CHÚA NHẬT 11 THƯỜNG NIÊN A

LỆNH TRUYỀN KHẨN THIẾT

Thưa quý vị,

Lúc 16 tuổi, tôi không biết mình cận thị. Một giáo viên cứ thấy tôi nheo mắt nhìn bảng đen, ông đề nghị tôi đi khám ở một bệnh viện gần đấy. Tôi làm theo và hởi ơi quả là một khai sáng khi người y sĩ lựa chọn cho được một cặp kính vừa mắt. Tôi có thể nhìn rõ những chữ nổi lên từ khoảng cách trước kia là những nét mờ mịt. Xin cảm ơn vị giáo viên tốt bụng đã khám phá ra bệnh của tôi và đề nghị đi thử mắt. Cám ơn ông vì tôi được nhìn rõ những nét mà tôi phải bỏ qua vì mắt kém. Đây chỉ là vài hàng khai mào cho Tin mừng hôm nay. Xin lưu ý đoạn đầu : “Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt”. Rõ ràng Chúa Giê-su không kém mắt. Ngài nhìn rõ những nhu cầu của đám đông mà quyền bính tôn giáo lúc ấy không thấy. Ngày nay chúng ta cũng vậy chỉ nhìn những gì mình ưa : tiền tài, danh vọng, xác thịt, còn các nhu cầu khác của giáo dân phần lớn không thấy. Chẳng hiểu chúng ta có cận thị không ? Phần Chúa Giê-su, Ngài không những động lòng về dáng dấp nghèo nàn bên ngoài : quần áo tả tơi, bệnh tật đầy mình, thiếu thốn cơm ăn. Ngài còn nhìn ra những hoàn cảnh tồi tệ luân lý như đĩ điếm, ngoài lề, di dân, hành khất lang thang. Ngài truyền cho các môn đệ mời mọc họ vào nhà Thiên Chúa bởi những người này cũng là con cái Thiên Chúa. Chúng ta có bổn phận tìm kiếm họ và sắp đặt bàn tịêc cho họ. Chúa Giê-su có tầm nhìn mà chúng ta lãng quên. Nếu chúng ta muốn trở nên cộng tác viên thành thật của Chúa, thì phải để Ngài mở mắt cho.

Cứ theo nguyên ngữ Hy lạp thì Chúa Giê-su còn sâu sắc hơn nhiều, không những Ngài thấy đám đông thì chạnh lòng thương, mà “lòng thương” của Ngài cụ thể hơn từ ngữ chúng ta dùng. Tiếng Hy lạp là splanchnizien, chỉ cái bụng dạ con người. Chúng ta có thể dịch nguyên văn : Chúa Giê-su cảm thương đám đông bằng lòng dạ của mình. Đó là một thứ tình cảm nhanh chóng, tự phát, không cần đắn đo suy nghĩ. Nó cho thấy Ngài thương xót họ theo bản năng trực giác, thấy là thương vì họ khốn khổ. Như vậy, Ngài không thấy bằng mắt mà thôi nhưng bằng cả con người của mình. Ngài mô tả họ như đàn chiên không người chăn. Một lối mô tả đầy chất thơ về những con người thất lạc, bối rối và dễ bị tổn thương. Đối với người Do thái, lối tả chân này có ý nghĩa tôn giáo. Nó gợi nhớ Kinh thánh. Khi tuyển dân không có chủ chăn tốt hay chủ chăn thoái hoá, thì sách Ezechiel viết : “Chiên đau yếu các ngươi không làm cho mạnh, chiên bệnh tật các ngươi không chữa cho lành, chiên đi lạc các ngươi không đưa về, chiên bị mất các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc.”(34, 4) Sau đó, Chúa ban lời hứa sẽ cứu chữa chúng và cho chúng một mục tử tốt lành như lòng mong ước. Sự thương cảm của Thiên Chúa trong sách Ezechiel hôm nay được thể hiện nơi Chúa Giê-su. Phúc âm nói rõ : “Chúa Giê-su trông thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt.” Chúa Giê-su đúng là mục tử được Thiên Chúa sai đến chăn dắt loài người lạc lõng và khốn đốn. Thiên Chúa đã làm tròn lời hứa, ban cho nhân loại mục tử tốt lành.

