này lại cho Giáo hội và uỷ thác cách đặc biệt cho các thừa tác viên chức thánh. Quả thực, cao cả thay mầu nhiệm mà chúng ta được đặt làm thừa tác viên. Một mầu nhiệm về tình yêu không giới hạn, vì Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1). 1
Các thừa tác viên linh mục của Đức Giê-su Ki-tô, mang ấn tín và ân sủng của Bí tích truyền chức thánh và được chỉ định làm chứng nhân và thừa tác viên về lòng thương xót của Thiên Chúa, tự nguyện đảm nhận phục vụ mọi người trong Giáo hội. Trong bất cứ hoàn cảnh xã hội, văn hoá hay lịch sử nào, cả trong xã hội ngày nay, mang dấu ấn sâu đậm của tinh thần tục hoá và chủ nghĩa tiêu thụ đang xói mòn ý nghĩa ki-tô giáo nơi nhiều tín hữu, các thừa tác viên của Chúa phải luôn luôn nhớ đến điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta (1 Ga 5,4). Thật vậy, xã hội hiện nay tạo cho chúng ta cơ hội để nhớ lại sức mạnh bất khuất của lòng tin và lòng mến đối với Chúa Ki-tô, và nhắc nhớ rằng, dù không thiếu những khó khăn và ngay cả sự thiếu tin tưởng nào đó, các tín hữu ki-tô giáo - cũng như nhiều người chưa tin - vẫn đánh giá cao và cần đến thái độ sẵn sàng phục vụ của các linh mục. Họ muốn tìm thấy nơi linh mục một con người của Thiên Chúa, theo như lời Thánh Âu-tinh: Kiến thức của chúng ta là Đức Ki-tô, sự khôn ngoan của chúng ta cũng là Đức Ki-tô. Người ban cho chúng ta đức tin để nhìn xem các thực tại trần thế và chính Người mạc khải thực tại vĩnh cửu cho chúng ta. 2 Chúng ta sống trong thời đại của một công cuộc phúc âm hoá mới và do đó, chúng ta phải ra đi và tìm gặp những người đang chờ cơ hội được gặp gỡ Đức Ki-tô.
2. Theo những mức độ khác nhau, Đức Ki-tô thông ban tư cách người Mục tử chăn dắt các linh hồn của Người cho các Giám mục và Linh mục, thông qua bí tích Truyền chức thánh, để làm cho các ngài có khả năng hành đông nhân danh Người và đại diện quyền thủ lãnh (potestas capitis) của Người trong Giáo hội. Sự hiệp nhất sâu xa của Dân mới không có nghĩa là không có những trách nhiệm khác biệt và bổ túc cho nhau trong đời sống của Dân mới. Những người có trách nhiệm hành động trong tư cách của Đức ki-tô (in persona Christi) và làm lại điều Đức Giê-su đã thực hiện trong Bữa tiệc ly, khi Người thiết lập Hy lễ Tạ ơn, nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống ki-tô hữu (Lumen Gentium), được liên kết một cách đặc biệt với các tông đồ đầu tiên. Ấn tích làm cho các ngài trổi vượt nhờ việc lãnh nhận thánh chức, bảo đảm cho sự hiện diện và tác vụ của các ngài là duy nhất, không thể thiếu và thay thế được. 3 Sự hiện diện của một thừa tác viên chức thánh là điều kiện tất yếu cho đời sống của Giáo hội, chứ không chỉ nhằm để tổ chức sao cho hiệu quả.
