Và nói thêm về những Bình Đồ gốm cũ.
ROME (Zenit.org).- Giải đáp của Linh Mục Edward McNamara, giáo sư phụng vụ tại Đại học Giáo Hoàng Regina Apostolorum.
Trong một nhà thờ tại bang Nữu Ước, Hoa Kỳ, linh mục nói với các giáo dân trong giáo xứ đừng có quì gối lúc truyền phép. Ngài cũng nói với họ đừng có lần chuổi Mân Côi trước Bí Tích Thánh Thể. Câu hỏi chúng con có liên quan tới sự vâng lời. Người giáo dân có bắt buộc vâng lời một linh mục khi đến dự những thực hành phung vụ hay những thực hành do lòng sốt sắng không? Không vâng lệnh linh mục có mắc tội không?--M.A.E., Rochester, New York.
Có nhiều câu hỏi nêu ra ở đây và nhiều mức độ vâng lời.
Trước hết, linh mục và giáo dân phải vâng lời Chúa Kitô và Giáo Hội Người trong vấn đề dức tin, luân lý và kỷ luật phụng vụ.
Linh mục cũng như giáo hữu không phải là những ông chủ và những ông thầy phụng vụ, nhưng phải nhận lãnh phụng vụ như một ân huệ, qua đó bằng cách tham gia tích cực và ý thức, họ đi vào sự hiệp thông với Chúa Kitô và Giáo Hội, và hưởng nhờ thêm ân sủng.
Sự vâng lời cơ bản của cộng đồng đối với Chúa Kitô và Giáo Hội là nền tảng cho những hình thức khác của sự vâng lời hỗ tương trong cộng đồng. Có thể nói được, linh mục phải vâng lời giáo hữu vì ngài có một sứ vụ long trọng hướng dẫn họ đọc kinh và thờ phương theo ý của Giáo Hội. và người giáo hữu có một quyền và một bổn phận tương ứng cầu nguyện và thờ phương trong sự hiệp thông với Giáo Hội phổ quát.
Điều này cũng dẫn tới một sự hiểu biết đúng về sự vâng lời của người giáo hữu đối với các vị mục tử của mình. Họ phải sẵn sàng chấp nhận sự hướng dẫn của ngài trong mọi sự liên hệ theo ý của Giáo Hội.
Như vậy, đối với phụng vụ, linh mục được kêu gọi hướng dẫn người tín hữu trong sự thờ phượng phụng vụ của Giáo Hội. Ngược lại người tín hữu, có một luật buộc vâng lời ngài bao lâu mà sự hướng dẫn của ngài tương ứng với ý Giáo Hội như được diễn tả trong các sách phụng vụ hay là trong những sắp xếp của thẩm quyền hợp pháp Giáo Hội.
Đối với những hành vi sốt sắng riêng, linh mục như vị thầy, được kêu gọi hướng dẩn người tín hữu đến một đời sống thiêng liêng vững chắc. Trong sự này thỉnh thoảng ngài có thể bị đòi buộc phải cảnh báo họ chống lại một số thực hành sốt sắng mà đi sai khỏi giáo lý lành mạnh hay là có khuynh hướng làm lầm lẫn đoàn chiên của mình liên quan tính ưu tiên của sự sống bí tích.
Trong một số trường hợp nghiêm trọng linh mục có khi phải cấm sử dụng nhà thờ như một nơi gặp gỡ cho những diễn biến công khai về những sự sùng kính đáng nghi ngờ. Khi thi hành những hành động này, ngài phải luôn luôn theo giáo lý lành mạnh của Giáo Hội chớ không theo những sở thích thiêng liêng cá nhân mình.
Như đã nói, sự vâng lời của người tín hữu đối với linh mục là do tính hiệp thông với Giáo Hội và dĩ nhiên họ không bị buộc vâng lời một linh mục hướng dẫn họ thực hành hay bỏ sót những hành vi ngược với những qui định Giáo Hội, bởi vì khi làm như vậy ngài không chu toàn sứ vụ mình là hướng dẫn trong sự hiệp thông.