Về phần các môn đệ, họ đã thấy chi khi có đám đông trước mắt ? Một nhu cầu khổng lồ không thể đáp ứng : người thì đau yếu, người khác nghèo khổ, thất nghiệp, bơ vơ, dốt nát, mù chữ, không biết tôn giáo, lề luật, thói xấu xã hội, đĩ điếm, trộm cắp, lừa đảo, lường gạt, đủ mọi bất hạnh trên đời. Nuôi nấng giáo dục họ cho nên người có nhân phẩm, thì thật là một công tác không ai gánh vác nổi, kể cả các chính phủ, hay quyền bính đạo đời. Ngày nay chúng ta cũng đang ở hoàn cảnh này. Giáo hội đã, đang và sẽ gồng mình chịu đựng với bao nhiêu tổ chức từ thiện, nhưng cũng chỉ làm được phần rất nhỏ, hầu như chưa có chi trước nhu cầu. Tuy nhiên, Chúa Giê-su nhìn ra hết và còn cả những phương tiện để chữa lành. Ngài nói : “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.” Lúc ấy trong đền thờ không thiếu thợ gặt được phong chức hẳn hoi. Cả một hàng tư tế đông đảo, rồi trong nhân dân, tầng lớp Biệt phái kể có tới hàng ngàn hàng vạn. Vậy mà Chúa Giê-su vẫn nói với các môn đệ cầu nguyện xin Thiên Chúa cho thêm thợ gặt, vì còn thiếu. Chẳng lẽ các pharisêu, tư tế không phải là thợ gặt sao ? Phúc âm kể tiếp : “Đức Giê-su gọi 12 môn đệ lại, ban cho các ông quyền trên thần ô uế, để các ông trừ khử chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.” (10, 1) Như vậy, hàng tư tế cũ đã bị loại bỏ. Thiên Chúa thiết lập các cộng sự viên mới. Họ là những tông đồ hay kẻ được sai đi rao giảng, làm chứng và chữa lành như Chúa Giê-su.

Chúng ta có thể nhìn câu chuyện ở một góc độ khác. Thiên Chúa mặc thân xác loài người, chịu đựng những giới hạn của loài người. Ngài cảm thấy bị áp đảo trước công việc khổng lồ, trái tim tràn ngập tình thương xót dân cùng khổ. Ngài muốn quyền năng Nước trời được tức khắc thiết lập trên dân chúng nghèo khổ, cho nên đã ban quyền cho các ông khu trừ quỷ dữ, chữa các bệnh tật. Ngài không đòi hỏi những điều kiện tiên quyết để ban phát Nước trời. Thí dụ, các ông phải coi xem họ có đủ tuổi tác, quốc tịnh, giai cấp, học thức,.. . để chữa lành và thâu nhận vào Nước Thiên Chúa. Chuyện các ông phải nhìn ra là nhu cầu chứ không phải loại người nào. Ngày nay, chúng ta cần suy gẫm kỹ bài Phúc âm hôm nay để biết đường tránh xa thái độ độc tài, đặt ra những tiêu chuẩn nọ kia, rồi bắt thiên hạ rập theo, nếu không, từ chối ban bí tích cho họ, nhiều vị còn bảo hoàng hơn vua, vượt lên trên cả giáo luật. Ngày xưa, vua Louis 14 của nước Pháp nói một câu danh tiếng cả thế giới khiếp sợ : “La loi c’est moi = luật pháp là tôi”. Câu này ngày nay vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, tuy hoàn cảnh khác đi nhiều. Chúa Giê-su không bắt buộc các môn đệ phải lượng giá trước những kẻ “xứng đáng” để giúp đỡ, trái lại, nếu có nhu cầu thì Ngài chạnh lòng thương. Trong Phúc âm thánh Gioan chương 13, Chúa truyền cho những ai ăn uống đồng bàn với Ngài phải nên như đầy tớ cho kẻ khác : “Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”(c. 14). Chúa Giê-su cũng nói tương tự ở đây nhưng dưới hình thức khác : “Anh em hãy chữa lành cho người đau yếu, làm cho kẻ chết chỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ.”(c. 8) Nghĩa là hãy đến với những ai có nhu cầu và chăm sóc họ. Bằng hành động, hãy nói cho họ hay Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự lành mà họ đang được hưởng. Ngôn ngữ của Chúa Giê-su trong Tin mừng có khác, nhưng nội dunglà một : “Dọc đường hãy rao giảng rằng : Nứơc trời đã gần đến.”