3. Duc in altum! 4 Mọi ki-tô hữu cảm nghiệm ánh sáng đức tin trong tâm hồn và muốn đi trên con đường Đức Giáo hoàng đã vạch ra, đều phải chuyển lời mời gọi truyền giáo khẩn trương và dứt khoát này thành việc làm. Các mục tử trong Giáo hội, nhờ cảm thức siêu nhiên mà có khả năng phân định những đường lối Thiên Chúa muốn hướng dẫn Dân Người, nhất thiết phải thấu hiểu lời mời gọi này và thi hành với lòng nhiệt thành và sẵn sàng. Duc in altum! Chúa mời gọi chúng ta chèo ra chỗ sâu, với một lòng tin tưởng vào Lời Người. Chúng ta hãy học từ kinh nghiệm của Đại Năm thánh và kiên trì trong nhiệm vụ làm chứng cho Tin mừng, với lòng nhiệt thành mà việc chiêm ngưỡng dung nhan Đức Ki-tô làm nẩy sinh trong chúng ta. 5
4. Quả là quan trọng khi nhắc lại Đức Thánh Cha đã hiểu như thế nào về các mục tiêu căn bản mà ngài đã đề ra vào lúc bế mạc Đại Năm thánh 2000 và trao cho các Giáo hội địa phương thực hiện. Khi mời gọi các Giáo hội địa phương đảm nhận trách nhiệm này, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến nhu cầu phải tận dụng ân huệ đã lãnh nhận, bằng cách đem ra thực hành qua các quyết định và đường lối hành động. 6
Ân huệ này liên quan đến sứ mạng phúc âm hoá của Giáo hội, sứ mạng đó đòi hỏi một đời sống thánh thiện về phía người mục tử cũng như giáo dân, một sự nhiệt thành với việc tông đồ phù hợp với bậc sống riêng của mình và thấm nhuần vào các trách nhiệm và bổn phận của họ, và nhận thức rằng ơn cứu rỗi vĩnh cửu của nhiều người tùy thuộc vào việc biểu lộ Đức Ki-tô một cách trung thành qua lời nói cũng như việc làm. Vì thế, từ đó nẩy sinh một nhu cầu cấp bách cần đưa ra một sự thúc đẩy mãnh mẽ hơn cho thừa tác vụ linh mục trong các Giáo hội địa phương, nhất là trong các giáo xứ. Điều đó phải đặt nền tảng trên sự hiểu biết đích thật về thừa tác vụ và đời sống của các linh mục.
Là Linh mục, chúng ta được thánh hiến trong Giáo hội để thi hành thừa tác vụ đặc thù đó. Chúng ta được kêu gọi bằng nhiều cách khác nhau để góp phần đào tạo Dân Thiên Chúa ở bất cứ nơi nào Thiên Chúa quan phòng đặt để chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa giao phó cho chúng ta, không phải vì miễn cưỡng nhưng hoàn toàn tự nguyện, không lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho chúng ta, nhưng nêu gương sáng cho đoàn chiên (x. 1 Pr 5, 2-3). (). Đó là con đường nên thánh của chúng ta, nhằm dẫn đưa chúng ta tiến vào cuộc gặp gỡ tối hậu với vị Mục tử tối cao là Đấng nắm giữ triều thiên vinh hiển trong tay (1 Pr 5, 4). Đó là sứ mạng của chúng ta trong việc phục vụ Dân Ki-tô giáo. 7
2. Những yếu tố nòng cốt
của thừa tác vụ và đời sống Linh mục 8
a) Căn tính Linh mục
5. Căn tính Linh mục phải được xem xét trong bối cảnh Thánh ý cứu độ của Thiên Chúa, vì đó là hoa trái của tác động có tính bí tích của Chúa Thánh Thần, một sự tham dự vào công trình cứu độ của Chúa Ki-tô, và hoàn toàn nhằm mục đích phục vụ cho công trình đó trong Giáo hội, khi nó diễn ra trong lịch sử. Căn tính Linh mục có ba chiều kích: Thánh khí học, Ki-tô học và Giáo hội học. Cơ cấu thần học nền tảng này của mầu nhiệm Linh mục, là thừa tác viên của ơn cứu độ, không hề bao giờ bị xem nhẹ, nếu linh mục am hiểu đúng đắn ý nghĩa của công tác mục vụ trong những hoàn cảnh cụ thể của giáo xứ.9 Linh mục là đầy tớ của Đức Ki-tô. Nhờ Người, với Người và trong Người, người linh mục trở nên đầy tớ của loài người. Chính con người của vị linh mục, được đồng hoá với Đức Ki-tô về phương diện hữu thể, làm nên nền tảng của hữu thể được truyền chức thánh nhằm phục vụ cộng đoàn. Sự dấn thân trọn vẹn cho Đức Ki-tô, được thực hiện cách thích đáng và được làm chứng qua đời sống đôc thân, đặt người linh mục vào vai trò phục vụ mọi người. Ân huệ phi thường của đời sống độc thân 10 đã tìm được ánh sáng và động lực từ sự đồng hoá với ân huệ hôn ước mà Con Thiên Chúa chịu đóng đinh và sống lại đã ban tặng cho một nhân loại được cứu chuộc và đổi mới.
