LÒNG TÔN SÙNG THÁNH MẪU CỦA VỊ GIÁM MỤC ÁO TRẮNG

Quảng trường Thánh Phêrô ngày 8-4-2005 : nắp quan tài mộc mạc bằng gỗ bách viết chữ M dưới chân thánh giá. Cơn gió lật nhiều trang Phúc âm rồi khép lại, kết thúc triều đại Iohannes Paulus II.

M là Mater Misericordiae. Trong di chúc thiêng liêng, Ngài viết : ‘‘Tôi cảm nghiệm sâu sắc tôi ở trong tay Chúa hoàn toàn, tôi tận hiến cho Ngài trong Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội’’.

Suốt 2000 năm lịch sử cứu độ, ngài là một trong ba vị lãnh đạo có công lèo lái Giáo Hội hơn 1/4 thế kỷ, chỉ sau Thánh Phêrô Tông đồ (37 năm) và ĐTC Piô IX (31 năm), ứng nghiệm như lời tiên tri của Đức Hồng Y Ba Lan Stefan Wyszynski ngày 16-10-1978 khi ngài vừa được bầu làm giáo chủ : ‘‘Con sẽ là vị giáo hoàng lãnh đạo Giáo Hội trong thiên niên kỷ thứ 3’’.

Ngày 28/9/1958, ĐTC Piô XII bổ nhiệm linh mục Karol Wojtyla 38 tuổi làm giám mục phụ tá Cracovie. Ngài lấy khẩu hiệu Totus tuus biểu lộ lòng tôn sùng Thánh Mẫu theo truyền thống cao đẹp của đất nước Ba Lan. Lòng tôn sùng này càng thêm sâu đậm trong suốt cuộc hành trình giáo chủ.

Lòng tôn sùng Thánh Mẫu của dân tộc Ba Lan

Linh mục dòng Tên Giovanni Marchese, chuyên gia về Tòa thánh của tạp chí Civilita Cattolica (Văn minh Công giáo) cho rằng : ‘‘Đức Mẹ Maria là trái tim và linh hồn của triều đại Karol Wojtyla’’. ĐHY Julian Herranz nói tiếp : ‘‘Ngài luôn cảm nghiệm có Đức Mẹ đồng hành’’. ĐTC Gioan-Phaolô II sinh tại đất nước Ba Lan tôn sùng Thánh Mẫu. Triện son của ngài là chữ M : Mater Maria (Madonna). Trên nắp quan tài cuối đời vẫn thủy chung với chữ M : Mater Misericordiae.

Tình yêu Thánh Mẫu của cậu bé Karol mồ côi mẹ năm lên chin. Lúc là chủng sinh, thầy Wojtyla luôn tôn sùng Đức Mẹ theo truyền thống Đức Mẹ Đen (Vierge Noire) của dân tộc Ba Lan. Thánh tượng mộc bản (icône) được thờ tại Tu viện Jasna Gora (núi thiêng : Linh Sơn) ở thành phố Czestochowa. Tu viện được lập năm 1382 có thánh tượng Đức Mẹ Đen nổi tiếng này. Vào thế kỷ XVII, tu viện cùng với đất nước Ba Lan phải tự vệ chống lại các cuộc tấn công của Thụy Điển. Đức Mẹ làm phép lạ cứu tu viện và cả dân tộc Ba Lan. Năm 1717, Đức Mẹ Đen được tôn vinh làm Nữ Vương Ba Lan. Sau thế chiến 2, cộng sản biến Czestochowa thành một trung tâm công nghiệp để giảm thiểu lòng sùng kính Đức Mẹ, nhưng không thành công. Ngày nay, tín hữu từ khắp Ba Lan và các nước khác tuôn đến Jasna Gora (Linh Sơn) tôn thờ Đức Mẹ Đen.

Ngay từ những ngày đầu của cuộc sống tu trì, ngày đã chọn khẩu hiệu : Totus tuus ergo sum, Maria (Mẹ ơi, con là tất cả cho Mẹ).

