NGHE

* Bài đọc 1: Xh 22,20-25: Lời hứa và chỉ thị liên quan đến biến cố vào xứ Ca-na-an.

(20) Này Ta sai Thiên sứ đi trước ngươi, để giữ gìn ngươi khi đi đường, và đưa ngươi vào nơi Ta đã dọn sẵn”. (22) Nếu thực sự nghe lời người, nếu ngươi làm mọi điều Ta nói Ta sẽ trở thành kẻ thù của kẻ thù ngươi, đối phương của đối phương ngươi (24) Ngươi không được phủ phục trước các thần của các dân chung quanh, cũng đừng phụng thờ các thần ấy. (25) Các ngươi phải thờ phượng Đức Chúa, Thiên Chúa các ngươi; Người sẽ chúc phúc cho bánh ngươi ăn, cho nước ngươi uống. Ta sẽ đẩy bệnh tật xa ngươi.

* Bài đọc 2: 1 Tx 1,5c-10: Bỏ ngẫu tượng, phụng sự Thiên Chúa.

(5c) Anh em biết khi ở với anh em, chúng tôi đã sống thế nào cũng để mưu ích cho anh em; (6) còn anh em, anh em đã bắt chước chúng tôi và noi gương Chúa, khi đón nhận lời Chúa giữa bao nỗi gian truân với niềm vui do Thánh Thần ban (7) Bởi vậy anh em đã nên gương cho mọi tín hữu ở miền Ma-kê-đô-ni-a và miền A-khai-a. (8) Quả thế, từ nơi anh em, lời Chúa đã vang ra”. đâu đâu người ta cũng nghe biết lòng tin anh em đặt vào Thiên Chúa”..(9)”.. và anh em đã từ bỏ ngẫu tượng mà quay về với Thiên Chúa thế nào, để phụng sự Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa thật (10) và chờ đợi Con của Người từ Trời ngự đến”.

* Bài Tin Mừng: Mt 22, 34-40: Điều răn trọng nhất.

(34) Khi nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại (35) Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng: (36) Thưa Thày trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn lớn nhất?” (37) Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. (38) Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu (39) Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. (40) Tất cả luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào vào hai điều răn ấy.”

NGẪM

* Câu hỏi gợi ý

1. Kinh nghiệm đức tin hay tâm linh của người Do Thái xưa và kinh nghiệm của các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca thời Giáo hội sơ khai.
2. Đức Giêsu đã liên kết hai giới răn “mến Chúa yêu người“ thành một.
3. Thời đại và con người ngày nay đòi chúng ta sống Phúc Am một cách triệt để.

* Suy tư gợi ý

1. Kinh nghiệm đức tin hay tâm linh của người Do Thái xưa và kinh nghiệm của các tín hữu Thê-xa lô-ni-ca thời Giáo hội sơ khai.

1.1 Đọc Cựu ước, chúng ta sẽ khám phá ra kinh nghiệm đức tin hay tâm linh của người Do Thái xưa. Kinh nghiệm ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần trong lịch sử và được tóm tắt cách vắn gọn như sau: Hễ người Do Thái trung thành tuân giữ lề luật của Thiên Chúa thì được an toàn và sung túc. Hễ họ lãng quên hay phản bội Thiên Chúa thì tai ương (mất mùa, chiến tranh, làm nô lệ) sẽ ập tới. Nhưng một thì họ sám hối ăn năn, quay về với Thiên Chúa thì họ lại được Thiên Chúa thứ tha và cứu vớt.

Đoạn Sách Xuất hành 22,20-25 mà Phụng vụ cho đọc hôm nay là một trong những đoạn văn nói về kinh nghiệm đức tin ngàn năm ấy. Trọng điểm của đoạn văn là dân Do Thái được chỉ bảo “chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa mà thôi.” Điều đó đã trở thành luật, thành giới răn mà bất cứ người Do Thái nào cũng thuộc nằm lòng.

1.2 Trong bài đọc 2, Thánh Phao-lô cho chúng ta thấy một kinh nghiệm sống đức tin của các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca thời Giáo hội sơ khai. Rõ ràng họ không chỉ từ bỏ ngẫu tượng và quay về với Thiên Chúa, mà đời sống bác ái, yêu thương của họ đã tạo nên một vang tốt lành cho Danh Thánh Chúa, một sức lôi cuốn mãnh liệt đối với những người tín hữu và lương dân trong một vùng khá rộng lớn.

Các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca cũng như bao Ki-tô hữu ngày nay đã trưởng thành và văn minh hơn dân Do Thái xưa bội phần. Họ không thờ phượng Thiên Chúa để được phần thưởng là các ân huệ vật chất, mà chủ yếu là vì Thiên Chúa là Đấng tốt lành, là Cha nhân hậu đáng mọi người kính yêu, tôn thờ.

2. Đức Giêsu đã liên kết hai giới răn “mến Chúa yêu người” thành một.

