CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI A

THIÊN CHÚA CỦA LÒNG YÊU THƯƠNG BỀN VỮNG

(Ga 3, 16-18)

Thưa quý vị,

Chúng ta đang trong các mùa lễ lớn. Tuần trước là lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Hôm nay lễ Chúa Ba ngôi. Tuần sau lễ Mình và Máu thánh Chúa. Trong năm phụng vụ, Hội thánh còn cử hành những lễ trọng khác nữa của cuộc đời Chúa Giê-su, như giáng sinh, phục sinh, lên trời. Lễ hôm nay nhiều ý nghĩa lý thuyết thần học. Cho nên, các nhà giảng thuyết có khuynh hướng trừu tượng hoá bài suy niệm của mình, làm cho đầy những giáo điều, học thuyết cao siêu khó hiểu đối với giáo dân, mà tuyệt đại đa số chi thủ đắc được vài kiến thức trung bình. Họ biến đổi buổi phụng vụ thành lớp học giáo lý, thánh khoa, tựa như trong các chủng viện. Một điều đáng tiếc, ít nhà giảng thuyết để ý tới.

Thực ra, nếu nhìn kỹ các bài đọc, chúng ta sẽ thấy chúng không chú tâm nhiều vào lý thuyết, mà những hành động Thiên Chúa thực hiện giữa nhân loại. Ngài là diễn viên chính trên sân khấu thế gian. Ngài thực hiện những công việc ích lợi cho nhân loại chứ không chỉ lý thuyết trừu tượng mà thôi. Các công việc ấy đã có từ thời Cựu ước, tới Tân ước và cho đến ngày nay. Chúng ta là những đối tượng được hưởng tình yêu, phúc lành, sự tha thứ của Ba ngôi Thiên Chúa, liên tục đổ xuống loài người. Hôm nay là ngày lễ Giáo hội kêu gọi chúng ta đáp trả, bằng lòng biết ơn, vui mừng và thánh thiện trong thánh lễ này và suốt cuộc sống của mình. Các bài đọc không cố gắng “giải nghĩa” Thiên Chúa Ba ngôi là gì, nhưng đơn giản chỉ tỏ lộ Ngài hoạt động và nếu dùng ngôn ngữ bình dân thì “xem quả tự khắc biết cây”, bạn muốn biết Thiên Chúa là gì thì hãy suy gẫm các công việc Ngài thực hiện trong vũ trụ. Kinh thánh biểu lộ rằng khi Ngài giơ tay về phía bạn, bênh vực che chở bạn, bạn sẽ hiểu Ngài là ai ? Không phải các học thuyết lý lẽ nhưng chính kinh nghiệm cụ thể về lòng yêu thương của Thiên Chúa mà chúng ta hiểu được phần nào bản chất của Ngài. Ngài là đấng muôn đời trung tín, không khi nào bỏ rơi chúng ta, ngay cả khi chúng ta từ chối Ngài, từ chối chính bản thân mình, bằng cách sống lưu vong, sa lầy tội lỗi, tính hư nết xấu, xì ke ma tuý, lừa đảo, trộm cướp, âm mưu mánh khoé.

