Từ Gương Sáng Thánh Nhân (bài 3).

Cũng trên diễn đàn này, trong bài ‘Những Giọt Nước Mắt Cho Đức Giáo Hoàng’, tôi đã trình bày rằng những người có lương tâm trong sáng trên thế giới đã nói, đã viết về ĐGH Gioan Phaolô II rất nhiều và, đương nhiên trong số các vị này, có rất nhiều người có kiến thức rộng, có địa vị cao. Riêng cá nhân tôi, tôi viết về Ngài chỉ với một tình cảm của một người con nhỏ bé nhất, khiêm nhường nhất của Ngài, và tôi tin rằng viết về Ngài chỉ với một tình cảm cũng đã là bất tận.

Người ta viết về cái nét ‘vĩ đại’ nơi ĐGH Gioan Phaolô II. Tôi không viết về cái nét vĩ đại ấy bởi vì, theo tôi nghĩ, bản chất của sự vĩ đại có mang tính ‘cách xa’, có phần ‘sợ sệt’ đối với người khác. Riêng tôi, tôi không thể giải thích tại sao mỗi lần nhìn thấy hình ảnh Ngài, mỗi lần nghĩ tới Ngài, tôi lại thấy toát ra nơi Con Người ấy một nét thật thân thương, thật trìu mến, khiến người khác không sợ sệt gì mà chỉ muốn chạy đến ôm chầm lấy Ngài. Tôi xin thú thật rằng lễ tang Ngài vừa qua là nguồn hiểu biết duy nhất của tôi về Ngài, ngoài những hiểu biết từ những bài viết về Ngài trên các báo chí; tôi chưa từng có dịp được đọc những sách báo do chính Ngài viết.

Tôi cũng xin thú thật rằng đã từ lâu, tôi không có nhiều cảm tình với giới truyền thông Mỹ, không những vì cách đưa tin méo mó của họ trong nhiều trường hợp, hoặc cách đưa tin có vể trịch thượng, kẻ cả, mà còn vì chính họ đã xác nhận một cách không úp mở, khi được hỏi về sự chính xác của cách đưa tin, rằng ‘họ viết, hoặc nói, những gì người khác muốn đọc, muốn nghe mà thôi’. Chúng ta có thể thấy rằng cách đưa tin như vậy thì có điều đúng và cũng có điều không đúng. Tôi xin đưa ra một ví dụ là mới đây, khi được hỏi rằng tại sao một số cơ quan ngôn luận chỉ loan những tin không có lợi cho Tổng thống Bush, những tin bi quan, họ đã không ngần ngại trả lời rằng ‘những tin đó hấp dẫn người đọc, hấp dẫn người nghe’, và từ đó, họ có vẻ bàng quang đối với những tin tích cực. Thế nhưng trong lễ tang ĐGH Gioan Phaolô II, tất cả giới truyền thông Mỹ đã tận tình đưa tin, với không ít những chi tiết mà tôi tin rằng chúng ta chưa từng biết đến, mặc dầu xen vào đó người ta vẫn nêu lên những vấn đề có tính cách nguyên tắc mà họ không đồng ý với cách giải quyết của Ngài như phá thai, hôn nhân đồng tính… Phải chăng đối với ĐGH Gioan Phaolô II, họ không thể đưa tin khác đi được, họ bắt buộc phải đưa tin một cách chính xác về một nhân vật, một thánh nhân, mà cả thế giới, kể cả những người không hoàn toàn đồng ý với Ngài, không phải con cái Ngài, phải ngưỡng mộ, phải kính phục, và phải công nhận.

Có người so sánh đám tang của ĐGH Gioan Phaolô II với đám tang nhà lãnh đạo Ấn Độ, mà người ta vinh danh ông là bậc thánh, thánh Gan-Đi, vì với chính sách bất bạo động của ông, ông đã giúp giải phóng dân tộc Ấn khỏi ách nô lệ của người Anh. Người ta cũng so sánh đám tang của Ngài với đám tang của lãnh tụ Cộng-Sản Mao-Trạch-Đông, người đã thống nhất Trung Quốc. Tôi tin rằng chúng ta dễ nhận thấy sự so sánh này chỉ đúng về số người tham dự lễ tang nhưng không đúng về nhiều điểm khác.