Chính đời sống và công việc của người linh mục - con người được thánh hiến và thừa tác vụ của ngài - là những thực tại thần học không thể tách rời và có mục tiêu là đẩy mạnh sứ mạng của Giáo hội, 11 tức là đem ơn cứu độ vĩnh cửu cho nhân loại. Lý do hiện hữu của chức linh mục được tìm thấy và khám phá trong mầu nhiệm Giáo hội, là Nhiệm thể Chúa Ki-tô và là Dân Thiên Chúa đang lữ hành trong lịch sử, được thiết lập như bí tích phổ quát của ơn cứu độ. 12 Cộng đoàn Giáo hội nhất thiết cần đến chức tư tế thừa tác, để cho Chúa Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử, hiện diện giữa cộng đoàn. 13
6. Chức tư tế phổ quát hay chức tư tế do bí tích Thanh Tẩy của các ki-tô hữu, một sự tham dự đích xác vào chức tư tế của Chúa Ki-tô, là yếu tính của Dân mới của Thiên Chúa: 14 Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa... (1Pr 2,9); (Người) làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người (Kh 1,6); (Người) cũng làm cho họ thành một vương quốc, thành những tư tế, để phụng thờ Thiên Chúa chúng ta (Kh 5,10), họ sẽ là tư tế của Thiên Chúa và của Đức Kitô, họ sẽ hiển trị với Đức Kitô (Kh 20,6). Những đoạn kinh thánh này gợi lại Biến cố Xuất hành và ứng dụng điều đã được nói về dân Ít-ra-en cũ cho Dân Ít-ra-en mới: Các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta giữa hết mọi dân; vì toàn cõi đất đều là của Ta, và Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh (Xh 19, 5-6). Chúng cũng gợi lại sách Đệ nhị luật: Anh em là một dân thánh hiến cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em; Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người (Dt 7,6).
Trong khi chức tư tế phổ quát là hệ quả của việc dân Ki-tô giáo đã được Thiên Chúa tuyển chọn như chiếc cầu nối liền với nhân loại và liên hệ đến mọi tín hữu đã được tháp nhập vào dân ấy, thì chức tư tế thừa tác là hoa trái của việc được tuyển chọn, hoa trái của một ơn gọi đặc biệt: (Đức Giê-su) kêu các môn đệ lại và chọn lấy mười hai ông (Lc 6, 13-16). Nhờ chức tư tế thừa tác, các tín hữu ý thức đến chức tư tế phổ quát của họ và thể hiện ra trong đời sống (x. Ep 4,11-12); người linh mục kiên trì nhắc nhở cho họ biết họ là Dân Thiên Chúa và chuẩn bị cho họ dâng những lễ tế thiêng liêng (x. 1Pr 2,5), nhờ đó, chính Đức Ki-tô biến chúng ta thành tế phẩm vĩnh cửu dâng lên Chúa Cha (x. 1Pr 3,18). Không có sự hiện diện của Chúa Ki-tô, đại diện bởi linh mục, là người lãnh đạo tinh thần của cộng đoàn, thì không thể là một sự hiệp thông giáo hội trọn vẹn được. 15
Trong dân tư tế này, Chúa đã thiết lập chức tư tế thừa tác mà một số người được kêu gọi để họ có thể phục vụ các tín hữu qua đức ái mục tử nhờ potestas sacra (quyền năng thánh). Chức tư tế phổ quát và chức tư tế thừa tác không chỉ khác nhau trong cấp độ, nhưng cả trong bản chất. 16 Do vậy, sự khác biệt giữa hai chức tư tế không chỉ là tham dự nhiều hay ít hơn vào chức Tư tế của Đức Ki-tô, nhưng là khác biệt về bản chất của cách tham dự vào chức tư tế ấy. Chức tư tế của người tín hữu đặt nền tảng trên ấn tích của bí tích Thánh Tẩy, tức là trên dấu ấn thiêng liêng xác nhận họ được dành riêng cho Đức Ki-tô. Chức tư tế đó cho phép và giao cho các ki-tô hữu nhiệm vụ phụng sự Thiên Chúa, qua việc tham dự một cách sinh đông vào phụng vụ của Giáo hội và thi hành chức tư tế phổ quát bằng chứng tá của đời sống thánh thiện và việc bác ái thiết thực. 17