Câu hỏi ra là nhóm môn đệ vừa mới được thâu gom, không chuyên môn thì làm thế nào chăm sóc chu đáo cho đám đông bơ vơ, vất vưởng ? Câu trả lời hiển nhiên là họ phải cậy nhờ vào Chúa ban tài năng và sức mạnh, họ không thể tự thân làm được công tác khó khăn này. Hơn nữa, họ phải quan sát hành vi của Chúa cho đến lúc ấy. Ngài đã đối xử ra sao với đám dân lầm than ? Ngài chạnh lòng thương họ như bầy chiên không người chăn dắt. Các môn đệ sẽ được Chúa ban tài năng nhìn rõ những nhu cầu thể xác, phần hồn của đám đông, như tôi được khai sáng sau khi có đôi kính cận. Ngoài ra, đây là điều hết sức quan trọng, họ phải cầu nguyện chủ ruộng ban những thợ gặt mới nhiều khả năng và đạo đức. Nghĩa là họ hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa, tin tưởng Ngài trợ giúp tương lai, không kiêu căng tự mình hoàn thành sứ vụ. Chẳng may điều này là não trạng phổ thông của rất nhiều thợ gặt tân thời. Họ lên kế hoạch, thi hành chương trình không cần Thiên Chúa trợ giúp, khi thất bại họ tìm cách đổ lỗi cho Thiên Chúa. Chúa Giê-su dạy các môn đệ phải cậy nhờ vào Thiên Chúa và phải làm như Chúa Giê-su hôm nay, chọn lựa nhiều thợ gặt hơn nữa và sai phái vào mùa màng.

Liệu những lời cầu xin thêm thợ gặt của Hội thánh có được nhận lời ? Theo ý kiến của tôi thì có. Thiên Chúa vẫn hằng ban thêm thợ gặt cho cánh đồng lúa chín của Ngài. Bất chấp những khó khăn về ơn kêu gọi, tôi thấy ngày nay các văn phòng mục vụ vẫn đầy đủ nhân viên hơn xưa. Các giáo xứ, các trung tâm giáo dục, thiêng liêng, linh thao, tôi đến giảng phòng không thiếu nhân viên phụ trách. Trên cánh cửa của các văn phòng hoặc trung tâm mục vụ đều thấy đề “Giám đốc thanh niên Công giáo, Giám đốc phát triển đức tin, Giám đốc điều hành tài chính, Giám đốc bác ái, Giám đốc thánh nhạc,.. . ” Hồi tôi còn nhỏ làm gì có những chức vụ đó. Cho nên buộc lòng tôi phải nhận định lời cầu xin của Giáo hội thêm nhiều thợ gắt hằng được nhận lời và nhận lời một cách rỗng rãi. Quý vị giảng thuyết phải công nhận điều này, kẻo nữa chúng ta chỉ biết than phiền một cách máy móc hay giả tạo, không nhìn thấy thực tế. Chúng ta nên khuyến khích nhau làm việc thánh thiện và có hiệu quả, kẻo lãng phí ơn Chúa. Không nên phó mặc trách nhiệm phát triển Nước trời vào tay những viên chức chuyên nghiệp hoặc các tình nguyện viên. Bất cứ người được rửa tội nào cũng được Chúa trao nhiệm vụ : “Chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết chỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và trừ khử ma quỷ.” Lời cầu khẩn của chúng ta ngày nay là phải tạ ơn chủ ruộng, công nhận Ngài đã ban nhiều ơn, nhiều thợ gặt, rồi ra đi chia sẻ rộng rãi với tha nhân, bởi nhận thức rằng Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa giàu lòng từ bi nhân ái, chậm bất bình và hay tha thứ. Xin nhớ : nhóm môn đệ của Chúa Giê-su chẳng tài giỏi gì. Ngược lại, toàn là những thường dân quê mùa chất phác, tính tình nóng nảy, hay ghen tỵ lẫn nhau. Điều họ có được là lòng tin cậy vào Chúa và cố gắng thi hành bổn phận một cách anh hùng, không tháo lui, không sợ sệt, trung thành cho tới mức tử đạo. Hội thánh thật diễm phúc khi được các ngài làm gương, thụ hưởng ân phúc của các ngài.

