Chúng tôi đến Langbiang khi trời còn sớm. Đà Lạt đang chìm trong sương mù. Đồi núi chập chùng thấp thoáng những căn nhà khuất sau những vườn xanh ngút mắt. Sương long lanh trên từng cành cây ngọn cỏ, nhẹ nhàng rung theo gió. Khí trời se lạnh đủ làm nên nét thơ mộng của thành phố du lịch.
Quyết định không leo núi, chúng tôi thăm giáo xứ Langbiang, tìm hiểu một vài nét văn hóa người Dân Tộc của giáo xứ truyền giáo này.
Langbiang là một giáo xứ Dân Tộc lớn nhất của giáo phận Đà lạt,không những về số giáo dân mà còn cả về diện tích, bao trùm huyện Lạc dương, gồm 6 xã : Xã Lát, Đạ Sa, Đạ Chay, Đạ Tong,Đạ Long và Đamron.Có khoảng 12.000 giáo dân trên 20.000 dân mà đa số là người Dân Tộc
Có thể nói Labiang là giáo xứ Dân Tộc đầu tàu của Giáo phận. Anh chị em Dân tộc và cách riêng giáo xứ Langbiang chiếm một chỗ rất đặc biệt trong trái tim Đức Cha Phêrô. Bởi thế 46 anh em Linh mục và 3 Thầy của lớp chúng tôi đến Đà lạt để họp lớp hàng năm thì Đức Cha Phêrô đã giới thiệu và muốn chúng tôi tham quan Langbiang.
Cổng Nhà thờ rộng mở. Cha Xứ và đông đảo anh chị em Dân Tộc hân hoan đón chúng tôi.
Vừa xuống xe, chúng tôi vào ngay Nhà Thờ viếng Chúa.Hình ảnh nổi bật trên cung thánh đập vào mắt là cây nêu cao đến khoảng 6 mét dựng bên Tòa giảng dưới cây Thánh giá. 2 đầu trâu với đôi sừng cong vút ôm lấy gốc cây nêu. Rất đỗi ngạc nhiên ! Cha Xứ đã say sưa giải thích cho chúng tôi nét văn hóa độc đáo của người Dân Tộc vùng cao này, Ngài trình bày những gì mình đã sống, đã làm cho đàn chiên hơn 10 năm qua.
Theo truyền thống từ xa xưa của người Dân Tộc thì Cây Nêu được dựng lên ở đâu thì ở đó có lễ hội tế trâu, ai cũng có thể đến dự và ăn tiệc. Cây nêu, con trâu và lễ hội đã đi vào truyền thống văn hóa của họ. Nhìn chung họ có 3 lễ hội lớn là Tạ Ơn Thần Lúa, Chuộc Tội và Hòa Giải.
Người Dân tộc tỉa lúa trên nương rẫy, giống lúa dài ngày, một năm một vụ.Năng suất chỉ 1 tấn trên 1 hecta. Năm nào được mùa cũng chỉ 1,2 tấn, năm mất mùa còn 5 - 6 tạ. Dù được hay mất mùa họ đều tạ ơn thần lúa và cầu xin cho năm sau được nhiều thóc gạo hơn, có cái ăn cái để. Họ dựng lên cây nêu, lễ hội giết trâu và cả làng ăn tiệc.
Đối với người Dân Tộc sống vùng cao, băng rừng lội suối, leo núi, làm nương rẫy.Họ khoẻ mạnh,bàn tay chai sần, bàn chân đi rừng không cần giày dép, nước da đen sạm càng tạo cho họ dáng vẻ rắn chắc. Tuy vậy họ cũng nhiễm vi trùng, vi rút, cũng lắm thứ bệnh tật.Đối với họ bị bệnh là do con ma bắt, do một vị thần muốn ăn người đó nên sinh ra bệnh. Các thầy lang, thầy bùa là bác sĩ chữa bá bệnh.Khi gia đình có người đau ốm, họ mời thầy lang đến.Sau một hồi chần đoán, thầy phán :bệnh nhân do con ma bắt, để hết bệnh phải tế trâu. Thầy bảo mấy trâu thì gia đình phải tế đủ lễ. Cây nêu được dựng nên, trâu bị giết, thầy lang cầu xin con ma hay vị thần đừng có ăn người bệnh mà qua ăn trâu. Con trâu tội nghiệp gánh lấy bệnh tật khổ đau của con người.
