Từ Gương Sáng Thánh Nhân (bài 2).
Ngày còn ở bậc trung học, tôi rất ghét những giờ triết. Vì có chút năng khiếu về sinh ngữ nên tôi chọn ban C, với môn triết chỉ nặng thứ nhì sau ban D. Đối với tôi, sao triết học khó nhai thế, khi thì nặng nề khó hiểu, khi thì chỉ gồm những câu mà tôi cho rằng lẩm cẩm, đại khái như “A giống B; C cũng giống B; vậy A và C giống nhau’, hoặc ‘Mọi người đều phải chết; bạn cũng là người nên bạn cũng phải chết’. Ai chẳng biết vậy. Ấy vậy mà các thầy tán rộng ra hằng giờ; thầy nào tán hay thì đỡ buồn ngủ; thầy nào tán không hay thì thật là tội nghiệp cho học trò chúng tôi. Cũng do ghét môn triết, tôi càng dở về môn này và nếu không có những môn khác bù vào, chắc tôi đã không qua khỏi kỳ thi tốt nghiệp bậc trung học.
Thế nhưng nhiều chục năm sau, khi nghe được lời dạy của ĐGH Gioan Phaolô II ‘The worst prison is a closed heart” mà tôi xin dịch là ‘Nhà tù tệ nhất là trái tim kép kín’, tôi cảm thấy đây chính là thứ triết thực dụng và chính xác nhất, đơn giản và dễ hiểu, cũng như có giá trị nhất, giá trị cả về không gian lẫn thời gian. Tôi muốn nói ‘giá trị cả về không gian lẫn thời gian’ vì có những thứ triết học chỉ đúng ‘ở bên này trái núi’ nhưng ở bên kia núi thì không đúng, hoặc khi thời gian qua đi nó không còn giữ nguyên giá trị của nó nữa.
ĐGH Gioan Phaolô II là bậc thánh nhân, và tôi tin rằng Ngài chẳng cần phải dùng đến một thứ triết học nào cả khi Ngài nói câu này. Chỉ cần 9 chữ riêng biệt, đơn giản, mà chúng ta thường dùng hằng ngày, vậy mà chúng ta không biết ghép chúng lại thành một câu đầy tình người, giàu tình đời như vậy. Phải chờ đến ĐGH Gioan Phaolô II, với trái tim rộng mở của Ngài, chúng ta mới được nghe câu nói trên, một câu nói có tính hướng dẫn cuộc sống cho những người có thiện tâm, cho mọi thời đại.
Qua lễ tang của ĐGH Gioan Phaolô II, chúng ta có thể thấy rằng thế giới đã đến với Ngài, nhưng thế giới đã thấm những lời Ngài dạy như thế nào, đã thay đổi như thế nào thì tôi không dám lạm bàn ở đây. Điều mà tôi muốn trình bày là những suy tư, cũng như những u uẩn trong tôi, khi tự đặt câu hỏi là chúng ta thương khóc Ngài, nhưng chúng ta đã mở trái tim chúng ta đến mức nào?
Trước hết, tôi xin được trình bày rằng khi biết tôi ‘cũng viết lách’, một số bạn bè tôi thường có ý kiến rằng “Cuộc sống có nhiều vấn đề, ở đâu cũng vậy, thời nào cũng vậy, và ở mọi lãnh vực, kể cả tôn giáo. Ai cũng biết vậy. Viết lách, phát biểu thì vấn đề vẫn sẽ còn đó, chẳng thay đổi được gì”. Tôi nghĩ rằng ý kiến trên không hoàn toàn đúng, và có tính bi quan, mặc dù tính bi quan này cũng có lý do của nó. Tôi nhớ trong môt buổi lễ Chúa nhật, tôi cũng được nghe một vị Linh mục giảng đại ý nếu chúng ta không thực tâm muốn sửa đổi cái không tốt thì nó ‘vũ như cẩn’. Nhiều người cuời. Tôi chưa hiểu thì người bạn bên cạnh giúp tôi : “Ngài nói lái đấy ông ạ”. Thực vậy, chỉ nói xuông, với những phát biểu đao to búa lớn, hoặc chỉ ậm ừ cho qua chuyện, thì mọi vấn đề, mọi cái không mấy tốt sẽ ‘vẫn như cũ’.