2.1 Tại sao những người Pha-si-sêu lại hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thày trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn lớn nhất?” Có phải vì họ cho rằng Đức Giê-su xuất thân từ một thôn xóm nhỏ bé vô danh Na-da-rét và là một thanh niên ít học nên họ thử Người chơi? Hay vì họ muốn tỏ ra ta đây là những người thông luật, là hạng trí trức trong cộng đồng tôn giáo và xã hội để “dằn mặt” Người? Phúc Am không nêu lý do mà chỉ nêu mục đích của việc đặt câu hỏi “để thử Người“. Nếu chúng ta liên kết sự kiện này với các kiện trước đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn. Liền trước trình thuật giới răn trọng nhất này, chúng ta thấy nhóm Xa đốc đã thử Giê-su khi nêu vấn đề kẻ chết sống lại với câu chuyện một phụ nữ lần lượt lấy bảy anh em làm chồng: “trong ngày sống lại, bà ấy sẽ là vợ ai trong số bẩy người đã lấy bà làm vợ?” (Mt 23-33). Xa hơn nữa những người Pha-ri-sêu và phe Hê-rô-đê đã đặt ra cho Người một vấn đề hết sức tế nhị có tính chất vừa tôn giáo vừa chính trị: “Có được phép nộp thuế cho Xê-da không?” (Mt 22,17). Có lẽ chúng ta phải hiểu đây là cuộc đấu trí “một mất một còn” giữa hai kỳ phùng địch thù: Một bên là những người thuộc giới cầm quyền xã hội và tôn giáo Do Thái và một bên là Đức Giê-su. Bên trước thì thua keo này bày keo khác; còn bên sau thì kiên trì đối phó và khôn ngoan tận dụng thời cơ để thực hiện sứ mệnh của mình. Và cuối cùng thì bên kia phải dùng đến biện pháp cuối cùng để khử trừ bên này. Nhưng bên này chẳng hề hấn gì vì Người là Đấng hằng sống và là Đấng Phục sinh.

2.2 Cũng như trước hai thử thách kia, Đức Giê-su đã chẳng hề bị “bắt bí” mà Người còn hoàn toàn làm chủ trận địa và tung ra những đòn “độc chiêu” mà kẻ thủ phải “tâm phục khẩu phục.” Thật vậy Đức Giê-su đã trích dẫn Thánh Kinh một cách rành rọt: “Điều răn lớn nhất là ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi.” Đức Giê-su còn khiến họ ngạc nhiên khi Người liên kết “giới răn trọng nhất” với “giới răn mới nhất“ thành một. “Giới răn trọng nhất” là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. “Giới răn mới nhất” là yêu thương tha nhân, nhất là người lân cận, như chính mình! Hai giới răn ấy chỉ là một mà thôi. Từ nay để kiểm chứng lòng yêu mến Thiên Chúa, người theo đạo Ki-tô chỉ cần xem xét lòng yêu thương tha nhân của mình. Nếu không có lòng yêu thương tha nhân, thì chắc chắn là cũng không có lòng yêu mến Thiên Chúa! Quá đơn giản và rõ ràng!

3. Thời đại và con người ngày nay đòi chúng ta sống Phúc Am một cách triệt để.

3.1 Đức Gioan Phaolô II đã nhiều lần lặp đi lặp lại rằng: ngày nay người ta cần chứng chân hơn là thày dạy. Trong lãnh vực Bác Ai thì điều đó càng đúng. Giảng dạy yêu thương thì chẳng khó gì, nhưng có những hành động yêu thương giúp đỡ tha nhân mới là chuyện đáng kể. Giảng dạy yêu thương phục vụ thì đã có quá nhiều rồi, còn những hành động yêu thương cụ thể, thì lúc nào cũng thiếu, vì lúc nào cũng có người cũng cần đến. Xã hội và con người ngày nay rất dị ứng với những người chỉ nói mà không có làm. Thà nói ít hay không nói gì hết mà làm thì tốt hơn!

3.2 Như thế có nghĩa là thời đại và con người ngày nay đòi chúng ta sống Phúc Am một cách triệt để. Nếu Đạo Công giáo là Đạo Yêu Thương thì các Ki-tô hữu hãy sống yêu thương, hãy hy sinh phục vụ, hãy bỏ thời giờ, tiền bạc, công sức “. cho đồng bào, cho những người kém may mắn trong xã hội! Năm 1970 tại Ma-ni-la các Giám mục Á châu (trong đó có các Giám mục VN chúng ta) đã long trọng tuyên bố các Giáo hội Á châu là Giáo hội của người nghèo. Chúng ta hãy biến chọn lựa ấy thành hiện thực đi! Đừng nói nữa mà hãy làm!

NGUYỆN

Lạy Thiên Chúa là Tình Yêu, chúng con cảm tạ Tình Yêu cứu độ của Chúa! Chúng con quyết tâm chỉ tôn thờ một mình Chúa mà thôi vì Chúa là Chúa Tể vạn vật vô cùng quyền năng và nhân hậu, vì Chúa đã cứu chúng con. Chúng con cũng quyết tâm yêu thương mọi người là tạo vật được dựng nên theo hình ảnh Chúa như chúng con và là con cái của Chúa, anh em của chúng con. * Lạy Chúa Giê-su, xin Chúa giúp chúng con biết cống hiến và chia sẻ với những người túng thiếu: tài trí, thời gian, tiền của mà Chúa đã ban cho chúng con, để tất cả chúng con được sống trong Tình Yêu của Chúa. A men!