Sống ở đời ai lại không một lần lầm lỗi với hàng xóm láng giềng. Người Dân Tộc cũng ý thức về lỗi lầm bản thân đã gây ra cho bà con chòm xóm.Bởi vậy trong đời người, thường là khi tuổi đời đã cao, họ dựng cây nêu, giết trâu mời bà con đến ăn tiệc xem như là xin hoà giải với mọi người, mọi lỗi lầm bỏ qua hết cho nhau.Ai đã ăn thịt trâu của gia chủ là chấp nhận xoá hết những xích mích, những oán hờn, những thù hận, tha thứ hết và sống an hoa với nhau. Thường những người có dư tí chút mới tổ chức lễ hoà giải này, nên có người 60 tuổi đã tổ chức, có người đến 80. Có người quá nghèo không có trâu thì sau khi chết con cháu sẽ tế trâu mời làng xóm đến xin hoà giải cho cha hay ông của mình.
Bao thế hệ đã qua đi, người Dân tộc sống với nền văn hóa ấy, cây nêu, tế trâu và ăn tiệc.
Khi các Linh mục được sai đến đây để sống với họ, đem tin mừng Chúa Giêsu cho họ, các nhà truyền giáo đã thao thức phải làm thế nào để họ biết Chúa Giêsu, họ hiểu Chúa Giêsu và tin vào Ngài. Qua thời gian dài cùng sống, tìm hiểu văn hóa của họ và từ đó đã hội nhập văn hóa của họ mà loan báo tin mừng.
Chẳng có thần nào cả, cũng chẳng có thần lúa, thần rừng, thần lửa. Chỉ có Chúa là Đấng ban cho con người tất cả, mưa nắng, nương rẫy mùa màng, sức khỏe, con cái.Chúa dựng nên con người, ban cho con người mọi sinh vật trên mặt đất như là quà tặng, bông hoa cho hương sắc, bầy ông cho mật ngọt, dòng sông cho dòng nước mát, chim chóc muông thú cho con người hưởng dùng Chúa yêu thương con người vô cùng như người cha người mẹ yêu thương, chăm lo cho con cái. Khi bị bệnh chẳng phải do con ma nào bắt cả. Phải khám bệnh, phải uống mới lành bệnh.Các bác sĩ, y sĩ được mời đến giúp khám và chữa bệnh và tập cho họ có thói quen uống thuốc khi mắc bệnh.
Cứ từng bước một các nhà truyền giáo đã nói về Chúa Giêsu, nói về Đạo rất dễ hiểu, rất gần gũi cho họ. Dưới sức mạnh của đặc sủng, với tác động của Chúa Thánh Thần, dần dần người Dân Tộc hiểu và tin vào Đức Giêsu. Họ bỏ hết các hủ tục, các mê tín dị đoan,sống niềm tin rất tinh ròng vào Thiên Chúa.
Các linh mục truyền giáo không phải bắt từng con cá một mà bắt cá bằng lưới.
Đồng bào Dân tộc là đối tượng ưu tiên cho công cuộc truyền giáo.Năm 1927, Đức Cha Jean Cassaigne được cử lên Di linh truyền giáo.Nhờ Ngài mà nhiều người Dân tộc được biết về Chúa, biết về đạo và nhiều người cùi được chăm sóc.Trong thập niên 50,các Cha Dòng Chúa Cứu Thế đặt cơ sở truyền giáo ở Phú Sơn, giúp cho nhiều người Dân tộc vào đạo.Giáo phận Đà lạt có nhiều linh mục làm nhiệm vụ duy nhất là truyền giáo cho người Dân tộc. Rồi các Cha thuộc Hội Thừa sai Paris, các Cha thuộc Tu hội Thánh Vinh Sơn,các linh mục giáo phận, các Nữ tu thuộc nhiều hội dòng dấn thân vào hoạt động này.Lúc giáo phận được thành lập, mới chỉ có 1.547 người Dân tộc theo Đạo Công Giáo.Mười năm sau con số đó lên tới 7.142 người trên tổng số gần 100.000 người Dân tộc.Hiện nay số giáo dân Dân tộc trên dưới 65.000 người trên tổng số khoảng 150.000 người Dân tộc.Công cuộc truyền giáo cho người Dân tộc luôn phát triển, số người vào đạo không ngừng gia tăng. Ngay trong ngày được tấn phong, Đức giám mục đương kim đã nói lên hai mối quan tâm mục vụ ưu tiên của Ngài mà một trong hai là đồng bào Dân tộc.Mối quan tâm ấy đã được thể hiện ngay từ những ngày đầu làm Giám mục, nhất là từ khi lãnh đạo giáo phận,qua những cuộc thăm viếng,những kế hoạch thăng tiến đồng bào Dân tộc cả về tôn giáo lẫn văn hóa,những cuộc hội họp thường xuyên của các linh mục phụ trách,những sự giúp đỡ cụ thể,những vận động để có được giáo sĩ và tu sĩ người dân tộc.
