Từ Gương Sáng Thánh Nhân (bài 4).

Tôi tin chúng ta đều đồng ý với nhau rằng, để tồn tại và phát triển cho tới ngày hôm nay, xã hội loài người đã có những hy sinh, những đóng góp, những gương sáng của nhiều người. Cũng vậy, tôi tin rằng riêng trong lịch sử Giáo hội, chúng ta vẫn có thể tìm thấy những gương sáng nơi các đấng chăn chiên, cũng như nơi nhiều giáo dân. Thế nhưng Gương Sáng mà chúng ta tìm được nơi ĐGH Gioan Phaolô II có những nét đặc biệt và mang lại những ảnh hưởng lớn lao cho cả đời và đạo.

Trong bài Từ Gương Sáng Thánh Nhân (2), tôi đã trình bày những hy sinh, những chịu đựng của các đấng chăn chiên trong nước, nhất là những vị đang chăn dắt đàn chiên Chúa ở các Giáo xứ nghèo, thuộc các Giáo phận nghèo, mà tôi nghĩ rằng đó cũng là những gương sáng làm đẹp lòng Chúa và làm mạnh thêm Giáo hội Chúa. Hôm nay tôi xin trình bày một sự việc mà tôi cho là gương sáng ở ngay Giáo xứ tôi. Và kế đó, tôi cũng xin trình bày một ‘gương’ mà tôi cho rằng có thể tạo cho chúng ta những suy nghĩ, những trăn trở, và những câu hỏi ‘tại sao’.

Tháng vừa qua, tôi đi dự hai lễ tang của hai người, một người em trai bạn tôi và một cụ ông 80 tuổi. Em trai bạn tôi cũng đã trên dưới 60 tuổi; ông và vợ, không có con cái đi theo, mới qua Mỹ chưa được một năm, theo diện gia đình bảo lãnh. Ông đã xin được việc làm và không may, ông đã lâm bạo bệnh trước thời gian 90 ngày khắc nghiệt để có được bảo hiểm y tế. Thật là khó cho gia đình người chị gái ông và em trai ông phải cáng đáng mọi chi phí. Điều mà tôi muốn trình bày ở đây là ông theo đạo vợ từ khi hai ông bà gặp nhau. Sang Mỹ, hai ông bà chưa gia nhập một Giáo xứ nào hết, một phần vì gia đình người chị gái, mà vợ chồng ông tá túc, ở tiểu bang kế cận tiểu bang chúng tôi và không gần một Giáo xứ Việt nào cả, một phần không thuận lợi vì cả hai ông bà chưa biết lái xe, sự di chuyển hoàn toàn lệ thuộc vào vợ chồng người chị gái đã nghỉ hưu.

Sau chỉ vài tháng chống chọi với căn bệnh ung thư bộc phát dữ dội, ông đã ra đi về với Chúa, để lại người vợ cũng gần 60 tuổi trong hoàn cảnh thật là khó khăn. Hai ông bà sang Mỹ với hy vọng tích cực làm ăn để bảo lãnh những đứa con đã trưởng thành ở VN. Giờ đây thì hy vọng đó càng xa vời hơn.

Điều tôi muốn viết ra đây cùng với cảnh ngộ của gia đình ông bà là cách đáp ứng của Cộng đoàn chúng tôi đối với họ. Không phải là ‘mèo khen mèo dài đuôi’ nhưng tôi thực sự thỏa mãn với cách đối xử của Cha QN cũng như của ban đại diện Cộng đoàn chúng tôi. Tôi được biết rằng trong thời gian ông lâm trọng bệnh, Cha QN và đại diện Cộng đoàn thường có sự thăm hỏi và ủi an. Và trước khi qua đi, ông đã được hưởng đủ các phép bí tích, được Cha QN Giáo xứ chúng tôi đến giải tội và xức dầu. Lễ tang không có quan tài vì hoàn cảnh khó khăn, gia đình đành phải tự chế.

Những giây phút viếng xác tại nhà quàn ở tiểu bang bên cạnh thật là cảm động. Tôi cứ nghĩ rằng sẽ chẳng có mấy ai ngoài những người thân quen nhưng không phải vậy, nhà quàn muốn đông chật người vì khá đông những giáo dân trong Giáo xứ tôi có mặt để cầu nguyện và chia buồn. Dù gia đình lớn của ông không phải Công giáo nhưng trong khi Cha QN làm phép xác và chúng tôi cùng lần một chuỗi và đọc kinh cầu để sau đó xác ông được mang vào phòng thiêu, những người không Công giáo trong gia đình ông, cũng như bạn bè của gia đình ông, đều nghiêm trang theo dõi và tôi tin rằng họ đã dành cho Cộng đoàn chúng tôi nói riêng, hay ‘người Công giáo’ nói chung, một cảm tình sâu đậm.

Sau đó, Cha QN chúng tôi còn cho phép ‘của ít lòng nhiều’ quyên góp trong giáo xứ để giúp người vợ góa của anh ruột bạn tôi. Thật là cảm động!