Lòng tôn sùng Thánh Mẫu là truyền thống lâu đời của Giáo Hội. Công đồng Ephèse (431) ấn định ngày 15/8 hàng năm tôn kính Đức Mẹ Chúa TrờI (Theotokos).

. 8/12/1854, ĐTC Piô XI công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm.

. 11/2/1858, Đức Mẹ hiện ra với Bernadette Soubirous (14 tuổi) phán rằng : Que soy era Immaculada Counception.

. 1/11/1950, ĐTC Piô XII công bố tín điều Đức Mẹ Lên Trời. Trong hai cuộc thánh du cuối đời trên tổng số 104, ĐTC đến hành hương ở Lộ Đức (14, 15/8/2004) và Lorette. Nhờ Đức Mẹ mà Đức Thánh Cha được cứu sống.

Chủ chăn áo trắng và chó sói mầu xám

17 giờ 12 ngày 13/5/1981, đúng 64 năm sau ngày Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, ĐTC Gioan-Phaolô II đi trên xe Jeep mui trần sơn trắng chạy ngang quảng trường Thánh Phêrô, nhân cuộc triều yết vào thứ tư hàng tuần. Chiếc xe ngừng bên một thiếu phụ đang ẵm con. Vị chủ chăn bận áo trắng cúi xuống ẵm hài nhi từ tay bà mẹ.

Đúng lúc đó, ba phát đạn bắn vào ĐTC. Hung thủ tên là Mehmet Ali Agça 23 tuổi, là thành viên của tổ chức cực hữu ở Thổ Nhĩ Kỳ lấy tên là ‘‘Sói xám’’. Khi được đưa vào bệnh viện Gemilli, ngài ở trong tình trạng tuyệt vọng. Các bác sĩ cấp cứu lắc đầu, cho biết không còn hy vọng cứu sống. Theo Đức Cha Bí thư Dziwisr kể lại, ĐTC mất nhiều máu, áp huyết xuống rất thấp, nhịp tim gần như ngừng đập. Các bác sĩ truyền máu cho ngài nhưng cơ thể chống lại, không nhận máu. Các bác sĩ tự hiến máu rồi truyền cho ngài. Lần truyền máu thứ hai thành công. Ngày hôm sau, khi tỉnh dậy, ngài nói với bí thư : ‘‘Chúng ta đã đọc kinh chiều (complies) chưa ?’’

Ngày 13/10, Đức Mẹ Fatima đã run rủi cho ngài cúi xuống ẵm hài nhi trong tay. Nếu không, ngài không còn là vị giáo hoàng của thiên niên kỷ thứ 3, ứng nghiệm lời tiên tri của ĐHY Wyszynski vào năm 1978.

Con sói xám Agça từng can tội giết chủ báo Milliyet ở Thổ Nhĩ Kỳ, bị giam ở Kartal rồi vượt ngục, sang Vatican mưu sát vị chủ chăn áo trắng. 6 hôm sau ngày ám sát, sở mật vụ Ý Sismi tiết lộ Agça từng được huấn luyện ở Liên Xô. Báo Reader’s Digest có liên hệ với CIA phát giác sói xám được sở mật vụ Bảo Gia Lợi thuê.

. 17/61982, vị chủ chăn áo trắng tha tội cho sói xám : ‘‘Tôi cầu nguyện cho người anh em đã ra tay giết tôi. Tôi chân thành tha tội’’.

. 27/12/1983, ĐTC vào trại giam Yesiltepe ở Roma thăm sói xám đang thụ án chung thân.

. 13/6/2000, nhờ sự can thiệp của ĐTC, tổng thống Ý Carlo Azeglio Ciampi ân xá Agça. Y bị dẫn độ về Thổ Nhĩ Kỳ để thụ án chung thân về tội giết một chủ báo năm 1979 và 7 tháng tù về tội sử dụng vũ khí.

Theo lời luật sư Mustafa Demirbag, khi nghe tin ĐTC qua đời, Agça năm nay 47 tuổi khóc thảm thương. Theo lời đồn đãi, năm nay Agça sẽ được chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ ân xá. ĐTC Gioan-Phaolô II viết trong tác phẩm cuối ‘‘Mémoire et identité’’ : ‘‘Vụ ám sát này là một trong những biến động cuối cùng phát sinh từ ý thức hệ dấy lên trong thế kỷ XX’’.