Họp nhau nơi đây để làm việc thờ phượng, chúng ta cũng được ký ức về các ngài đốt cháy, mặc dù nhiều người thu hẹp bổn phận tôn giáo của mình vào việc đi dự lễ ngày Chúa nhật, rửa tội cho con cái và đưa chúng đến trường học để giáo dục về tín ngưỡng tổ tiên. Điều mà họ không trông thấy là trách nhiệm mà Chúa Giê-su trao cho các môn đệ trong Tin mừng hôm nay : “Dọc đường anh em hãy rao giảng rằng : Nước trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết chỗi dậy, cho người mắc bệnh phong cùi được sạch, và khử trừ ma quỷ.” Nội dung của sứ điệp thật bao la và cao cả. Chúng ta phải hoạt động nhiều hơn nữa thì mới đáp ứng. Chúa Thánh Thần sẽ ban khả năng cho những ai nghiêm chỉnh thực thi nhiệm vụ này, bởi lệnh truyền của Chúa Giê-su không chỉ có ý nghĩa trên giấy trắng, nhưng thực tế phải xảy ra đúng như Chúa nói. Thiên hạ sẽ được hưởng các phép lạ, nếu chúng ta làm đúng lệnh Chúa truyền. Tiếc thay ít ai đủ can đảm và hoàn thiện để thi hành, ngoại trừ các đấng thánh. Trong khu Raleigh, chúng tôi có ngôi nhà thờ rộng lớn với đầy đủ cơ quan phụ thuộc như nhà giữ trẻ, thư viện, nhà thể thao, hồ bơi, sân bowling, v.v. khá đầy đủ và hiện đại. Nhưng khi các thành viên bàn tán về đức tin của mình, liệu họ có nhiệt thành như khi họ nói về các lợi lộc xã hội mà nhà thờ được hưởng, hoặc liệu họ có cảm thấy được Thần khí hướng dẫn vào một tương qua sâu xa hơn với Chúa Giê-su và các môn đệ khác ? Liệu họ có kinh nghiệm ơn gọi cá nhân để nhìn tỏ những nhu cầu vật chất, tinh thần của đám đông như Chúa Giê-su đã nhìn ? Liệu đức tin của chúng ta giúp chúng ta tiến bộ trong đời sống hằng ngày ngoài việc đi tham dự thánh lễ Chúa nhật này qua Chúa nhật khác ? Tôi có nhìn rõ hơn rằng Chúa gọi mình, ban khả năng cho mình để phục vụ những kẻ khốn khổ và bị bỏ rơi ? Lời cầu nguyện của chúng ta trước Thánh thể hôm nay phải là : “Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con nhìn thế giới với đôi mắt của Chúa Giê-su. Xin chữa lành bệnh mù của chúng con đối với hàng xóm láng giềng, những kẻ bất hạnh trong khu dân cư. Xin làm cho đôi mắt chúng con sáng hơn, trái tim chúng con nhạy bén hơn để biết đáp ứng. Xin gửi chúng con đến mùa màng của Ngài, bởi vì chúng con là những thợ gặt mà Chúa đã lựa chọn theo ý định của Con Chúa, Đấng mục tử tối cao. Chúng con cầu xin trong danh Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng con.”

Điểm lưu ý cuối cùng. Chúa Giê-su xem ra hạn chế hoạt động của các tông đồ : “Anh em đừng đi tới các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Samari. Tốt hơn là hãy đến với các chiên lạc nhà Israel.” Đoạn này chỉ có trong Phúc âm thánh Mátthêu, không có trong các Tin mừng khác. Nó phản ánh cộng đoàn tín hữu Mátthêu lúc ấy đang chịu bách hại nặng nề, nhất là ở các địa phương kể trên. Cộng đoàn gồm hầu hết là người Do thái. Họ chỉ muốn thân cận của mình nghe rao giảng Tin mừng và chia sẻ niềm tin với nhau, như chúng ta ngày nay với thân nhân. Lệnh truyền không có ý ám chỉ phải ngưng phục vụ nhu cầu của dân chúng, bởi vì Mt 28, 19 truyền : “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy ... ” Ước mong chúng ta quán triệt ý muốn của Chúa và không mắc sai lầm. Amen.