Người tín hữu cũng được tự do thực thi bất cứ việc sùng kính nào phù hợp với giáo lý lành mạnh và những qui định của Giáo Hội.
Tuy nhiên, người tín hữu phải luôn luôn có một sự phỏng đoán ủng hộ những chỉ thị của linh mục trong các vấn đề phung vụ hay thiêng liêng và phải tránh nguy cơ cho phép sự nghi ngờ ngự trị trong đời sống thiêng liêng của họ. Nếu họ có một sự nghi ngờ tích cực đối với một vấn đề riêng biệt, thì cử chỉ đầu tiên luôn luôn phải là một cử chỉ đối thoại bác ái trong sự tìm kiếm hiểu biết nhau.
Không những chỉ trong thế giới đã phát triển, chắc chắn đã qua đi những ngày khi một linh mục được coi là nguồn gốc duy nhất thông tin giáo lý. Ngày nay, hầu hết các người Công giáo có giáo dục có thể tìm ra cho mình điều Giáo Hội dạy hay qui định trong bất cứ chủ đề gì.
Nhưng sự hiểu biết thêm này phải là một sự giúp đỡ hiểu biết nhau hơn là một thứ vũ khí gây bất hòa và thái độ phải luôn luôn là một thái độ xây dựng hơn là đối đầu.
Thỉnh thoảng một chỉ thị xem ra lầm lẫn có thể được biện minh bởi những hoàn cảnh thuộc bối cảnh không dễ dàng thấy trước, và trong một thái độ bác ái hỗ tương linh mục phải vui lòng giải thích những lý do bên sau những việc làm của ngài và người tín hữu nên sẵn sàng cân nhắc cẩn thận điều mình phải nói
Nếu cần, tất cả phải vui lòng xin giám mục làm sáng tỏ tình huống. Đối với một số người, điều này có thể xem ra lạc quan quá mức, như thánh thi cổ xưa nhắc chúng ta rằng "Ubi caritas est vera, Deus ibi est"-- Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời.
Bây giờ, chao ôi, chúng ta phải tới thực chất của phần thứ nhất trong câu hỏi. Chỉ thị linh mục đưa ra không được quì gối lúc truyền phép là sai lầm nếu theo luật chung. Những qui tắc phải quì gối tại Hoa Kỳ được ấn định trong Qui Chế Tổng Quát sách Lễ Roma, số 43.
"Trong các giáo hội tại Hoa Kỳ, các tín hữu phải quì gối bắt đầu sau khi hát hay đọc kinh Thánh Thánh Thánh cho tới sau phần thưa Amen của Kinh Thánh Thể, trừ ra khi bị ngăn trở vì những lý do sức khỏe, yếu tố không gian, vì số đông người hiện diện, hay là một số lý do chính đáng nào khác. Những ai không thể quì gối thì phải bái đầu khi linh mục quì gối sau khi truyền phép. Sau kinh Lạy Chiên Thiên Chúa, Người giáo dân quì gối xuống trừ khi có sự ấn định của Giám Mục Giáo Phận theo cách khác.
Sự bàn cãi trong hội đồng gám mục đưa tới việc đề ra sự thích ứng này, nhất là dùng kiểu nói " trong dịp," cho thấy rõ ràng rằng các giám mục muốn ngăn ngừa luật trừ khỏi trở nên một sự bỏ quì gối một cách bao quát.
Như vậy, trừ khi có một lý do chính đáng đặc biệt đưa linh mục tới chỗ chỉ thị cho giáo dân không qui gối trong dịp này, và nhất là nếu linh mục đã chỉ thị một qui tắc cố định cho giáo xứ, lúc đó linh mục đã đi quá thẩm quyền của mình.
Tương tự như thế, không có luật cấm lần chuổi Mân Côi trước Bí Tích Thánh Thể Trên thực tế, Tòa Thánh đã cho phép rõ điều này trong một phúc đáp công khai đối với một nghi ngờ trong một thông tư phổ biến ngày 15/1/1997.
Văn kiện nói rằng không nên đặt Bí Tích Thánh Thể để đọc kinh Mân Côi. Nhưng kinh Mân Côi được phép kể như là những kinh đọc trong lúc chầu.
