Phần III: Các Thánh và Phép Thánh Thể (The Saints and The Eucharist) do Học Viện Thánh Clêmentê I, vị Thánh Giáo Hoàng Tử Đạo biên soạn.

Thánh Tôma - Thần Học Gia Vĩ Đại của Giáo Hội - Hình Trang 87
3. Thánh Tôma Aquinas (1225-1274):

Thánh Tôma Aquinas là nhà thần học vĩ đại nhất của Giáo Hội Công Giáo. Ngài rất sùng kính Phép Thánh Thể. Vào thời của Ngài, tức vào những năm của thập niên 1200, các linh mục thường không cử hành Thánh Lễ mỗi ngày. Tuy nhiên, Thánh Tôma, chỉ trừ trường hợp Ngài bị bệnh nặng, còn những lần khác, Ngài vẫn thường cử hành Thánh Lễ mỗi ngày, và như là một chử chỉ biết ơn, Ngài cũng đi tham dự Thánh Lễ được cử hành bởi một trong các anh em thuộc Dòng của Ngài.

Người ta vẫn thường hay kể lại rằng, Ngài vẫn thường hay rơi lệ cứ mỗi lần Ngài cử hành Thánh Lễ, và có lúc Ngài không thể tiếp tục cử hành Thánh Lễ được nữa. Vào một hôm nọ, trong lúc đang cử hành Thánh Lễ, Ngài đã quá mãi mê cầu nguyện và nghĩ suy về Thiên Chúa, đến nổi một số người hiện diện tiến lên lay Ngài hòng lôi kéo Ngài thoát khỏi sự thôi miên để Ngài có thể hoàn tất Thánh Lễ. Sau Thánh Lễ, họ hỏi Ngài đã cảm tưởng như thế nào trong những giờ phút cầu nguyện liên lũy, không ngừng như vậy, thì câu trả lời duy nhất mà Ngài trao cho họ chính là: “Cha không thể nói về điều đó được.”

Chúng ta thừa biết rằng càng cầu nguyện nhiều với Đấng Cao Siêu bao nhiêu, thì càng rất khó mà có thể diễn tả thành lời. Có một bài thánh vịnh trong phụng vụ do Thánh Nữ Bernard soạn ra nói về hiện tượng này như sau: “Lưỡi con không thể thành lời, tay con không thể viết; chỉ có mỗi mình Ngài, Ngài mới thấu hiểu lòng con, Ngài mới biết rằng đó là cách mà con yêu mến Ngài, hỡi Chúa Giêsu của con!”

Phép Thánh Thể có tầm quan trọng rất lớn trong đời sống và suy nghĩ của Thánh Tôma, mà chúng ta có thể biết được qua câu chuyện về lần Rước Lễ cuối cùng của Ngài.

Vào dịp đó, vị Thánh mới phát ngôn ra những từ ngữ rất xúc động như sau, những từ ngữ diễn tả một sự cố gắng nội tâm và lòng say mê của Ngài với tư cách là một nhà thần học, cũng như một người kiếm tìm chân lý: “Con đón nhận Ngài, Người đã trả giá để cứu chuộc con, đã ban cho con của ăn (viaticum) trong suốt cuộc hành trình của con, vì tình yêu vào Ngài mà con đã chay tịnh, cầu nguyện, giảng dạy và lao động. Con chưa bao giờ nói ra một lời phản nghịch Ngài; hoặc nếu có, thì đó chính là vì sự ngu muội của con, vì con đã không biết kiên trì, bền bỉ trong sự ngu muội đó. Nhưng nếu con tỏ bày thái độ bất kính của con về phép bí tích này, bằng cách này hay cách khác, thì con xin Giáo Hội Công Giáo hãy sửa sai cho những gì con làm, và trong sự vâng phục con xin giã từ cỏi đời tạm bợ này.”