Tôi tin rằng nếu chúng ta noi gương ĐGH Gioan Phaolô II, phát biểu với tính xây dựng, với cánh cửa lòng mở rộng, thì nhiều hay ít, trước hay sau, vẫn đề sẽ được cải thiện, sẽ được sửa đổi, những gương không mấy sáng sẽ được sáng trở lại. Tôi cũng tin rằng những gương không mấy sáng chỉ có tính cá biệt, lẻ loi, trong khi những gương sáng thì nhiều, rất nhiều, mà chúng ta ít biết đến. Nơi đây, tôi xin trình bày những tấm gương sáng, thật sáng, mà tôi được nghe, được thấy. Đó là những hy sinh, những chịu đựng khó khăn, nếu không muốn nói là gian khổ, của các đấng chăn chiên trong nước, nhất là ở những Giáo phận nghèo. Khi tôi nói ‘những Giáo phận nghèo’ là tôi suy diễn; thực ra tôi chỉ mới có dịp tìm hiểu về một Giáo phận mà thôi, và từ đó tôi nghĩ rằng có không ít những Giáo phận nghèo như vậy tại Miền Bắc VN.
Trong dịp về Việt Nam vừa qua, tôi có ghé thăm Thanh Hóa, quê tôi, và đương nhiên tôi có ghé thăm một vài vị linh mục thuộc Giáo phận TH. Tiện thể, tôi cũng đưa quà của một người bạn tôi cho một vị linh mục, bạn của bạn tôi từ thưở nhỏ. Lúc này Đức Cha Nguyễn Sơn Lâm mới qua đời và Giáo phận cũng chưa có Giám mục mới. Qua trò truyện với các vị linh mục, tôi được biết Giáo phận TH rất nghèo, không có tài sản gì hết, sinh hoạt hằng ngày của các Cha phần lớn dựa vào tiền xin lễ của giáo dân. Khi tôi hỏi các ngài về số tiền xin lễ, các ngài có vẻ đắn đo rồi tâm sự. Nơi đây tôi xin các ngài tha lỗi vì có thể đây là vấn đề không nên, hoặc không được phép nói ra. Thế nhưng nếu không nói ra thì làm sao ai biết được những sinh hoạt đích thực của các ngài để có thể giúp các ngài ít nhiều trong cuộc sống hằng ngày, cho chính bản thân các ngài, cũng như cho các giáo xứ nghèo mà các ngài đang đảm nhiệm.
Niềm u uẩn của tôi nơi đây, trước hết, là sinh hoạt vật chất của các đấng chăn chiên tại Giáo phận nghèo Thanh Hóa. Khi được biết rằng tiền xin lễ của giáo dân là vài ba chục một lễ, tôi lại liên tưởng tới vài ba chục đô la, nhưng đương nhiên là không phải vậy, vài ba chục ngàn tiền VN chỉ tương đương với trên một đô la hay dưới hai đô la. Nếu mỗi ngày một vị linh mục được xin một lễ thì ngài có thể đủ ăn trong ngày. Tôi nói đủ ăn vì tôi căn cứ vào tin tức báo chí, trong cũng như ngoài nước, viết rằng nhiều du khách đến Việt Nam theo diện ‘Tây ba lô’, nghĩa là họ thường mặc quần xọoc, áo sơ mi ngắn tay, với chiếc ba lô trên vai, và đi dép, hay đi săng-đan, rảo bộ khắp các đường phố, khi đói thì ăn cơm đĩa ngay lề đường phố với giá tám ngàn đồng một bữa. Vậy nếu một linh mục được xin một lễ một ngày thì với từ hai chục đến ba chục ngàn tiền VN, ngài có thể giải quyết được vấn đề bao tử. Thế nhưng các ngài có được xin mỗi ngày một lễ hay không? Thế còn những chi phí cho sinh hoạt của giáo xứ như tiền điện nước, tiền bảo trì cơ sở vật chất... ? Một vị lại vừa cười vừa bảo tôi rằng có giáo dân xin bốn hay năm lễ chỉ với mười ngàn đồng, có nghĩa là khoảng 60 xu tiền Mỹ. Quả thực tôi muốn cười ra nước mắt, giáo dân nghèo mà, bao nhiêu thì các vị cũng làm lễ thôi.
Tôi cũng muốn trình bày nơi đây, có thể là trường hợp cá biệt, rằng khi Đức Cha Nguyễn Sơn Lâm còn sống, Ngài phụ thêm cho các linh mục khi các vị có khó khăn. Vậy Đức Cha Lâm kiếm đâu ra tiền nếu không phải rằng bằng cách nào đó Ngài nhận được ‘yểm trợ’ từ các giáo dân ở nước ngoài, hay từ Toà Thánh Vatican? Trường hợp này có phổ biến không? Mọi linh mục ở các Giáo phận nghèo Miền Bắc có được hưởng như vậy không? Tôi không thể khẳng định vì sự tiếp xúc của tôi chỉ giới hạn ở Giáo phận Thanh Hóa.