Đang khi không có luật cấm trên nguyên tắc, người ta có thể phỏng đoán rằng những hoàn cảnh riêng biệt có thể xảy ra bắt buột vị mục tử không cho phép đọc công khai kinh Mân Côi trước Bí Tích Thánh. Trong những sự cố như vậy (giả sử rất họa hiếm) ngài có thể hành động theo những quyền hành và những nhiệm vụ của ngài như một người hướng dẫn thiêng liêng.
Nhưng ngài không có quyền cấm ngưới tín hữu đọc kinh Mân Côi cách riêng tư trước Bí Tích Thánh Thể.
* * *
Phải làm gì với những bình đồ gốm cũ
Những gợi ý của chúng tôi liên quan tới việc bỏ đi những bình đồ gốm là cơ hội để giải đáp hai câu hỏi liên hệ.
Một độc giả tại California hỏi rằng: "Quy chế mới chỉ rõ những chén lễ hay những bình ciboria (bình đựng bánh lễ) không thể được sử dụng trong phung vụ. Khi đức Giáo Hoàng đến thành phố chúng tôi và chúng tôi có một buổi phụng vụ tuyệt dịu cho hàng trăm ngàn người, tổng giáo phận có những bình thủy tinh để cho Rước Lễ. Sau khi Đức Giáo Hoàng đã rời khỏi nơi này, tổng giáo phận xin các giáo dân mua những bình này cho các giáo xứ mình. Nếu không đến một ngàn bình thỉ phải đến cả trăm bình đã được mua. Điều xem ra lạ là những bình này có thể được sử dụng cho Thánh Lễ của đức Giáo Hoàng, nhưng lại không còn sử dụng được nữa. Phải làm gì với những bình thủy tinh này đã được sử dụng trong các giáo xứ? Có nên gởi trả lại cho người mua chăng?
Liên quan đến sự vứt bỏ các bình như thế, tôi qui chiếu về điều tôi đã nói trong lần trước. Vì vấn đề bị khái quát quá, có thể xin giám mục đưa ra một vài kế hoạch toàn bộ.
Nhưng, tôi muốn nói sự kiện những bình này được sử dụng trong Thánh Lễ Giáo Hoàng, không tự nhiên có nghĩa là đúng theo phụng vụ, vì tùy rất nhiều vào những người tổ chức địa phương.
Đồng thời, cho tới khi huấn thị "Redemtionis Sacramentum-Bí Tích Cứu Chuộc" sau cùng đã dẹp tan những nghi ngờ, tính chấp nhận được của thủy tinh và đồ gốm là một điểm tranh chấp. Và do đó có lẽ sự xử dụng những bình đó được coi là đúng lúc đó.
Có thể có một lý do khác là những dịp bất thường có thể đòi hỏi những giải pháp bất thường và, đang khi không thể biện minh sự sử dụng những bình ít diễn cảm hơn và dễ dàng theo mô hình, cho việc sử dụng phụng vụ, thì điều đó chỉ có thể thực hiện trong những dịp lớn hoạ hiếm khi có cả chục ngàn người lên rước lễ.
Trên thực tế, tôi nhận thấy những bình đồ gốm được sử dụng mới đây để cho Rước Lễ trong Thánh Lễ do Đức Biển Đức XVI cử hành tại Bari ở miền Nam Italia khi kết thúc một Đại Hội Thánh Thể.
Một độc giả tại Minnesota hỏi: "Tôi ngỏ ý mua những gì thay thế cho những chén lễ bằng thủy tinh và 'bình nuôi cá vàng' dùng cho Rước Lễ. Đang khi linh mục tỏ ý khuất phục một chút, sẵn sàng sử dụng những mẫu đồ tôi sẽ mua cho, thì ngài tỏ ý còn muốn sử dụng chất thủy tinh để 'dạy giáo lý trẻ em trong Thánh lễ, nghĩa là cho các em thấy mình và máu Chúa chúng ta hầu cho chúng hiểu. Tôi đã nhắc ngài 'Redemptionis Sacramentum' tuyên bố không cho sử dụng chất thủy tinh, và ngài nói giám mục có gởi thơ cho các linh mục trong giáo phận bảo không thực hiện "Redemptionis Sacramentum" cho tới khi ngài duyệt lại huấn thị đó và cho "OK".