Đức Mẹ áo trắng và vị giám mục áo trắng

. Đức Mẹ bận áo trắng, hiện ra 18 lần với Bernadette Soubirous 14 tuổi tại hang đá Massabielle ở Lộ Đức, từ 11/2/1858 đến 16/7/1858.

. Đức Mẹ hiện ra 6 lần vào ngày 13 mỗi tháng, từ 13/5/1917 đến 13/10/1917 với 3 mục đồng (pastorinhos) : Lucia 10 tuổi, Francesco 9 tuổi và Jacintha 7 tuổi. Francisco và Jacinta qua đời vì bệnh cúm Tây Ban Nha vào năm 1919 và 1920. Soeur Lucie qua đời ngày 13/2/2005, thọ 97 tuổi.

Theo Lucia kể lại, Đức Mẹ Rất Thánh Mân Côi bận áo trắng, sáng hơn mặt trời, ánh sáng trong vắt như pha lê. Lần hiện đầu tiên, Lucia hỏi : Mẹ từ đâu đến ? Đức Mẹ đáp : Ta đến từ trời.

. Vị giám mục áo trắng (ĐTC là giám mục Roma, bận phẩm phục trắng) bị ám sát ngày 13/10/1981. Vài giờ sau khi bị trúng thương, ĐTC muốn biết điều bí mật thứ ba của Fatima.

9 năm sau, ngày 13/5/2000, ĐTC Gioan-Phaolô II đến hành hương ở Fatima, phong chân phước cho Jacinta và Francisco.

Ngày 14/5/2000, ĐHY Angelo Sodano, Quốc vụ khanh Tòa Thánh họp báo công bố bí mật thứ ba :

‘‘ĐTC ủy thác cho tôi công bố thông báo này. Như quý vị đều biết, mục đích cuộc thánh du của ĐTC tại Fatima là để phong chân phước cho hai trẻ chăn chiên. Ngài muốn bầy tỏ lòng biết ơn Đức Mẹ gìn giữ ngài trong suốt triều đại giáo hoàng. Sự che chở này liên hệ đến phần thứ ba của bí mật Fatima. Văn bản trình thuật cuộc thị kiến, cũng như trong Kinh Thánh, không nêu rõ từng chi tiết xảy ra, nhưng tóm lược các sự việc rải rác trong thời gian.

Thị kiến Fatima liên hệ đến cuộc đấu tranh của hệ thống vô thần nhằm chống lại Giáo Hội và chống lại người công giáo. Cuộc thị kiến mô tả sự đau khổ triền miên của các chứng tá đức tin vào cuối thế kỷ của thiên niên kỷ thứ 2. Đó là chặng đường thánh giá khổ lụy của các vị giáo hoàng trong suốt thế kỷ XX. Theo sự giải thích của các mục đồng được soeur Lucie xác nhận, ‘‘Vị giám mục bận áo trắng’’ cầu nguyện cho đoàn chiên là đức giáo hoàng. Ngài bước khó nhọc về Thánh giá giữa thi hài ngổn ngang của các vị tử đạo (giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và nhiều giáo dân) ngã qụy như bị chết dưới lằn đạn’’.

Vẫn theo lời ĐHY Sodano, ‘‘ĐTC đã được bàn tay dịu hiền của Đức Mẹ cứu khỏi lằn đạn, ngài trong tình trạng hấp hối nhưng thoát khỏi cái chết trong đường tơ kẽ tóc. Nhân vị giám mục Leiria-Fatima đến Roma, ĐTC quyết định đưa cho vị giám mục vỏ đạn rớt trong xe Jeep sau vụ mưu sát để lưu giữ tại đền thánh Fatima’’.