Mặt khác, chức tư tế thừa tác đặt nền tảng trên ấn tích của Bí tích Truyền chức thánh, là bí tích làm cho người linh mục nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, để có thể hành động trong tư cách của Đức Ki-tô, Thủ lãnh, và thi hành potestas sacra qua việc dâng Hi Lễ và ban ơn tha tội. 18 Một sứ mạng mới và đặc biệt được thông ban qua bí tích cho những người chịu phép rửa đã lãnh nhận ân sủng của chức tư tế thừa tác: đó là biểu hiện ba chức vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả của Đức Ki-tô, trong tư cách là Thủ lãnh và Mục tử của Hội Thánh 19 giữa đoàn dân Thiên Chúa. Trong khi thi hành những chức vụ đặc biệt này, các linh mục hành động in persona Christi Capitis (trong tư cách của Chúa Ki-tô là Đầu) và vì thế, cùng một cách thức ấy, họ hành động nhân danh Giáo hội. 20
7. Vì thế, chức tư tế do bí tích vừa có tính chất phẩm trật vừa có tính chất thừa tác. Đó là một thừa tác vụ (ministerium) đặc biệt, một việc phục vụ đối với cộng đoàn tín hữu. Tuy nhiên, chức tư tế ấy không bắt nguồn từ cộng đoàn, cũng không phát sinh do yêu cầu hay sự uỷ thác của cộng đoàn. Đúng hơn, thừa tác vụ ấy là một ân ban cho cộng đoàn, phát xuất từ chính Đức Ki-tô và chức tư tế sung mãn của Người (...) Nhận thức điều đó, chúng ta hiểu chức tư tế của chúng ta có tính chất phẩm trật như thế nào, nghĩa là nó nối kết với quyền đào tạo và quản trị một dân tộc tư tế như thế nào (x. Lumen Gentium, số 10), và chính vì thế, mà chức tư tế cũng có tính chất thừa tác như thế nào. Chúng ta thi hành một chức vụ, qua đó Đức Ki-tô không ngừng phụng sự Chúa Cha qua công trình cứu độ chúng ta. Toàn thể cuộc đời linh mục của chúng ta là và phải là một cuộc đời được thấm nhiễm bởi sự phục vụ ấy, nếu chúng ta muốn tiến dâng Lễ tế Tạ ơn một cách xứng hợp in persona Christi. 21
Trong thời gian qua, Giáo hội đã gặp phải những vấn đề về căn tính Linh mục, đôi khi nảy sinh từ sự hiểu biết không rõ ràng về hai cách tham dự vào chức tư tế của Đức Ki-tô trên bình diện thần học. Trong một vài lãnh vực, những khó khăn này đã đi đến mức phá hủy sự cân bằng sâu xa của Giáo hội, vốn là tính chất đặc thù của Huấn quyền ngàn đời và đích thực.
Tuy nhiên, ngày nay, các hoàn cảnh đã đổi thay, nên có thể vượt qua mối nguy giáo sĩ hoá giáo dân và tục hoá hàng giáo sĩ.
Sư dấn thân quảng đại của hàng giáo dân trong lãnh vực phụng tự, truyền bá đức tin và cộng tác mục vụ, trước tình trạng thiếu hụt linh mục, đã khiến một số thừa tác viên có chức thánh và giáo dân vượt quá giới hạn cho phép bởi Giáo hội và bởi khả năng do hữu thể và bí tích của riêng mình. Điều này đưa đến việc xem nhẹ về phương diện lý thuyết và thực hành sứ mạng riêng của người giáo dân là thánh hoá các cơ cấu xã hội từ bên trong.
Chính khủng hoảng về căn tính này cũng đã gây ra sự tục hoá nơi một vài thừa tác viên thánh chức, khi làm lu mờ vai trò riêng biệt và hoàn toàn không thể thiếu của họ trong sự hiệp thông giáo hội.