Trong lúc tôi đang viết bài này thì sáng nay Chúa nhật, vợ chồng tôi đi lễ và được nghe bài giảng của một Cha khách mới ở VN qua và ghé thăm Cộng đoàn chúng tôi. Xen trong bài giảng, Cha khách (tình cờ) kể rằng khi ngài mở thùng xe của xe Cha QN tại phi trường để bỏ hành lý của ngài vào, ngài nhìn thấy đầy đủ quần áo cùng những dụng cụ cần thiết, sẵn sàng để Cha QN chúng tôi đi viếng bất cứ ai, bất cứ lúc nào, và bất cứ nơi đâu, khi cần kíp. Đúng như vậy, lúc cần kíp thì phải nhậm lẹ, không thể rình rang được nên phải sẵn sàng vì, nếu chậm một vài phút, một người con của Chúa sắp về với Chúa mà không kịp hưởng mọi phép bí tích thì thật là thiệt thòi. Tôi không nịnh Cha QN Giáo xứ tôi, nhưng phải chăng đây là một gương sáng trong rất nhiều gương sáng của các đấng chăn chiên, dù trên thực tế đó chỉ là bổn phận của các ngài? Và tôi nghĩ rằng những việc làm của các vị trong ban Đại diện Cộng đoàn chúng tôi, cũng như của các giáo dân trong sự việc vừa qua, cũng là những gương sáng nho nhỏ? Biết đâu những gương sáng nho nhỏ ấy chính là ‘việc tông đồ’, góp phần mở rộng nước Chúa?

Thế mà trong lễ tang của một cụ ông đã 80 tuổi sau đó một tuần, tôi đươc tình cờ nghe một mẩu chuyện mà tôi cũng chỉ biết nêu câu hỏi ‘tại sao’. Tôi chỉ quen biết người con gái út của cụ qua giao thiệp việc làm và đương nhiên, ở nơi mà chúng ta gọi là quê hương thứ hai này, việc thân tình giữa những người đồng hương thật dễ dàng phát triển. Thế rồi một người bạn tôi, thân với cô con gái út này hơn tôi, kể cho tôi mẩu chuyện này, và tôi đã xác nhận lại với chính người con gái út của cụ ông.

Trước đó vài tháng, cụ ông về thăm người con trai lớn và người con gái kế ở một tiểu bang cách tiểu bang chúng tôi khoảng 5 hay 6 giờ bay. Cụ đã mang bệnh nặng từ lâu rồi và trong chuyến đi này cụ trở bệnh nặng hơn. Người con trai lớn của cụ bèn điện thoại tới Cha quản nhiệm Giáo xứ ông ta để xin ngài tới giải tội và xức dầu cho cha mình thì được Cha QN hỏi rằng cụ ông có thuộc Giáo xứ không. Ông ta trả lời là cha ông không thuộc Giáo xứ, nhưng ông thuộc Giáo xứ. Người con trai lớn này kể rằng sau đó Cha QN bảo để coi lại sổ sách rồi sẽ gọi điện thoại trả lời. Và Cha QN chẳng bao giờ gọi lại nữa. Gia đình con cháu cụ bèn định nhờ một linh mục người Mỹ, nhưng cụ ông không biết tiếng Mỹ thì làm sao xưng tội. Cuối cùng, con cháu cụ đã nhờ một LM người Việt tại một Giáo xứ khác thì may mắn đã được đáp ứng ngay.

Khi tôi hỏi thăm và chia buồn với cô con gái út thì cô xác nhận và chỉ hỏi lại tôi: “Tại sao vậy chú?” Làm sao tôi có thể trả lời cô được vì chính tôi cũng không hiểu tại sao, và tôi tin rằng có thể tất cả chúng ta đều không hiểu tại sao. Tôi cũng xin trình bày thêm là ông cụ có người cháu đích tôn đang ở trong chủng viện để chúng ta có thể thấy được cuộc sống đạo trong đại gia đình cụ.

Một điều tôi muốn trình bày thêm là gia đình chồng cô con gái út không phải là Công giáo. Thế nhưng có một điều may mắn cho Giáo xứ chúng tôi và cho Giáo hội Chúa nói chung, là hai cụ thân sinh của chồng cô con gái út đã trở lại đạo, đã gia nhập đại gia đình Chúa cách đây khoảng 3 hay 4 năm và vợ chồng tôi có tham dự lễ rửa tội cho hai cụ. Thật là cảm động khi nhìn thấy hai cụ chậm chạp bước lên cung thánh để nhận bí tích đầu tiên trong bảy phép bí tích của Thiên Chúa. Tôi cũng chưa có dịp, hay chưa ‘tiện’ để hỏi cô con gái út xem chồng cô có theo đạo không, và phản ứng của chồng cô trong việc này ra sao.

Tôi nghĩ chúng ta đều đồng ý với nhau rằng nếu không có câu trả lời hợp tình hợp lý cho câu hỏi ‘tại sao’ trong sự việc này, thì quả thực đây không phải là tấm gương sáng, hy vọng là lẻ loi, lạc lõng, trong muôn vàn những tấm gương sáng nơi các đấng chăn chiên của chúng ta. Điều may mắn là giáo dân chúng ta, vì tình yêu Thiên Chúa mạnh mẽ, sẽ dễ dàng bỏ qua những chuyện ‘không mấy vui’ này. Nhưng chúng ta cũng trăn trở khi nghĩ đến phản ứng có thể không mấy thuận lợi của những người đang muốn gia nhập gia đình Chúa, nếu họ biết chuyện này hoặc những chuyện tương tự.

Chúng ta thấy cùng một ‘vấn đề’ có tính nguyên tắc, có tính bổn phận, mà ba đấng chăn chiên giải quyết khác nhau, ứng xử khác nhau, hai tích cực và một tiêu cực. Chúng ta cũng hy vọng rằng cái tỷ lệ tiêu cực này rất nhỏ, có thể một trên hằng trăm, hằng ngàn, chứ một trên ba thì thật là một điều đáng để tất cả chúng ta suy nghĩ, phải lo lắng.

Xin Chúa Thánh Thần thổi những luồng gió độc ra khỏi chúng con, giáo dân cũng như hàng giáo phẩm, để chúng con thực sự biết ‘mở rộng trái tim’ mình như chính lời dạy của ĐGH Gioan Phaolô II của chúng con.