Ngoài ra, ĐTC Gioan-Phaolô II còn dâng kính Đức Mẹ Fatima nhẫn vàng của ngài, do ĐHY Stefan Wyszynski, giáo chủ Varsovie và là cha đỡ đầu đã tặng cho ngài. ĐHY Wyszynski đã tiên đoán Đức Gioan-Phaolô II sẽ lãnh đạo Giáo Hội vào thiên niên kỷ thứ 3 và lời tiên tri được ứng nghiệm.

Trái tim Mẹ sẽ thắng

Năm 1879, Bernadette Soubirous đệ trình ĐTC Léon XIII thông điệp của Đức Mẹ Chúa Trời. Trong 6 lời tiên tri, bốn lời đầu đã ứng nghiệm.

Tài liệu này bị thất lạc suốt 120 năm, vừa được linh mục Antoine La Grande tìm thấy trong một tủ sắt dưới hầm thư viện Vatican vào tháng 12-1998. 5 tờ thủ bút của Bernadette gồm :

1. Lời tiên tri thứ 1 về sự phát triển của Lộ Đức (épanouissement de Lourdes). Nơi này trở thành địa điểm hành hương chữa lành nhiều thương tật.

2. Lời tiên tri thứ 2 về các phát minh khoa học quan trọng : điện năng, bóng đèn, máy hát và nhiều máy móc khác.

3. Lời tiên tri thứ 3 về việc Hitler lên cầm quyền ở Đức trong thập niên 30, kết thúc bằng chiến tranh thế giới.

4. Lời tiên tri thứ 4 về con người cố gắng ‘‘bay trong không gian’’. Trong năm 70, ngườI Mỹ thành công đổ bộ lên mặt trăng. Lời tiên tri này ứng nghiệm vào năm 1969 khi Neil Armstrong lần đầu tiên đặt chân lên mặt trăng.

5. Lời tiên tri thứ 5 dài nhất như sau : ‘‘Tâu ĐTC, Đức Mẹ nói với con rằng vào cuối thế kỷ 20, kỷ nguyên khoa học sẽ cáo chung. Một kỷ nguyên mới đức tin mở ra trên khắp địa cầu. Hàng triệu người sẽ trở lại với Chúa và sức mạnh của Giáo Hội sẽ lớn mạnh hơn bao giờ hết. Người ta chán ngán các nhà khoa học kiêu ngạo tạo ra sinh vật nhân tạo phối hợp giữa người và vật. Lúc đầu chỉ là chống đối các sinh vật ma quái này. Sau cùng các nhà khoa học bị đào thải, như người ta săn đuổi bầy sói.

Trước năm 2000, loài người sẽ mục kích sự va chạm giữa các tín đồ Hồi giáo và các quốc gia công giáo. Có 5 650 451 người bị tử thương và một trái bom có sức công phá lớn tàn phá một tỉnh của Iran (Ba Tư). Sau cùng, Thánh giá sẽ chiến thắng, tất cả người theo đạo Hồi sẽ trở lại đạo Công giáo.

Sau đó là một thế kỷ hòa bình an lạc. Các quốc gia đều từ bỏ vũ khí. Một thời thịnh đạt, Thiên Chúa sẽ ban ơn phúc cho muôn dân. Trên trái đất không có nơi nào phải sống trong cảnh nghèo đói. 1/10 nhân loại có khả năng chữa bệnh, cứu giúp những người cần được cứu chữa. Khắp nơi cất tiếng hoan ca. Thế kỷ XXI sẽ là thời hoàng kim của nhân loại.’’

. Đức Mẹ hiện ra ở Fatima ngày 13/10/1917. Cách mạng tháng 10/1917 xảy ra cùng năm nhuộm đỏ nước Nga, lan rộng ra các nước Đông Âu. Từ 1989 đến 1991, Liên Xô giải thể, trở lại là nước Nga hữu thần. Tại các Đông Âu, chủ nghĩa cộng sản vô thần không còn nữa. Ngày nay còn lại 5 nước cộng sản : 4 ở châu Á là Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Lào. 1 ở châu Mỹ : Cuba. Theo thông điệp Fatima, sau cùng Trái Tim Mẹ sẽ thắng.