8. Trong Giáo hội, người linh mục, alter Christus, là thừa tác viên của những hành đông thiết yếu đem lại ơn cứu độ. 23 Hành động trong tư cách của Đức Ki-tô là Đầu, linh mục là nguồn mạch sự sống và sức sống trong Giáo hội, và trong giáo xứ của mình, nhờ quyền tế lễ làm nên Mình và Máu thánh Đấng Cứu thế, nhờ quyền công bố Tin mừng và quyền xua đuổi sự ác của tội lỗi qua bí tích Giải tội. Bản thân người linh mục không phải là nguồn mạch sự sống thiêng liêng. Đúng hơn, sự sống ấy bắt nguồn từ Đấng ban phát sự sống thiêng liêng cho toàn Dân Thiên Chúa. Người linh mục, được Thánh thần xức dầu, là người tôi tớ đi vào cung thánh mang tính bí tích (santuario sacramentale): đó là Đức Giê-su Ki-tô Chịu đóng đinh (x. Ga 19, 31-37) và phục Sinh, từ đó xuất phát ơn cứu độ.
Với Đức Ma-ri-a, Mẹ của Linh mục Thượng phẩm Vĩnh cửu, người linh mục ý thức rằng, với Mẹ, người linh mục là một khí cụ hiệp nhất cứu độ giữa Thiên Chúa và con người, mặc dù theo những cách thức khác nhau: với Đức Trinh nữ thì thông qua mầu nhiệm Nhập thể, còn với người linh mục thì thông qua Bí tích Truyền chức thánh. 24 Mối tương quan giữa linh mục và Đức Trinh nữ Ma-ri-a không chỉ dựa trên nhu cầu bảo trợ và nâng đỡ, nhưng còn hơn thế nữa dựa trên nhận thức về một sự kiện khách quan: sự hiện diện của Mẹ chúng ta, một sự hiện diện có tác dụng làm cho Giáo hội sống mầu nhiệm Đức Ki-tô. 25
9. Trong tư cách của một người tham gia vào hành động lãnh đạo của Đức Ki-tô, Thủ lãnh và Mục tử của Nhiệm thể, 26 người linh mục, trên bình diện mục vụ, đặc biệt có vai trò làm người của hiệp thông 27, quản trị và phục vụ mọi người. Người linh mục có trách nhiệm cổ võ và duy trì mối hiệp nhất giữa các chi thể với Đầu, và giữa các chi thể với nhau. Do ơn gọi, người linh mục liên kết và phục vụ hai chiều kích ấy của chức mục tử của Đức Ki-tô (x. Mt 20,28; Mc 10, 45; Lc 22, 27). Để phát triển, đời sống Giáo hội cần phải có những sinh lực mà chỉ nhờ thừa tác vụ hiệp thông, quản trị và phục vụ mới có thể cung cấp. Điều đó đòi buộc các linh mục, là những người đồng hoá hoàn toàn với Đức Ki-tô, Đấng ban phát ơn gọi, phải hoàn toàn thuộc về Người. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người, trong và với Đức Ki-tô, sống những nhân đức được thể hiện nơi Đức Ki-tô Mục tử, và tìm ánh sáng, đồng hoá với hiến lễ hôn ước mà Con Thiên Chúa chịu đóng dinh và sống lại dành cho nhân loại được cứu chuộc và đổi mới. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người mong muốn trở nên nguồn mạch sự hiệp nhất và tự hiến cho mọi người trong tình huynh đệ - nhất là cho những người thiếu thốn. Điều đó đòi buộc các linh mục phải là những người, một khi ý thức rằng căn tính linh mục của họ bắt nguồn từ Vị Mục tử Tốt lành, 29 mang lấy hình ảnh đó trong nội tâm và biểu lộ hình ảnh ấy ra bên ngoài bằng một cung cách mà mọi người dễ dàng nhìn thấy. 30
Người linh mục làm cho Đức Ki-tô, Thủ lãnh của Giáo hội, hiện diện qua thừa tác vụ của Lời, tức là chia sẻ chức vụ ngôn sứ của Người. 31 Trong tư cách và nhân danh Đức Ki-tô, người linh mục là thừa tác viên của lời có tác dụng phúc âm hoá, tức là lời mời gọi mọi người hoán cải và nên thánh. Người linh mục là thừa tác viên của lời tôn thờ, tức là lời chúc tụng sự cao cả của Thiên Chúa và cảm tạ lòng thương xót của Người. Người Linh mục là thừa tác vụ của lời của các bí tích, vốn là nguồn mạch đầy hiệu năng của ân sủng. Bằng những cách thức khác nhau ấy, người linh mục, với quyền năng Thánh thần, kéo dài giáo huấn của Đức Ki-tô trong Giáo hội của Người.