Chúng ta thừa biết rằng Thánh Tôma đã dạy cho chúng ta về tất cả mọi khía cạnh của phép bí tích này một cách hết sức phi thường, vì lẽ Giáo Hội Công Giáo trên danh nghĩa, đã lấy toàn hộ học thuyết về Phép Thánh Thể của chính Ngài, làm học thuyết chính của Giáo Hội. Rất nhiều Công Đồng Chung đã sử dụng những ngôn từ của Ngài để diễn tả về học thuyết Công Giáo và bảo vệ học thuyết này khỏi những sai lầm của dị giáo.

Thánh Tôma cũng còn được biết đến vì đã viết ra rất nhiều các lời kinh phụng vụ trong Thánh Lễ, đặc biệt là Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô.

Nổi tiếng nhất vẫn là lời cầu nguyện mà Ngài đã viết để bày tỏ lòng biết ơn sau khi Rước Lễ là:

Ôi lạy Chúa Giêsu ngọt ngào, nhân ái, nguyện cho Mình và Máu Thánh Chúa làm dịu ngọt và là ánh sáng chiếu soi cho linh hồn, cho ơn cứu rỗi và cho sự nên thánh để chống lại mọi cám dỗ của ma quỷ, để mang lại niềm vui và sự yên bình trong những cơn nguy biến, hãy thắp sáng và ban sức mạnh qua từng lời nói và hành động của con, và hãy bảo chắc rằng Ngài sẽ đến giúp con trong giờ lâm tử. Amen.”

4. Thánh Nữ Catherine thành Siena (1347-1380):

Là một thiếu nữ trẻ, Thánh Catherine gia nhập Dòng Đa Minh, và đã trở thành một trong những nhân vật lỗi lạc nhất trong thời đại của vị Nữ Thánh.

Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII đã tuyên xưng Ngài là vị Thánh Đồng Bổn Mạng của Ý Quốc (cùng với Thánh Phanxicô thành Assisi); Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục tuyên xưng Ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh (Doctor of the Church); và Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị tuyên bố Ngài là vị Thánh Đồng Bổn Mạng của Châu Âu.

Rất nhiều đoạn có liên quan đến Phép Thánh Thể có thể được tìm thấy trong cuốn sách do Nữ Thánh viết ra theo sự mạc khải và khích lệ của Thiên Chúa, có tên là Cuộc Đàm Thoại (the Dialog). Một trong những đoạn nổi tiếng nhất trong bài luận văn này, là lúc mà Chúa Giêsu nói với vị Thánh:

Hỡi con gái thân yêu nhất của Ta, con hãy suy nghĩ thử xem, tâm hồn ở trong trạng thái thật là sung sướng và tuyệt diệu biết bao khi tâm hồn đó biết đón nhận bánh hằng sống theo một cách xứng đáng, của ăn dưỡng nuôi của các thiên thần. Bằng việc lãnh nhận bánh hằng sống ấy, linh hồn đó sẽ ngự trong Ta, trong cõi hư vô của sự yên bình, tĩnh lặng. Ơn huệ sẽ ở mãi với linh hồn đó, vì linh hồn đó đã nhận được bánh hằng sống trong lúc đang có ơn huệ; và sau khi hình dạng của bánh bị tan biến đi, Ta để lại dấu ấn về ơn huệ của Ta nơi linh hồn đó, cũng giống như một dấu ấn được đóng trong một chất sáp, nghĩa là khi con dấu được lấy ra, thì vết ấn vẫn còn hằn lên trong đó.”

5. Các Thánh Tử Đạo Bắc Mỹ (1648-1649):

Isaac Jogues, Jean de la Lande, Jean de Brébeuf, Gabriel Lalemant, Antoine Daniel, Charles Garnier, Noel Chabanel, và René Goupil đều là các Cha thuộc Dòng Tên, là những vị Thánh rất sùng kính Phép Thánh Thể, và muốn đem tình yêu về Phép Thánh Thể đến với tất cả những ai chưa có dịp để hiểu biết về di sản vô giá này.