Trong chiều hướng truyền giáo và phát triển văn hóa người dân tộc,có hai công trình rất đặc biệt.Đó là công trình dịch thuật và công trình bảo tồn chứng tích văn minh.Công trình dịch thuật do một số cha phụ trách đồng bào Dân tộc thực hiện như dịch Thánh kinh trọn bộ, dịch kinh lễ và nghi thức bí tích sang tiếng K Ho, biên soạn tự điển, sáng tác thánh ca hát trong phụng vụ.Công trình bảo tồn chứng tích văn minh do chính Đức cha đề xướng như thu góp các dụng cụ sinh hoạt đủ loại, những sách vở và hình ảnh về đồng bào dân tộc,tất cả được sắp xếp thứ tự trong một căn phòng khang trang rộng rãi ở Tòa giám mục.
Cha Phạm Minh Thanh quản xứ Langbiang là người say mê công cuộc truyền giáo cho đồng bào Dân tộc. Ngài luôn ao ước và trăn trở viếng thăm mục vụ anh chị em giáo dân thuộc giáo xứ ở những vùng xa như Đã Tong, Đã Long và Đamron nhưng chưa được phép.
Rời Nhà Thờ, chúng tôi đi thăm các gia đình trong giáo xứ. Họ tiếp đón với tất cả chân tình đơn sơ ấm áp.
Bữa ăn trưa trên nhàsàn thật vui vẻ. Chúng tôi được uống rượu cần, ăn thịt rừng, được thưởng thức những điệu múa những bài ca đặc sản Dân tộc.
Chia tay ra về trong lưu luyến, chúng tôi hứa có dịp sẽ dẫn các hội đoàn giáo xứ mình tham quan giáo xứ Langbiang.
Có một người theo Đạo, đó hạnh phúc của những người truyền giáo.Chúng tôi cầu chúc cho Cha xứ, Cha phó có nhiều hạnh phúc như thế.Mỗi người chúng ta đều có bổn phận gieo hạt giống tin mừng trong môi trường mình đang sống vàluôn luôn xác tín rằng : Tôi trồng, Appolo tưới còn Thiên Chúa cho mọc lên.
30.10.2002
Quyết định không leo núi, chúng tôi thăm giáo xứ Langbiang, tìm hiểu một vài nét văn hóa người Dân Tộc của giáo xứ truyền giáo này.
Langbiang là một giáo xứ Dân Tộc lớn nhất của giáo phận Đà lạt,không những về số giáo dân mà còn cả về diện tích, bao trùm huyện Lạc dương, gồm 6 xã : Xã Lát, Đạ Sa, Đạ Chay, Đạ Tong,Đạ Long và Đamron.Có khoảng 12.000 giáo dân trên 20.000 dân mà đa số là người Dân Tộc
Có thể nói Labiang là giáo xứ Dân Tộc đầu tàu của Giáo phận. Anh chị em Dân tộc và cách riêng giáo xứ Langbiang chiếm một chỗ rất đặc biệt trong trái tim Đức Cha Phêrô. Bởi thế 46 anh em Linh mục và 3 Thầy của lớp chúng tôi đến Đà lạt để họp lớp hàng năm thì Đức Cha Phêrô đã giới thiệu và muốn chúng tôi tham quan Langbiang.
Cổng Nhà thờ rộng mở. Cha Xứ và đông đảo anh chị em Dân Tộc hân hoan đón chúng tôi.
Vừa xuống xe, chúng tôi vào ngay Nhà Thờ viếng Chúa.Hình ảnh nổi bật trên cung thánh đập vào mắt là cây nêu cao đến khoảng 6 mét dựng bên Tòa giảng dưới cây Thánh giá. 2 đầu trâu với đôi sừng cong vút ôm lấy gốc cây nêu. Rất đỗi ngạc nhiên ! Cha Xứ đã say sưa giải thích cho chúng tôi nét văn hóa độc đáo của người Dân Tộc vùng cao này, Ngài trình bày những gì mình đã sống, đã làm cho đàn chiên hơn 10 năm qua.
