Khoa Học phải phục tùng Thiên Chúa

Cả thể giới mấy ngày nay đang theo dõi tin tức sốt dẻo về phi thuyền Discovery của Mỹ được phóng lên trạm không gian thành công, tuy chỉ có một trục trặc kỹ thuật nhỏ.

Nhìn lại 5 thập niên đã qua, cách nay trên 40 năm, Liên Xô và Mỹ đã đua nhau sáng chế ra các phi thuyền bay lên thám hiểm mặt trăng và các hành tinh khác. Có những phi thuyền đã lên tới nơi, rồi trở về lại trái đất an toàn, thì cũng có những phi thuyền ra đi luôn, không bao giờ trở lại được nữa, do sự tính toán chưa được chính xác của các khoa học gia. Có những phi thuyền trước kia đã đáp xuống được mặt trăng, nhưng không dám cho người cho con người đi theo, mà chỉ cho các người máy Robots hay chở những chú khỉ dại khờ làm phi hành gia bắt buộc, hy sinh làm chốt thí.

Mãi đến khỏang giữa thời kỳ thập niên 60 thì phi thuyền Apollo 11 Lunar của Hoa Kỳ mới dám mạo hiểm đưa con người thực sự tiến vào mặt trăng.

Một bộ phận đầu của phi thuyền Apollo 11 đã tách rời khỏi phần chính của phi thuyền mẹ để đưa hai Phi Hành Gia Neil Armstrong và Buzz Aldrin đáp xuống mặt trăng, Armstrong người đầu tiên đặt chân xuống gặp chị Hằng.

Phần chính còn lại của phi thuyền mẹ do một Phi Hành Gia khác điều khiển, tiếp tục bay vòng quanh (orbit) trong bầu khí quyển cách xa trái đất 80km để chờ đợi.

Ông Neil Armstrong sau khi đáp xuống mặt trăng, đã rời xa khỏi phần đầu (dàn flatform) của phi thuyền cùng với những dụng cụ thám hiểm đặc biệt cần thiết và máy thu hình. Ông xuống khỏi dàn flatform đi bộ, giống như kiểu nhảy tưng tưng trên mặt trăng, tay cầm lá cờ Mỹ đi kiếm chỗ cắm. Hình ảnh đã được thế giới thán phục.

Sau khi cắm cờ, ông vội vàng ngửa mặt lên trời đọc kinh “Lạy Cha” để cảm tạ hồng ân Thiên Chúa đã tạo dựng nên một vũ trụ sinh đẹp, bao la và đầy huyền bí, mà chính mắt ông đã được chứng kiến một cách rõ ràng, rồi ông mới đi lượm những cục đá trên mặt trăng, tổng cộng nặng 200kg đem về trái đất thí nghiệm.

Khi đã thu lượm đươc tất cả các vật liệu mà trung tâm NASA cần đến. Neil Armstrong và bạn đồng hành Buzz Aldrin đã trở lại dàn đầu của phi thuyền, rồi bay ngược trở về bầu khí quyển để kịp ráp vào phần chính của phi thuyền mẹ Apollo 11 đang bay vòng vòng chờ đợi, cho đúng thời điểm chính xác để trở về trái đất với gia đình.

Chúng ta hãy thử đặt ra một giả thuyết: "Nếu có một sự tính toán sai xót nhỏ của các khoa học gia. Chiếc đầu của phi thuyền chở Neil Armstrong và Buzz Aldrin khi lộn lại tầng khí quyển, mà không bắt gặp phi thuyền mẹ, để ráp lại cùng bay về trái đất, thì số phận của Neil Armstrong và Aldrin sẽ đi về đâu? Chắc chắn số phận của 2 Phi Hành Gia này sẽ vĩnh viễn ở trên không trung cho đến ngày tận thế, giống như 3 chú khỉ bay những phi thuyền trước họ."

Sau khi trở về trái đất an toàn, với cuộc sống bình thường, Neil Armstrong đã có một đức tin vững mạnh và trở thành một người đạo đức gương mẫu. Trong mỗi bữa ăn, Ông đã cùng với mọi người trong gia đình nắm tay nhau, dơ lên cao đọc kinh cầu nguyện trước khi ăn. Ông đã đi rao giảng Tin Mừng một cách thông thạo và hăng say, mặc dù ông chỉ là một tín hữu giáo phái Tin Lành.

Chúng ta thấy, con người dù đã thành công đến mức tột đỉnh, nhưng quyền năng của Thiên Chúa vẫn là cái đích để cậy trông. Mọi công việc của chúng ta đang làm, cho dù có đi tới mức thành đạt tới đâu chăng nữa, cũng là do Thiên Phú, chứ sức lực và trí thông minh của con người vẫn không thể quyết đoán được sự thành công ở tương lai:

Mưu sự tại nhân mà thành sự tại Thiên


Tạo hóa đã dựng nên vũ trụ bao la, tiềm năng của nhân loại không thể chinh phục hết được tất cả. Có mặt trời và mặt trăng, trái đất mới có ánh sáng và các vì sao để hướng dẫn chúng ta đi. Nguyên liệu từ lòng đất để chế tạo ra ánh sáng mà chúng ta đang xử dụng. Ai đã tạo dựng nên? Nếu không có những giữ kiện đó, thì trái đất sẽ tối đen như mực. Chẳng một ai có thể nhìn thấy nhau. Con người không thể tạo ra ánh sáng để chiếu sáng toàn cõi trái đất.

Do đó: Khoa học có thành công tới mức độ nào đi chăng nữa, thì cũng phải phục tùng Thiên Chúa, đấng đã tạo dựng nên vũ trụ, như Phi Hành Gia Neil Armstrong đã xác tín.