Đã có lần, trên các kênh truyền hình Mỹ, người ta đã đưa ra thăm dò ý kiến dân chúng để họ đánh giá việc làm của ĐGH Gioan Phaolô II, trong đó nổi bật có hai điểm: Giải thể chủ nghĩa Cộng sản hay những Thành tựu của Ngài cho Giáo hội Công giáo.

Nhắc đến việc ĐGH giúp làm sụp đổ chủ nghĩa Cộng sản, một số ít người vẫn cảm thấy khó chịu nhưng tôi tin rằng từ trong thâm tâm của họ, họ cũng đã nhận ra ‘cái không đúng’, hay ít ra là ‘cái lỗi thời’ của chủ nghĩa ấy mà vì một lý do nào đó, họ chưa thể công khai tuyên bố ‘cái không đúng’, ‘cái lỗi thời’ ấy. Sở dĩ tôi nêu lên việc này vì khi coi lại những DVD tôi thâu trực tiếp trong dịp lễ tang Ngài, tôi nghe có người ‘chia đều công trạng’ cho ĐGH Gioan Phaolô II và tổng thống Reagan trong việc làm sụp đổ chủ nghĩa Cộng sản. Với những suy nghĩ hạn hẹp của tôi, ĐGH Gioan Phaolô II chỉ làm những điều Ngài nên làm và phải làm mà thôi, Ngài không làm để được ghi công thì sự chia công đâu có ý nghĩa gì. Kế đến, theo tôi nghĩ thì chia đều như vậy không chính xác và có tính chủ quan, nếu không nói là thiên vị, vì còn một nhân vật khác cũng góp phần vào sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản, nhân vật Gô-Ba-Chóp.

Tôi nghĩ rằng chúng ta nên khách quan để nhận thấy rằng tại đám tang của tổng thống Reagan mà ông Gô-Ba-Chóp cũng có mặt, tổng thống Reagan đã được đề cao trong thành tích nổi bật là làm sụp đổ chủ nghĩa Cộng sản đến mức độ người ta có cảm tưởng rằng chỉ có một mình tổng thống Reagan ‘làm nên chuyện’. Đối với ĐGH Gioan Phaolô II thì tôi tin rằng Ngài chẳng quan tâm đến việc này, nhưng đối với ông Gô-Ba-Chóp thì ông đã có sự phản ứng, một cách tự chế, ông đã phát biểu ngắn gọn và không ồn ào tại tòa Đại sứ Nga, mà tôi không nhớ nguyên văn, bộc lộ sự khó chịu khi ông không được nhắc tới trong sự kiện to lớn này, sự kiện làm sụp đổ chủ nghĩa Cộng sản.

Phản ứng của ông Gô-Ba-Chóp, khi không được nhắc tới trong việc góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa Cộng sản, là có tính tự chế và khiêm nhường. Phải chăng chính ông Gô-Ba- Chóp, qua những lần được tiếp xúc với ĐGH Gioan Phaolô II, cũng thấm được cái đức tính khiêm nhường nơi Ngài và sau đó, tìm hiểu về Ngàinhiều hơn. Với ‘trái tim rộng mở’, ít là một lần, ĐGH đã nói thẳng với ông rằng Ngài rất ghét chủ nghĩa Cộng sản, nhưng Ngài cũng không ưa gì chủ nghĩa Tư bản rừng rú. Nơi đây tôi nghĩ rằng dịch chữ ‘salvage’ là ‘rừng rú’ thì hơi nhẹ.

Với trái tim mở rộng, ĐGH Gioan Phaolô II đã nói thẳng, nói thật những suy nghĩ chính xác của mình hay, nói cách khác, Ngài đã đối thoại một cách tuyệt vời, không phải chỉ với nhân vật Gô-Ba-Chóp, mà với tất cả mọi người. Đó chính là tính cách của một thánh nhân trong việc tìm ra những nguyên nhân và cách giải quyết cho những vấn đề của con người. Nếu tôi hiểu không lầm thì khi được ông Gô-Ba-Chóp nói lên những điều ‘tốt đẹp’ của chủ nghĩa Cộng sản, ĐGH Gioan Phaolô II đã phát biểu rằng Ngài cũng làm những điều như ông muốn làm nhưng, đương nhiên, những điều ông muốn làm là ‘không tưởng’, là chỉ có trong giấc mơ, là không thể thực hiện được, là không hợp lòng người, và Ngài chúc lành và cầu nguyện cho ông.