Theo truyền thống từ xa xưa của người Dân Tộc thì Cây Nêu được dựng lên ở đâu thì ở đó có lễ hội tế trâu, ai cũng có thể đến dự và ăn tiệc. Cây nêu, con trâu và lễ hội đã đi vào truyền thống văn hóa của họ. Nhìn chung họ có 3 lễ hội lớn là Tạ Ơn Thần Lúa, Chuộc Tội và Hòa Giải.
Người Dân tộc tỉa lúa trên nương rẫy, giống lúa dài ngày, một năm một vụ.Năng suất chỉ 1 tấn trên 1 hecta. Năm nào được mùa cũng chỉ 1,2 tấn, năm mất mùa còn 5 - 6 tạ. Dù được hay mất mùa họ đều tạ ơn thần lúa và cầu xin cho năm sau được nhiều thóc gạo hơn, có cái ăn cái để. Họ dựng lên cây nêu, lễ hội giết trâu và cả làng ăn tiệc.
Đối với người Dân Tộc sống vùng cao, băng rừng lội suối, leo núi, làm nương rẫy.Họ khoẻ mạnh,bàn tay chai sần, bàn chân đi rừng không cần giày dép, nước da đen sạm càng tạo cho họ dáng vẻ rắn chắc. Tuy vậy họ cũng nhiễm vi trùng, vi rút, cũng lắm thứ bệnh tật.Đối với họ bị bệnh là do con ma bắt, do một vị thần muốn ăn người đó nên sinh ra bệnh. Các thầy lang, thầy bùa là bác sĩ chữa bá bệnh.Khi gia đình có người đau ốm, họ mời thầy lang đến.Sau một hồi chần đoán, thầy phán :bệnh nhân do con ma bắt, để hết bệnh phải tế trâu. Thầy bảo mấy trâu thì gia đình phải tế đủ lễ. Cây nêu được dựng nên, trâu bị giết, thầy lang cầu xin con ma hay vị thần đừng có ăn người bệnh mà qua ăn trâu. Con trâu tội nghiệp gánh lấy bệnh tật khổ đau của con người.
Sống ở đời ai lại không một lần lầm lỗi với hàng xóm láng giềng. Người Dân Tộc cũng ý thức về lỗi lầm bản thân đã gây ra cho bà con chòm xóm.Bởi vậy trong đời người, thường là khi tuổi đời đã cao, họ dựng cây nêu, giết trâu mời bà con đến ăn tiệc xem như là xin hoà giải với mọi người, mọi lỗi lầm bỏ qua hết cho nhau.Ai đã ăn thịt trâu của gia chủ là chấp nhận xoá hết những xích mích, những oán hờn, những thù hận, tha thứ hết và sống an hoa với nhau. Thường những người có dư tí chút mới tổ chức lễ hoà giải này, nên có người 60 tuổi đã tổ chức, có người đến 80. Có người quá nghèo không có trâu thì sau khi chết con cháu sẽ tế trâu mời làng xóm đến xin hoà giải cho cha hay ông của mình.
Bao thế hệ đã qua đi, người Dân tộc sống với nền văn hóa ấy, cây nêu, tế trâu và ăn tiệc.
Khi các Linh mục được sai đến đây để sống với họ, đem tin mừng Chúa Giêsu cho họ, các nhà truyền giáo đã thao thức phải làm thế nào để họ biết Chúa Giêsu, họ hiểu Chúa Giêsu và tin vào Ngài. Qua thời gian dài cùng sống, tìm hiểu văn hóa của họ và từ đó đã hội nhập văn hóa của họ mà loan báo tin mừng.
Chẳng có thần nào cả, cũng chẳng có thần lúa, thần rừng, thần lửa. Chỉ có Chúa là Đấng ban cho con người tất cả, mưa nắng, nương rẫy mùa màng, sức khỏe, con cái.Chúa dựng nên con người, ban cho con người mọi sinh vật trên mặt đất như là quà tặng, bông hoa cho hương sắc, bầy ông cho mật ngọt, dòng sông cho dòng nước mát, chim chóc muông thú cho con người hưởng dùng Chúa yêu thương con người vô cùng như người cha người mẹ yêu thương, chăm lo cho con cái. Khi bị bệnh chẳng phải do con ma nào bắt cả. Phải khám bệnh, phải uống mới lành bệnh.Các bác sĩ, y sĩ được mời đến giúp khám và chữa bệnh và tập cho họ có thói quen uống thuốc khi mắc bệnh.