"Có nhiều vấn đề ở đây: 1. Có luật trừ nào cho phép sử dụng chất thủy tinh như linh mục của tôi nói chăng? 2. Giám mục có quyền cản trở thi hành RS chăng?, vì đối với tôi đó đúng là một sự làm sáng tỏ GIRM, "
Tôi không nghĩ ràng có những luật trừ nào cho phép sử dụng các chén lễ thủy tinh. Theo ý tôi " lập luận giáo lý" của linh mục chỉ có lý bề ngoài-- dường như tính khả kiến những chất thể thánh dễ dàng hoá cách nào đó đức tin vào sự biến thể.
Giáo Hội đã giải quyết truyền thông đức tin trong Thánh Thể từ nhiều thế kỷ mà không nhờ tới những chén thủy tinh. Có lẽ Giáo Hội có thể giải quyết mà không cần những chén đó trong tương lai.
Vì tôi không thấy thơ của giám mục, tôi không thể bình luận cách riêng và tôi giả thiết rằng, tới giai đoạn này, ngài đã có biện pháp. Tôi nghi rằng ngài đang đòi quyền phủ qyết Tòa Thánh.
Đúng hơn xem ra ngài qui chiếu về những hậu quả thực hành của văn kiện và của việc áp dụng văn kiện cho giáo phận. Có lẽ ngài muốn có thời gian nghiên cứu văn kiện hầu bảo đảm một sự quá độ khắp giáo phận được êm thắm hơn về bất cứ những thực hành nào cần cải tổ. Ngài cũng có thể muốn giải quyết những khó khăn phức tạp, thi dụ như, mua số lớn với những chén mới với một giá rẽ hơn.
Dĩ nhiên, một số phương diện của "Redemptionis Sacramentum," như bất cứ cái gì bị kết án là một "lạm dụng lớn," phải được sửa chữa ngay và không trì hoãn.
ROME (Zenit.org).- Giải đáp của Linh Mục Edward McNamara, giáo sư phụng vụ tại Đại học Giáo Hoàng Regina Apostolorum.
Trong một nhà thờ tại bang Nữu Ước, Hoa Kỳ, linh mục nói với các giáo dân trong giáo xứ đừng có quì gối lúc truyền phép. Ngài cũng nói với họ đừng có lần chuổi Mân Côi trước Bí Tích Thánh Thể. Câu hỏi chúng con có liên quan tới sự vâng lời. Người giáo dân có bắt buộc vâng lời một linh mục khi đến dự những thực hành phung vụ hay những thực hành do lòng sốt sắng không? Không vâng lệnh linh mục có mắc tội không?--M.A.E., Rochester, New York.
Có nhiều câu hỏi nêu ra ở đây và nhiều mức độ vâng lời.
Trước hết, linh mục và giáo dân phải vâng lời Chúa Kitô và Giáo Hội Người trong vấn đề dức tin, luân lý và kỷ luật phụng vụ.
Linh mục cũng như giáo hữu không phải là những ông chủ và những ông thầy phụng vụ, nhưng phải nhận lãnh phụng vụ như một ân huệ, qua đó bằng cách tham gia tích cực và ý thức, họ đi vào sự hiệp thông với Chúa Kitô và Giáo Hội, và hưởng nhờ thêm ân sủng.
Sự vâng lời cơ bản của cộng đồng đối với Chúa Kitô và Giáo Hội là nền tảng cho những hình thức khác của sự vâng lời hỗ tương trong cộng đồng. Có thể nói được, linh mục phải vâng lời giáo hữu vì ngài có một sứ vụ long trọng hướng dẫn họ đọc kinh và thờ phương theo ý của Giáo Hội. và người giáo hữu có một quyền và một bổn phận tương ứng cầu nguyện và thờ phương trong sự hiệp thông với Giáo Hội phổ quát.