Các Ngài đã chọn cách lấy chính mạng sống của Ngài để loan báo và rao giảng Tin Mừng đến cho những người bản xứ tại những vùng đất xa xôi, chưa từng được khám phá hay đặt chân đến của vùng Bắc Mỹ chung quanh biên giới giữa Gia Nã Đại và Hoa Kỳ, những vùng đất với những khu rừng rậm, và những hồ rộng lớn như những vùng biển đại dương vậy.

Chính vì lòng sùng kính vào Phép Thánh Thể trên bất kỳ mọi điều gì khác, đã cho các Cha Dòng Tên này sức mạnh cần thiết để vượt qua mọi hiểm trở và nguy biến trên con đường truyền giáo. Như các Ngài đã từng nói: “Vũ khí của chúng tôi chính là các phép bí tích.”

Cha Buteux đã viết về giáo huấn khi cha nhìn thấy Thánh Isaac Jogues như sau: “cũng giống như một linh hồn bị dính keo hay cột chặt vậy, hễ mở miệng ra là nói ngay tới Phép Thánh Thể.”

Thánh Charles Garnier đã tuyên xưng như sau: “Phép Thánh Thể chính là nguồn của mọi sự ngọt ngào và đỡ nâng cho trái tim và tâm hồn của chúng ta….. Trông thể như là chính Thiên Chúa, đang trao ban cho chúng ta những gì mà chúng ta đang thiếu thốn, và cũng như là một phần thưởng, Ngài đã ngự trú trong những cabin nghèo nàn, bé nhỏ của chúng ta, vì Ngài muốn tắm mát cho chúng ta bằng chính những ân huệ của Ngài.”

Trong những khu túp lều nghèo nàn đó, Chúa Giêsu ngự trong Mình Thánh, chính là một sự ủi an cho tất cả những túp lều nghèo nàn đó.

Chính là trước Nhà Tạm mà nhà truyền giáo thánh thiện này nhận được rất nhiều ơn huệ nhiệm mầu của Thiên Chúa: “Ôi, hỡi người an hem thân thương,” Thánh Charles Garnier viết, “xin tạ ơn Chúa vì Ngài đã trao ban cho ta những người anh em, những người đã chết vì đạo, và những vị Thánh, đang khao khát (aspire) vương miện đó mỗi ngày. Kể từ này trở đi tôi sẽ tự xem mình như là việc hiến tế cho Mình Thánh Chúa vậy.”

Các nhà truyền giáo đã gặt hái được những thành công bước đầu, khi mà toàn bộ bộ tộc Hurons được cải đạo, thế nhưng vào năm 1640, bộ tộc này đã bị một bộ tộc khác có tên là Iroquois, vốn được biết đến như là một bộ tộc ác chiến và man rợ nhất, tấn công. Một cuộc chiến tranh triệt tiêu (extermination) thật sự đã diễn ra giữa hai bộ tộc này. Trước khi cuộc chiến chấm dứt, vị truyền giáo thứ 8 của Dòng Tên, một cha người Pháp đã bị giết chết đi. Vì khuôn khổ có hạn, nên chúng ta không thể trình bày hết những việc tử đạo của các Ngài.

Thế nhưng, cũng đủ mà nói rằng những đau khổ, chịu đựng của các Thánh Tử Đạo tại vùng Bắc Mỹ này thật là cùng cực vì bộ tộc Iroquois rất là dã man và hung tợn, vì chúng đã tra tấn và bóc lột những kẻ thù của chúng trong nhiều tiếng đồng hồ, thậm chí là nhiều ngày trước khi họ mới bị giết chết.

Nhờ vào sự hy sinh anh dũng của các Thánh Tử Đạo mà Đạo Kitô Giáo được lan truyền sang khắp vùng Bắc Mỹ. Rất nhiều thập kỷ, sau cái chết của các Ngài, những cuộc định cư của người Công Giáo mới thật sự phát triển mạnh mẽ cũng như trổ sinh rất nhiều hoa trái mới.

(Còn tiếp ….)