Tôi tin rằng ông gô-Ba-Chóp đã cảm động lắm vì có thể đây là lần đầu tiên ông được nghe một nhân vật như ĐGH, mà ông cho rằng thuộc thế giới tư bản, lên án thế giới tư bản, chứ không chỉ đon thuần trích và lên án chủ nghĩa Cộng sản. Tôi cũng được đọc lời phát biểu của một vị Hồng y người Đức, mà tôi không nhớ tên, rằng ngài có hai suy nghĩ sai, một là ngài không nghĩ rằng chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ sớm như vậy, hai là ngài đã nghĩ rằng khi chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ là mọi chuyện sẽ được giải quyết hết, thế nhưng dường như còn rất nhiều chuyện phải giải quyết. Phải chăng cái chủ nghĩa Cộng sản mà ĐGH Gioan Phaolô II ghét cay ghét đắng đã sụp đổ nhưng những vấn đề của ‘chủ nghĩa tư bản rừng rú’ vẫn còn đó.

Như vậy, với những thông tin này, tôi xin được có ý kiến rằng ĐGH Gioan Phaolô II chủ trương khi có vấn đề thì đối thoại và đối thoại với ‘trái tim mở rộng’ để tìm ra cách giải quyết. Ngài không hề chủ trương ‘đối đầu’ trong bất cứ vấn đề nào cả. Đối đầu, theo ý kiến của tôi, bao hàm ý nghĩa tiêu diệt đối phương, mà có đối phương nào chấp nhận bị tiêu diệt đâu, trong khi đối thoại là hai bên đều tìm cách thông cảm, tìm cách giải quyết, và hàn gắn. Và ĐGH Gioan Phaolô II đã ‘đối thoại’ một cách tuyệt vời. Riêng trong vụ việc chủ nghĩa Cộng sản giải thể, tôi nghĩ rằng ĐGH Gioan Phaolô II không đối thoại, hay không đối thoại nhiều, Ngài chỉ đóng vai trò của một người trọng tài, trọng tài trong cuộc đua sức giữa chủ nghĩa Cộng sản, mà Ngài ghét cay ghét đắng, và chủ nghĩa tư bản ‘rừng rú’. Đương nhiên chúng ta không thể biết hết mọi chi tiết trong sự việc này nhưng, về tổng quát, tôi nghĩ rằng ĐGH Gioan Phalô II đã từng gợi ý với tổng thống Reagan đại ý rằng ‘ông Gô-Ba-Chóp là người có thể nói chuyện được’, trong khi đó Ngài lại gợi ý với ông Gô-Ba-Chóp rằng ‘chạy đua vũ trang với tư bản rừng rú thì chỉ làm cho đất nước kiệt quệ, dân tình càng thêm đói khổ, trong khi tư bản tuy nó rừng rú nhưng nó giàu lắm’.

Thế là ‘sự việc’ đã xảy ra và ‘sự việc’ đã xảy ra sớm hơn là suy nghĩ của Đức Hồng Y người Đức, và sự việc coi như đã thuộc về quá khứ. Suy nghĩ ‘sai’ thứ hai của Đức HY thì vẫn còn đó khi ngài tưởng rằng chỉ cần sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản là mọi việc sẽ được giải quyết ổn thỏa, nhưng không phải vậy. Những vần nạn của chủ nghĩa tư bản ‘rừng rú’ còn cần phải có nhiều ‘trái tim mở rộng’ mới hy vọng giải quyết được.

Vậy nếu chia công trạng cho việc làm giải thể chủ nghĩa Cộng sản theo phương thức toán học là không chính xác. Việc đó tùy thuộc nơi mỗi suy nghĩ của chúng ta.