Thánh Cyril ở Alexandria là một người thông thái xuất chúng, một trong những vị Tiến sĩ thời danh của Giáo Hội vào thế kỷ thứ V. Ngài là một người đầy nhiệt huyết hăng say bênh vực sự thật và luôn tôn trọng những đối thủ tranh luận về các vấn đề thần học.
Ngài là thượng phụ thành Alexandria ở Ai cập, ngài đã chống đối kịch liệt Nestorius, thượng phụ thành Constantinople. Họ tranh cải về Kitô học thuyết nhưng giới hạn về những điểm dị đồng của hai Giáo Hội Đông phương.
Nestorius nhận định là trong Chúa Kitô có hai bản thể riêng biệt, bản tính Thiên Chúa và bản tính người, như vậy Đức Bà Maria chỉ là Mẹ của Chúa Kitô về bản tính người. Thánh Cyril đã dùng mọi hùng biện quả quyết là trong Chúa Kitô có hai bản tính Thiên Chúa và người kết hợp mật thiết và Đức Bà Maria chính thật là “Mẹ Thiên Chúa” (Theotokos), Mẹ của Chúa Giêsu Kitô, Mẹ của Thiên Chúa làm người.
Mặc dù trước đó bị truất phế nhưng thánh Cyril vẫn được mời vào Công Đồng Ephêsê năm 431 và đã mang theo xác tín là “Maria là Mẹ Thiên Chúa” để chứng minh sự hợp nhất trong bản tính của Chúa Giêsu Kitô.
Thánh Cyril ở Alexandria được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tuyên xưng là Tiến sĩ của Giáo Hội vào năm 1882.
Ngài là thượng phụ thành Alexandria ở Ai cập, ngài đã chống đối kịch liệt Nestorius, thượng phụ thành Constantinople. Họ tranh cải về Kitô học thuyết nhưng giới hạn về những điểm dị đồng của hai Giáo Hội Đông phương.
Nestorius nhận định là trong Chúa Kitô có hai bản thể riêng biệt, bản tính Thiên Chúa và bản tính người, như vậy Đức Bà Maria chỉ là Mẹ của Chúa Kitô về bản tính người. Thánh Cyril đã dùng mọi hùng biện quả quyết là trong Chúa Kitô có hai bản tính Thiên Chúa và người kết hợp mật thiết và Đức Bà Maria chính thật là “Mẹ Thiên Chúa” (Theotokos), Mẹ của Chúa Giêsu Kitô, Mẹ của Thiên Chúa làm người.
Mặc dù trước đó bị truất phế nhưng thánh Cyril vẫn được mời vào Công Đồng Ephêsê năm 431 và đã mang theo xác tín là “Maria là Mẹ Thiên Chúa” để chứng minh sự hợp nhất trong bản tính của Chúa Giêsu Kitô.
Thánh Cyril ở Alexandria được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tuyên xưng là Tiến sĩ của Giáo Hội vào năm 1882.