Điều này cũng dẫn tới một sự hiểu biết đúng về sự vâng lời của người giáo hữu đối với các vị mục tử của mình. Họ phải sẵn sàng chấp nhận sự hướng dẫn của ngài trong mọi sự liên hệ theo ý của Giáo Hội.
Như vậy, đối với phụng vụ, linh mục được kêu gọi hướng dẫn người tín hữu trong sự thờ phượng phụng vụ của Giáo Hội. Ngược lại người tín hữu, có một luật buộc vâng lời ngài bao lâu mà sự hướng dẫn của ngài tương ứng với ý Giáo Hội như được diễn tả trong các sách phụng vụ hay là trong những sắp xếp của thẩm quyền hợp pháp Giáo Hội.
Đối với những hành vi sốt sắng riêng, linh mục như vị thầy, được kêu gọi hướng dẩn người tín hữu đến một đời sống thiêng liêng vững chắc. Trong sự này thỉnh thoảng ngài có thể bị đòi buộc phải cảnh báo họ chống lại một số thực hành sốt sắng mà đi sai khỏi giáo lý lành mạnh hay là có khuynh hướng làm lầm lẫn đoàn chiên của mình liên quan tính ưu tiên của sự sống bí tích.
Trong một số trường hợp nghiêm trọng linh mục có khi phải cấm sử dụng nhà thờ như một nơi gặp gỡ cho những diễn biến công khai về những sự sùng kính đáng nghi ngờ. Khi thi hành những hành động này, ngài phải luôn luôn theo giáo lý lành mạnh của Giáo Hội chớ không theo những sở thích thiêng liêng cá nhân mình.
Như đã nói, sự vâng lời của người tín hữu đối với linh mục là do tính hiệp thông với Giáo Hội và dĩ nhiên họ không bị buộc vâng lời một linh mục hướng dẫn họ thực hành hay bỏ sót những hành vi ngược với những qui định Giáo Hội, bởi vì khi làm như vậy ngài không chu toàn sứ vụ mình là hướng dẫn trong sự hiệp thông.
Người tín hữu cũng được tự do thực thi bất cứ việc sùng kính nào phù hợp với giáo lý lành mạnh và những qui định của Giáo Hội.
Tuy nhiên, người tín hữu phải luôn luôn có một sự phỏng đoán ủng hộ những chỉ thị của linh mục trong các vấn đề phung vụ hay thiêng liêng và phải tránh nguy cơ cho phép sự nghi ngờ ngự trị trong đời sống thiêng liêng của họ. Nếu họ có một sự nghi ngờ tích cực đối với một vấn đề riêng biệt, thì cử chỉ đầu tiên luôn luôn phải là một cử chỉ đối thoại bác ái trong sự tìm kiếm hiểu biết nhau.
Không những chỉ trong thế giới đã phát triển, chắc chắn đã qua đi những ngày khi một linh mục được coi là nguồn gốc duy nhất thông tin giáo lý. Ngày nay, hầu hết các người Công giáo có giáo dục có thể tìm ra cho mình điều Giáo Hội dạy hay qui định trong bất cứ chủ đề gì.
Nhưng sự hiểu biết thêm này phải là một sự giúp đỡ hiểu biết nhau hơn là một thứ vũ khí gây bất hòa và thái độ phải luôn luôn là một thái độ xây dựng hơn là đối đầu.
Thỉnh thoảng một chỉ thị xem ra lầm lẫn có thể được biện minh bởi những hoàn cảnh thuộc bối cảnh không dễ dàng thấy trước, và trong một thái độ bác ái hỗ tương linh mục phải vui lòng giải thích những lý do bên sau những việc làm của ngài và người tín hữu nên sẵn sàng cân nhắc cẩn thận điều mình phải nói
Nếu cần, tất cả phải vui lòng xin giám mục làm sáng tỏ tình huống. Đối với một số người, điều này có thể xem ra lạc quan quá mức, như thánh thi cổ xưa nhắc chúng ta rằng "Ubi caritas est vera, Deus ibi est"-- Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời.