Cứ từng bước một các nhà truyền giáo đã nói về Chúa Giêsu, nói về Đạo rất dễ hiểu, rất gần gũi cho họ. Dưới sức mạnh của đặc sủng, với tác động của Chúa Thánh Thần, dần dần người Dân Tộc hiểu và tin vào Đức Giêsu. Họ bỏ hết các hủ tục, các mê tín dị đoan,sống niềm tin rất tinh ròng vào Thiên Chúa.
Các linh mục truyền giáo không phải bắt từng con cá một mà bắt cá bằng lưới.
Đồng bào Dân tộc là đối tượng ưu tiên cho công cuộc truyền giáo.Năm 1927, Đức Cha Jean Cassaigne được cử lên Di linh truyền giáo.Nhờ Ngài mà nhiều người Dân tộc được biết về Chúa, biết về đạo và nhiều người cùi được chăm sóc.Trong thập niên 50,các Cha Dòng Chúa Cứu Thế đặt cơ sở truyền giáo ở Phú Sơn, giúp cho nhiều người Dân tộc vào đạo.Giáo phận Đà lạt có nhiều linh mục làm nhiệm vụ duy nhất là truyền giáo cho người Dân tộc. Rồi các Cha thuộc Hội Thừa sai Paris, các Cha thuộc Tu hội Thánh Vinh Sơn,các linh mục giáo phận, các Nữ tu thuộc nhiều hội dòng dấn thân vào hoạt động này.Lúc giáo phận được thành lập, mới chỉ có 1.547 người Dân tộc theo Đạo Công Giáo.Mười năm sau con số đó lên tới 7.142 người trên tổng số gần 100.000 người Dân tộc.Hiện nay số giáo dân Dân tộc trên dưới 65.000 người trên tổng số khoảng 150.000 người Dân tộc.Công cuộc truyền giáo cho người Dân tộc luôn phát triển, số người vào đạo không ngừng gia tăng. Ngay trong ngày được tấn phong, Đức giám mục đương kim đã nói lên hai mối quan tâm mục vụ ưu tiên của Ngài mà một trong hai là đồng bào Dân tộc.Mối quan tâm ấy đã được thể hiện ngay từ những ngày đầu làm Giám mục, nhất là từ khi lãnh đạo giáo phận,qua những cuộc thăm viếng,những kế hoạch thăng tiến đồng bào Dân tộc cả về tôn giáo lẫn văn hóa,những cuộc hội họp thường xuyên của các linh mục phụ trách,những sự giúp đỡ cụ thể,những vận động để có được giáo sĩ và tu sĩ người dân tộc.
Trong chiều hướng truyền giáo và phát triển văn hóa người dân tộc,có hai công trình rất đặc biệt.Đó là công trình dịch thuật và công trình bảo tồn chứng tích văn minh.Công trình dịch thuật do một số cha phụ trách đồng bào Dân tộc thực hiện như dịch Thánh kinh trọn bộ, dịch kinh lễ và nghi thức bí tích sang tiếng K Ho, biên soạn tự điển, sáng tác thánh ca hát trong phụng vụ.Công trình bảo tồn chứng tích văn minh do chính Đức cha đề xướng như thu góp các dụng cụ sinh hoạt đủ loại, những sách vở và hình ảnh về đồng bào dân tộc,tất cả được sắp xếp thứ tự trong một căn phòng khang trang rộng rãi ở Tòa giám mục.
Cha Phạm Minh Thanh quản xứ Langbiang là người say mê công cuộc truyền giáo cho đồng bào Dân tộc. Ngài luôn ao ước và trăn trở viếng thăm mục vụ anh chị em giáo dân thuộc giáo xứ ở những vùng xa như Đã Tong, Đã Long và Đamron nhưng chưa được phép.
Rời Nhà Thờ, chúng tôi đi thăm các gia đình trong giáo xứ. Họ tiếp đón với tất cả chân tình đơn sơ ấm áp.
Bữa ăn trưa trên nhàsàn thật vui vẻ. Chúng tôi được uống rượu cần, ăn thịt rừng, được thưởng thức những điệu múa những bài ca đặc sản Dân tộc.
Chia tay ra về trong lưu luyến, chúng tôi hứa có dịp sẽ dẫn các hội đoàn giáo xứ mình tham quan giáo xứ Langbiang.
Có một người theo Đạo, đó hạnh phúc của những người truyền giáo.Chúng tôi cầu chúc cho Cha xứ, Cha phó có nhiều hạnh phúc như thế.Mỗi người chúng ta đều có bổn phận gieo hạt giống tin mừng trong môi trường mình đang sống vàluôn luôn xác tín rằng : Tôi trồng, Appolo tưới còn Thiên Chúa cho mọc lên.
30.10.2002