Nói đến sự chịu đựng, hy sinh của các đấng chăn chiên trong nước, tôi xin thú thực rằng tôi phải rất kính phục các ngài, cũng như cảm thấy buồn khi tự xét xem mình đã làm được gì. Và đây cũng chỉ là những khó khăn về vật chất, ngoài những khó khăn khác, mà chỉ có sự thương yêu Thiên Chúa, cũng như quyết tâm cao, các vị mới có thể đứng vững như ngày hôm nay.
Trong dân gian Việt chúng ta có câu “Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại”, và đa số dân gian làm như vậy. Thế nhưng hồi nhỏ tôi lại được các Cha, các thầy dạy rằng phải đưa cái xấu ra để được giúp đỡ sửa chữa, và phải dấu cái tốt đi vì khoe cái tốt là lỗi đức khiêm nhường. Tôi tin rằng trong cuộc sống đạo nói chung, có rất nhiều gương ‘dấu cái tốt’ vì những người, những vị làm điều tốt ấy không những cho rằng sẽ lỗi đức khiêm nhường mà còn cho rằng đó chỉ là bổn phận; ở các đấng chăn chiên thì điều này rõ nét nhất vì các ngài đã tuyên hứa trước Thiên Chúa là sẽ phục vụ đàn chiên Chúa, và các vị phải làm mọi điều tốt để phục vụ tốt, để làm trọn lời tuyên hứa, chẳng có gì để mà ‘khoe ra’ cả.
Tôi đã xin một vị linh mục thuộc Giáo phận Thanh Hóa cho phép tôi trình bày về những khó khăn, những chịu đựng, hy sinh của ngài, cũng như những sáng kiến của ngài trong công việc chăn dắt đàn chiên Chúa, nhưng ngài không chấp thuận vì sợ lỗi đức khiêm nhường. Ngài cười nói: “Đó chỉ là bổn phận”.
Tôi tin rằng những gương sáng này rất phổ biến và có ở khắp mọi nơi, nhất là ở những nơi còn nhiều khó khăn về nhiều mặt.
Lạy Chúa! Xin Chúa đổ tràn đầy ơn quan phòng để Giáo hội Chúa thoát khỏi những xáo trộn nhất thời, và được tiếp tục phát triển với những gương sáng của con cái Chúa trên khắp trái đất này.
Ngày còn ở bậc trung học, tôi rất ghét những giờ triết. Vì có chút năng khiếu về sinh ngữ nên tôi chọn ban C, với môn triết chỉ nặng thứ nhì sau ban D. Đối với tôi, sao triết học khó nhai thế, khi thì nặng nề khó hiểu, khi thì chỉ gồm những câu mà tôi cho rằng lẩm cẩm, đại khái như “A giống B; C cũng giống B; vậy A và C giống nhau’, hoặc ‘Mọi người đều phải chết; bạn cũng là người nên bạn cũng phải chết’. Ai chẳng biết vậy. Ấy vậy mà các thầy tán rộng ra hằng giờ; thầy nào tán hay thì đỡ buồn ngủ; thầy nào tán không hay thì thật là tội nghiệp cho học trò chúng tôi. Cũng do ghét môn triết, tôi càng dở về môn này và nếu không có những môn khác bù vào, chắc tôi đã không qua khỏi kỳ thi tốt nghiệp bậc trung học.
Thế nhưng nhiều chục năm sau, khi nghe được lời dạy của ĐGH Gioan Phaolô II ‘The worst prison is a closed heart” mà tôi xin dịch là ‘Nhà tù tệ nhất là trái tim kép kín’, tôi cảm thấy đây chính là thứ triết thực dụng và chính xác nhất, đơn giản và dễ hiểu, cũng như có giá trị nhất, giá trị cả về không gian lẫn thời gian. Tôi muốn nói ‘giá trị cả về không gian lẫn thời gian’ vì có những thứ triết học chỉ đúng ‘ở bên này trái núi’ nhưng ở bên kia núi thì không đúng, hoặc khi thời gian qua đi nó không còn giữ nguyên giá trị của nó nữa.
ĐGH Gioan Phaolô II là bậc thánh nhân, và tôi tin rằng Ngài chẳng cần phải dùng đến một thứ triết học nào cả khi Ngài nói câu này. Chỉ cần 9 chữ riêng biệt, đơn giản, mà chúng ta thường dùng hằng ngày, vậy mà chúng ta không biết ghép chúng lại thành một câu đầy tình người, giàu tình đời như vậy. Phải chờ đến ĐGH Gioan Phaolô II, với trái tim rộng mở của Ngài, chúng ta mới được nghe câu nói trên, một câu nói có tính hướng dẫn cuộc sống cho những người có thiện tâm, cho mọi thời đại.