Theo lệnh của ĐGM Giáo phận Leiria (Bồ Đào Nha), ngày 8/12/1941, Lucia chép lại hai bí mật 1 và 2. Bí mật thứ 3 viết ngày 3/1/1944.

. Phong bì niêm kín được chuyển đến Văn khố mật của Tòa Thánh ngày 5/4/1957. Ngày 17/8/1959, LM Pierre Paul Philippe dòng Đa Minh chuyển đến ĐTC Gioan XXIII phong thư chứa điều bí mật. ĐTC tỏ ra phân vân rồi nói : ‘‘Đợi nhé, để cha cầu nguyện. Cha sẽ cho con biết quyết định của cha.’’ ĐTC Gioan XXIII gửi lại phong thơ niêm kín cho Văn khố Tòa thánh và quyết định không công bố.

. Ngày 27/3/1965, ĐTC Phaolô VI cùng ĐGM Angello Dell’ Acqua đọc tài liệu tối mật này rồi gửi trả lại Văn khố Tòa thánh và quyết định không công bố.

. Sau vụ mưu sát ngày 13/10/1981, vào ngày 18/7/1981, ĐHY Somalo trình lên ĐTC Gioan-Phaolô II hai bao thơ, 1 trắng là bản gốc bằng tiếng Bồ Đào Nha mang chữ viết của Soeur Lucie, và một mầu cam là bản dịch tiếng Ý.

. Ngày 11/8/1981, ĐGM Martinez trả lại hai bao thơ này cho văn khố Tòa Thánh.

. Ngày 25/3/1984, tại quảng trường Thánh Phêrô, ĐTC Gioan-Phaolô II long trọng dâng hiến Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ toàn thế giới.

. Ngày 13/5/2000, ĐHY Quốc vụ khanh Angelo Sodano đã công bố bí mật Fatima.

. Ngày 16/10/2002, Trong tông thư ‘‘Mân Côi Đức Trinh Nữ Maria’’, ĐTC Gioan-Phaolô II cho biết ngay từ thuở thiếu thời, chuỗi Mân Côi luôn có chỗ đứng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của ngài. Ngoài ba chuỗi môi khôi năm sự vui, năm sự thương, năm sự vui, ngài thêm năm sự sáng (mystères de lumière) nhằm ‘‘giúp các giáo hữu thấu hiểu lời cầu xin mang tính biểu tượng, hài hòa với những đòi hỏi của đời sống hàng ngày’’.

‘‘Các con hãy cầm chuỗi tràng hạt trong tay. Cha mong rằng lời mời gọi của cha không phải chỉ là ngôn từ mà thôi’’.

Lòng tôn kính Đức Mẹ La Vang

. Ngày 20/10/1997, ĐTC Gioan-Phaolô II quyết định mở Năm Toàn Xá Đức Mẹ La Vang nhân kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang (1798-1998). Ngài mong muốn đích thân cử hành đại lễ kỷ niệm tại Vương cung Thánh đường La Vang, nhưng rất tiếc không được chính quyền đáp ứng. Ngài bổ nhiệm ĐHY Phaolô Phạm Đình Tụng làm đặc sứ Tòa Thánh cử hành nghi lễ. Ngài còn gửi sứ điệp cho ĐTGM Stêphanô Nguyễn Như Thể, nội dung như sau :

‘‘Nhân dịp bế mạc Năm Thánh Đức Mẹ và Đại hội hành hương lần thứ 25 tại Đền thánh Đức Mẹ La Vang, tôi hiệp ý cầu nguyện với các tín hữu Việt Nam và các người hành hương chạy đến cầu xin Đức Trinh Nữ Maria hiền mẫu cầu bầu.

‘‘Nguyện xin Mẹ chí thánh đồng hành với Giáo hộI Công giáo Việt Nam trên con đường đi về với Chúa và phù trợ cho Giáo hội Việt Nam được trở nên chứng tá trước ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba.’’