Bây giờ, chao ôi, chúng ta phải tới thực chất của phần thứ nhất trong câu hỏi. Chỉ thị linh mục đưa ra không được quì gối lúc truyền phép là sai lầm nếu theo luật chung. Những qui tắc phải quì gối tại Hoa Kỳ được ấn định trong Qui Chế Tổng Quát sách Lễ Roma, số 43.
"Trong các giáo hội tại Hoa Kỳ, các tín hữu phải quì gối bắt đầu sau khi hát hay đọc kinh Thánh Thánh Thánh cho tới sau phần thưa Amen của Kinh Thánh Thể, trừ ra khi bị ngăn trở vì những lý do sức khỏe, yếu tố không gian, vì số đông người hiện diện, hay là một số lý do chính đáng nào khác. Những ai không thể quì gối thì phải bái đầu khi linh mục quì gối sau khi truyền phép. Sau kinh Lạy Chiên Thiên Chúa, Người giáo dân quì gối xuống trừ khi có sự ấn định của Giám Mục Giáo Phận theo cách khác.
Sự bàn cãi trong hội đồng gám mục đưa tới việc đề ra sự thích ứng này, nhất là dùng kiểu nói " trong dịp," cho thấy rõ ràng rằng các giám mục muốn ngăn ngừa luật trừ khỏi trở nên một sự bỏ quì gối một cách bao quát.
Như vậy, trừ khi có một lý do chính đáng đặc biệt đưa linh mục tới chỗ chỉ thị cho giáo dân không qui gối trong dịp này, và nhất là nếu linh mục đã chỉ thị một qui tắc cố định cho giáo xứ, lúc đó linh mục đã đi quá thẩm quyền của mình.
Tương tự như thế, không có luật cấm lần chuổi Mân Côi trước Bí Tích Thánh Thể Trên thực tế, Tòa Thánh đã cho phép rõ điều này trong một phúc đáp công khai đối với một nghi ngờ trong một thông tư phổ biến ngày 15/1/1997.
Văn kiện nói rằng không nên đặt Bí Tích Thánh Thể để đọc kinh Mân Côi. Nhưng kinh Mân Côi được phép kể như là những kinh đọc trong lúc chầu.
Đang khi không có luật cấm trên nguyên tắc, người ta có thể phỏng đoán rằng những hoàn cảnh riêng biệt có thể xảy ra bắt buột vị mục tử không cho phép đọc công khai kinh Mân Côi trước Bí Tích Thánh. Trong những sự cố như vậy (giả sử rất họa hiếm) ngài có thể hành động theo những quyền hành và những nhiệm vụ của ngài như một người hướng dẫn thiêng liêng.
Nhưng ngài không có quyền cấm ngưới tín hữu đọc kinh Mân Côi cách riêng tư trước Bí Tích Thánh Thể.
* * *
Phải làm gì với những bình đồ gốm cũ
Những gợi ý của chúng tôi liên quan tới việc bỏ đi những bình đồ gốm là cơ hội để giải đáp hai câu hỏi liên hệ.
Một độc giả tại California hỏi rằng: "Quy chế mới chỉ rõ những chén lễ hay những bình ciboria (bình đựng bánh lễ) không thể được sử dụng trong phung vụ. Khi đức Giáo Hoàng đến thành phố chúng tôi và chúng tôi có một buổi phụng vụ tuyệt dịu cho hàng trăm ngàn người, tổng giáo phận có những bình thủy tinh để cho Rước Lễ. Sau khi Đức Giáo Hoàng đã rời khỏi nơi này, tổng giáo phận xin các giáo dân mua những bình này cho các giáo xứ mình. Nếu không đến một ngàn bình thỉ phải đến cả trăm bình đã được mua. Điều xem ra lạ là những bình này có thể được sử dụng cho Thánh Lễ của đức Giáo Hoàng, nhưng lại không còn sử dụng được nữa. Phải làm gì với những bình thủy tinh này đã được sử dụng trong các giáo xứ? Có nên gởi trả lại cho người mua chăng?
Liên quan đến sự vứt bỏ các bình như thế, tôi qui chiếu về điều tôi đã nói trong lần trước. Vì vấn đề bị khái quát quá, có thể xin giám mục đưa ra một vài kế hoạch toàn bộ.