Qua lễ tang của ĐGH Gioan Phaolô II, chúng ta có thể thấy rằng thế giới đã đến với Ngài, nhưng thế giới đã thấm những lời Ngài dạy như thế nào, đã thay đổi như thế nào thì tôi không dám lạm bàn ở đây. Điều mà tôi muốn trình bày là những suy tư, cũng như những u uẩn trong tôi, khi tự đặt câu hỏi là chúng ta thương khóc Ngài, nhưng chúng ta đã mở trái tim chúng ta đến mức nào?
Trước hết, tôi xin được trình bày rằng khi biết tôi ‘cũng viết lách’, một số bạn bè tôi thường có ý kiến rằng “Cuộc sống có nhiều vấn đề, ở đâu cũng vậy, thời nào cũng vậy, và ở mọi lãnh vực, kể cả tôn giáo. Ai cũng biết vậy. Viết lách, phát biểu thì vấn đề vẫn sẽ còn đó, chẳng thay đổi được gì”. Tôi nghĩ rằng ý kiến trên không hoàn toàn đúng, và có tính bi quan, mặc dù tính bi quan này cũng có lý do của nó. Tôi nhớ trong môt buổi lễ Chúa nhật, tôi cũng được nghe một vị Linh mục giảng đại ý nếu chúng ta không thực tâm muốn sửa đổi cái không tốt thì nó ‘vũ như cẩn’. Nhiều người cuời. Tôi chưa hiểu thì người bạn bên cạnh giúp tôi : “Ngài nói lái đấy ông ạ”. Thực vậy, chỉ nói xuông, với những phát biểu đao to búa lớn, hoặc chỉ ậm ừ cho qua chuyện, thì mọi vấn đề, mọi cái không mấy tốt sẽ ‘vẫn như cũ’.
Tôi tin rằng nếu chúng ta noi gương ĐGH Gioan Phaolô II, phát biểu với tính xây dựng, với cánh cửa lòng mở rộng, thì nhiều hay ít, trước hay sau, vẫn đề sẽ được cải thiện, sẽ được sửa đổi, những gương không mấy sáng sẽ được sáng trở lại. Tôi cũng tin rằng những gương không mấy sáng chỉ có tính cá biệt, lẻ loi, trong khi những gương sáng thì nhiều, rất nhiều, mà chúng ta ít biết đến. Nơi đây, tôi xin trình bày những tấm gương sáng, thật sáng, mà tôi được nghe, được thấy. Đó là những hy sinh, những chịu đựng khó khăn, nếu không muốn nói là gian khổ, của các đấng chăn chiên trong nước, nhất là ở những Giáo phận nghèo. Khi tôi nói ‘những Giáo phận nghèo’ là tôi suy diễn; thực ra tôi chỉ mới có dịp tìm hiểu về một Giáo phận mà thôi, và từ đó tôi nghĩ rằng có không ít những Giáo phận nghèo như vậy tại Miền Bắc VN.
Trong dịp về Việt Nam vừa qua, tôi có ghé thăm Thanh Hóa, quê tôi, và đương nhiên tôi có ghé thăm một vài vị linh mục thuộc Giáo phận TH. Tiện thể, tôi cũng đưa quà của một người bạn tôi cho một vị linh mục, bạn của bạn tôi từ thưở nhỏ. Lúc này Đức Cha Nguyễn Sơn Lâm mới qua đời và Giáo phận cũng chưa có Giám mục mới. Qua trò truyện với các vị linh mục, tôi được biết Giáo phận TH rất nghèo, không có tài sản gì hết, sinh hoạt hằng ngày của các Cha phần lớn dựa vào tiền xin lễ của giáo dân. Khi tôi hỏi các ngài về số tiền xin lễ, các ngài có vẻ đắn đo rồi tâm sự. Nơi đây tôi xin các ngài tha lỗi vì có thể đây là vấn đề không nên, hoặc không được phép nói ra. Thế nhưng nếu không nói ra thì làm sao ai biết được những sinh hoạt đích thực của các ngài để có thể giúp các ngài ít nhiều trong cuộc sống hằng ngày, cho chính bản thân các ngài, cũng như cho các giáo xứ nghèo mà các ngài đang đảm nhiệm.