Theo Niên giám 2004 của Giáo hội Công giáo Việt Nam, ‘‘tháng 8 năm 1798, từ Phú Xuân, vua Tây Sơn Cảnh Thịnh ban hành một sắc chỉ trưyền phá hủy tất cả các nhà thờ, nhà ở của linh mục. Đây là lệnh cấm đạo nghiêm ngặt, ác liệt, nhưng đột ngột và trong thời gian ngắn. Để tránh cơn bách hại, các tín hữu thuộc giáo xứ Cổ Vưu, Hạnh Hoa, Thạch Hãn... trong tỉnh Quảng Trị chạy trốn vào vùng núi, bất chấp đói khát, thú dữ, nước độc, bệnh tật, miễn sao cứu được thân. Họ hoảng sợ vi chứng kiến cảnh cướp bóc đốt phá chém giết bạo tàn của binh lính.

‘‘Trong cơn nguy khốn ấy, mọi người chỉ trông cậy vào Chúa và Đức Mẹ, đêm ngày hội họp nhau nơi đám cỏ dươi gốc cây đa cổ thụ, đọc kinh, lần hạt than khóc kêu xin Đức Mẹ cứu giúp chở che.

‘‘Một hôm, trong lúc họ đang đọc kinh, Đức Mẹ hiện ra rực rỡ tươi đẹp vô ngần. Mẹ mặc áo choàng, tay ẵm Chúa Hài Đồng. Mẹ xuống đứng trên đám cỏ gần gốc cây đa nơi họ đang cầu nguyện. Mẹ tỏ vẻ nhân từ và âm yếm, an ủi các tín hữu vui lòng chịu khó, dạy hái lá quanh đó nấu uống sẽ lành các chứng bệnh.

‘‘Mẹ còn phán hứa rằng : ‘‘Các con hãy tin tưởng, cam lòng chịu khổ. Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khấn cùng Mẹ ở chốn này, Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ý nguyện.’’

. Ngày 15-8-2004, mặc dù sức lực suy yếu, ĐTC Gioan-Phalô II đến hành hương lần cuối cùng tại Lộ Đức, trung tâm Thánh Mẫu của khắp Âu châu. Trong dịp này, một số bà con Giáo Xứ Việt Nam tại Paris đã đến hành hương. Ngày nay, giữa Đức Mẹ Lộ Đức và châu Âu là tình thương mẫu tử, biểu hiện qua lá cờ Liên hiệp :

Cờ Liên Hiệp Châu Âu ngày nay có 12 ngôi sao triều thiên trên nền xanh dương. Lá cờ này do Arsène Heitz, người Pháp quê quán ở Strasbourg vẽ trong số 101 mẫu dự thi, được chọn ngày 13/12/1955. Cờ gồm 12 ngôi sao, giống như 12 ngôi sao trên ảnh tượng Đức Bà làm phép lạ ở Rue du Bac. Mầu xanh dương là mầu áo Đức Mẹ.

Với cờ Liên hiệp Âu châu 12 tinh tú, giải đất châu Âu (trong số có thánh đô Roma) luôn được Đức Mẹ che chở :

‘‘Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời : một người Phụ nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên 12 ngôi sao.’’ (sách Khải huyền 12, 1).

Kinh nguyện dâng thế giới cho Đức Mẹ

Ngày 7/6/1981 nhằm lễ Hiện Xuống, tại Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Cả ở Roma, ĐTC Gioan-Phaolô II đã đọc kinh dâng thế giới cho Trái Tin Vẹn Sạch Đức Mẹ do chính ngài biên soạn :

‘‘Lạy Mẹ loài người và các dân tộc, Mẹ thấu hiểu nỗi khổ đau và hy vọng, trong tình mẫu tử, Mẹ cảm thương sự tranh đấu giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và tối tăm bao trùm thế giới, xin nhận lời con khẩn cầu, nhờ Thánh Thần Chúa, xin đùm bọc chúng con trong tình yêu của Mẹ. Trong tình mẫu tử khẩn xin Mẹ gìn giữ gia đình nhân loại. Xin Mẹ ban bình an và tự do, chân lý, công bình và hy vọng đến cho mọi người. Amen’’ (giaoxuvnparis.org)