Nhưng, tôi muốn nói sự kiện những bình này được sử dụng trong Thánh Lễ Giáo Hoàng, không tự nhiên có nghĩa là đúng theo phụng vụ, vì tùy rất nhiều vào những người tổ chức địa phương.
Đồng thời, cho tới khi huấn thị "Redemtionis Sacramentum-Bí Tích Cứu Chuộc" sau cùng đã dẹp tan những nghi ngờ, tính chấp nhận được của thủy tinh và đồ gốm là một điểm tranh chấp. Và do đó có lẽ sự xử dụng những bình đó được coi là đúng lúc đó.
Có thể có một lý do khác là những dịp bất thường có thể đòi hỏi những giải pháp bất thường và, đang khi không thể biện minh sự sử dụng những bình ít diễn cảm hơn và dễ dàng theo mô hình, cho việc sử dụng phụng vụ, thì điều đó chỉ có thể thực hiện trong những dịp lớn hoạ hiếm khi có cả chục ngàn người lên rước lễ.
Trên thực tế, tôi nhận thấy những bình đồ gốm được sử dụng mới đây để cho Rước Lễ trong Thánh Lễ do Đức Biển Đức XVI cử hành tại Bari ở miền Nam Italia khi kết thúc một Đại Hội Thánh Thể.
Một độc giả tại Minnesota hỏi: "Tôi ngỏ ý mua những gì thay thế cho những chén lễ bằng thủy tinh và 'bình nuôi cá vàng' dùng cho Rước Lễ. Đang khi linh mục tỏ ý khuất phục một chút, sẵn sàng sử dụng những mẫu đồ tôi sẽ mua cho, thì ngài tỏ ý còn muốn sử dụng chất thủy tinh để 'dạy giáo lý trẻ em trong Thánh lễ, nghĩa là cho các em thấy mình và máu Chúa chúng ta hầu cho chúng hiểu. Tôi đã nhắc ngài 'Redemptionis Sacramentum' tuyên bố không cho sử dụng chất thủy tinh, và ngài nói giám mục có gởi thơ cho các linh mục trong giáo phận bảo không thực hiện "Redemptionis Sacramentum" cho tới khi ngài duyệt lại huấn thị đó và cho "OK".
"Có nhiều vấn đề ở đây: 1. Có luật trừ nào cho phép sử dụng chất thủy tinh như linh mục của tôi nói chăng? 2. Giám mục có quyền cản trở thi hành RS chăng?, vì đối với tôi đó đúng là một sự làm sáng tỏ GIRM, "
Tôi không nghĩ ràng có những luật trừ nào cho phép sử dụng các chén lễ thủy tinh. Theo ý tôi " lập luận giáo lý" của linh mục chỉ có lý bề ngoài-- dường như tính khả kiến những chất thể thánh dễ dàng hoá cách nào đó đức tin vào sự biến thể.
Giáo Hội đã giải quyết truyền thông đức tin trong Thánh Thể từ nhiều thế kỷ mà không nhờ tới những chén thủy tinh. Có lẽ Giáo Hội có thể giải quyết mà không cần những chén đó trong tương lai.
Vì tôi không thấy thơ của giám mục, tôi không thể bình luận cách riêng và tôi giả thiết rằng, tới giai đoạn này, ngài đã có biện pháp. Tôi nghi rằng ngài đang đòi quyền phủ qyết Tòa Thánh.
Đúng hơn xem ra ngài qui chiếu về những hậu quả thực hành của văn kiện và của việc áp dụng văn kiện cho giáo phận. Có lẽ ngài muốn có thời gian nghiên cứu văn kiện hầu bảo đảm một sự quá độ khắp giáo phận được êm thắm hơn về bất cứ những thực hành nào cần cải tổ. Ngài cũng có thể muốn giải quyết những khó khăn phức tạp, thi dụ như, mua số lớn với những chén mới với một giá rẽ hơn.
Dĩ nhiên, một số phương diện của "Redemptionis Sacramentum," như bất cứ cái gì bị kết án là một "lạm dụng lớn," phải được sửa chữa ngay và không trì hoãn.