Niềm u uẩn của tôi nơi đây, trước hết, là sinh hoạt vật chất của các đấng chăn chiên tại Giáo phận nghèo Thanh Hóa. Khi được biết rằng tiền xin lễ của giáo dân là vài ba chục một lễ, tôi lại liên tưởng tới vài ba chục đô la, nhưng đương nhiên là không phải vậy, vài ba chục ngàn tiền VN chỉ tương đương với trên một đô la hay dưới hai đô la. Nếu mỗi ngày một vị linh mục được xin một lễ thì ngài có thể đủ ăn trong ngày. Tôi nói đủ ăn vì tôi căn cứ vào tin tức báo chí, trong cũng như ngoài nước, viết rằng nhiều du khách đến Việt Nam theo diện ‘Tây ba lô’, nghĩa là họ thường mặc quần xọoc, áo sơ mi ngắn tay, với chiếc ba lô trên vai, và đi dép, hay đi săng-đan, rảo bộ khắp các đường phố, khi đói thì ăn cơm đĩa ngay lề đường phố với giá tám ngàn đồng một bữa. Vậy nếu một linh mục được xin một lễ một ngày thì với từ hai chục đến ba chục ngàn tiền VN, ngài có thể giải quyết được vấn đề bao tử. Thế nhưng các ngài có được xin mỗi ngày một lễ hay không? Thế còn những chi phí cho sinh hoạt của giáo xứ như tiền điện nước, tiền bảo trì cơ sở vật chất... ? Một vị lại vừa cười vừa bảo tôi rằng có giáo dân xin bốn hay năm lễ chỉ với mười ngàn đồng, có nghĩa là khoảng 60 xu tiền Mỹ. Quả thực tôi muốn cười ra nước mắt, giáo dân nghèo mà, bao nhiêu thì các vị cũng làm lễ thôi.
Tôi cũng muốn trình bày nơi đây, có thể là trường hợp cá biệt, rằng khi Đức Cha Nguyễn Sơn Lâm còn sống, Ngài phụ thêm cho các linh mục khi các vị có khó khăn. Vậy Đức Cha Lâm kiếm đâu ra tiền nếu không phải rằng bằng cách nào đó Ngài nhận được ‘yểm trợ’ từ các giáo dân ở nước ngoài, hay từ Toà Thánh Vatican? Trường hợp này có phổ biến không? Mọi linh mục ở các Giáo phận nghèo Miền Bắc có được hưởng như vậy không? Tôi không thể khẳng định vì sự tiếp xúc của tôi chỉ giới hạn ở Giáo phận Thanh Hóa.
Nói đến sự chịu đựng, hy sinh của các đấng chăn chiên trong nước, tôi xin thú thực rằng tôi phải rất kính phục các ngài, cũng như cảm thấy buồn khi tự xét xem mình đã làm được gì. Và đây cũng chỉ là những khó khăn về vật chất, ngoài những khó khăn khác, mà chỉ có sự thương yêu Thiên Chúa, cũng như quyết tâm cao, các vị mới có thể đứng vững như ngày hôm nay.
Trong dân gian Việt chúng ta có câu “Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại”, và đa số dân gian làm như vậy. Thế nhưng hồi nhỏ tôi lại được các Cha, các thầy dạy rằng phải đưa cái xấu ra để được giúp đỡ sửa chữa, và phải dấu cái tốt đi vì khoe cái tốt là lỗi đức khiêm nhường. Tôi tin rằng trong cuộc sống đạo nói chung, có rất nhiều gương ‘dấu cái tốt’ vì những người, những vị làm điều tốt ấy không những cho rằng sẽ lỗi đức khiêm nhường mà còn cho rằng đó chỉ là bổn phận; ở các đấng chăn chiên thì điều này rõ nét nhất vì các ngài đã tuyên hứa trước Thiên Chúa là sẽ phục vụ đàn chiên Chúa, và các vị phải làm mọi điều tốt để phục vụ tốt, để làm trọn lời tuyên hứa, chẳng có gì để mà ‘khoe ra’ cả.
Tôi đã xin một vị linh mục thuộc Giáo phận Thanh Hóa cho phép tôi trình bày về những khó khăn, những chịu đựng, hy sinh của ngài, cũng như những sáng kiến của ngài trong công việc chăn dắt đàn chiên Chúa, nhưng ngài không chấp thuận vì sợ lỗi đức khiêm nhường. Ngài cười nói: “Đó chỉ là bổn phận”.
Tôi tin rằng những gương sáng này rất phổ biến và có ở khắp mọi nơi, nhất là ở những nơi còn nhiều khó khăn về nhiều mặt.
Lạy Chúa! Xin Chúa đổ tràn đầy ơn quan phòng để Giáo hội Chúa thoát khỏi những xáo trộn nhất thời, và được tiếp tục phát triển với những gương sáng của con cái Chúa trên khắp trái đất này.