Bài đọc thứ nhất, trích sách Xuất hành (34, 1-35), Thiên Chúa canh tân giao ước với dân Do thái. Môisê từ trên núi Sinai xuống, ông giận dữ đập vỡ hai bia đá giao ước ghi 10 điều răn ở chân núi khi hay biết dân chúng đã phản loạn thờ lạy bò vàng (các chương 32 và 33 là những bản văn rất đẹp vì nhiều lý do, nhưng đặc biệt chúng mô tả tương quan thân thích giữa Môisê và Thiên Chúa). Mười điều răn được viết lại, bất chấp lòng thất trung và phản nghịch của tuyển dân. Thiên Chúa vẫn trung tín với chính mình, đi bước trước với dân Do thái và canh tân giao ước mà họ đã bẻ gãy vì dục vọng. Trong thói tục cổ xưa niềm Trung đông, khi một giao ước được ký kết giữa lãnh chúa và các bầy tôi, thì tên của lãnh chúa được nêu lên trước, sau đó đến tên của các bầy tôi. Theo đúng phong tục này, tên của Thiên Chúa phải được tỏ lộ, rồi đến danh tánh của tuyển dân. Nhờ việc này mà chúng ta biết Thiên Chúa là ai ? Tên của Ngài có ý nghĩa ra sao ? Kẻo chúng ta lầm lạc về bản chất đích thực của Thiên Chúa, lãnh chúa mà dân Do thái ký giao ước. Kinh thánh viết : “Khi ấy, ông Môisê thức dậy và lên núi Sinai theo lệnh của Đức Chúa, tay mang hai bia đá. Đức Chúa ngự xuống trên đám mây và đứng tại đó với ông. Người xưng danh Người là Đức Chúa. Đức Chúa đi ngang qua mặt ông và xướng : ‘Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.” Đó là tên của Thiên Chúa, Đấng nhân hậu và từ bi. Thiên Chúa của lòng yêu thương bền vững. Trung tâm của đoạn Kinh thánh này là mặc khải về quyền năng tha thứ của Thiên Chúa, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín. Bài đọc này được chọn song song với Tin mừng bởi lẽ nó mặc khải mạnh mẽ về danh xưng và bản chất của Thiên Chúa. Nó khai sáng cho ý nghĩa của bài Tin mừng, làm rọ những điều mà Chúa Giê-su tuyên bố với Nicôđêmô : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” Mặc dù ông Môsê không hỏi nhưng Thiên Chúa đã mặc khải tên của Ngài là Giavê. Thường tình, danh xưng biểu lộ căn tính hay cốt yếu của một người. Thiên Chúa giải thích ý nghĩa của Ngài : “Giavê ! Giavê ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.” Ở đây, chúng ta không quan tâm lắm đến định nghĩa văn chương mà chỉ chú tâm đến giải thích danh xưng của Thiên Chúa. Nó mặc khải mối liên hệ giữa Ngài và tuyển dân Do thái, những việc Thiên Chúa làm cho họ và cho chúng ta ngày nay : Thiên Chúa nhân hậu và hay thương xót. Tác giả Dianne Bergant truy tìm nguyên nghĩa của các tiếng dùng trong bản văn Xuất hành thì thấy rằng chúng mang hình thức rất mộc mạc. Từ “từ bi” (merciful) chỉ tình yêu của cái dạ mẹ. Tức tình cảm của người mẹ yêu thương đứa con còn trong bụng hoặc của các anh chị em ruột thịt. Từ “nhân hậu” (gratious) chỉ lòng thương xót dấu yêu và từ “tín trung” gợi lên tính bền vững không thay đổi. Nghĩa là Thiên Chúa chẳng bao giờ thay lòng đổi dạ mà từ bỏ tuyển dân Ngài đã ký kết giao ước. Nhờ ý nghĩa cụ thể như vậy mà ông Môisê hiểu được thông điệp của Thiên Chúa. Ông vội vàng phục xuống đất thờ lạy, và thưa với Ngài : “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con.” Được Thiên Chúa cùng đi là một bảo đảm vững chắc đối với tuyển dân và hôm nay trước bí tích Thánh thể trên bàn thờ, chúng ta cũng phục xuống đất thờ lạy đấng đã tự tỏ mình ra cho dân Israel, Ngài cũng tự mặc khải cho chúng ta. Ngài liên kết với dân tộc Do thái và Môisê trong một giao ước vĩnh cửu để đưa họ về đất hứa, thì cũng liên kết với Hội thánh và chúng ta, ngõ hầu chúng ta là tuyển dân mới của Ngài và dẫn đưa chúng ta tới cõi phúc ngàn thu. Thiên Chúa mà hôm nay chúng ta thờ lạy và được nghĩa với Ngài thì cũng chính là Thiên Chúa che chở dân Israel thuở xưa. Không có chi khác biệt. Nhưng cái khó khăn là từ thời Môisê tới nay, loài người không mấy thay đổi ? Chúng ta vẫn là dân “cứng cổ” thì làm thế nào trung thành với giao ước ? Làm thế nào để Ngài dẫn đưa mình ? Xét cho thấu đáo, Thiên Chúa không ký kết với tuyển dân vì họ đạo đức hơn các dân tộc chung quanh thời bấy giờ. Đúng hơn, giao ước được khởi sự từ phía Thiên Chúa. Ngài đã chọn và thiết lập tình bằng hữu với Apraham, tổ phụ của họ, lúc này Ngài vẫn trung tín với mình và canh tân giao ước với con cháu ông, bởi lòng Ngài thương xót nhân loại, ban Đấng thiên sai để cứu độ họ khỏi mê lầm tội lỗi. Cho nên, Moisê đã xin Ngài cùng đi với dân mình.

Suy gẫm đến đây, tôi thấy Thiên Chúa thật cao cả đúng như tên của Ngài mặc khải cho Môisê : Đấng giàu lòng nhân hậu từ bi. Ngược lại, sự đáp trả của chúng ta quá tệ bạc, thậm chí phản bội trong nếp sống sa đoạ. Tuy nhiên, ai có thể chống lại ứơc muốn được Thiên Chúa cùng đi ? Trong buổi phụng vụ thánh lễ hôm nay, chúng ta cử hành việc Thiên Chúa đến với nhân loại trong giao ước vĩnh cữu qua sự hy sinh của Chúa Ki-tô. Thực tế, Chúa Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa đồng hành với nhân loại theo nghĩa chữ đen khi Ngài sống ở Palestin với các môn đệ, và theo nghĩa bí tích, khi hiện diện trong phép Thánh thể với chúng ta ngày nay. Hai hình thức nhưng cùng một thực tại : Thiên Chúa cùng đi với nhân loại.

Trong bài đọc thứ ba hôm nay, khi nói chuyện với ông Nicôđêmô, Chúa Giê-su tuyên bố Thiên Chúa yêu thế gian và vẫn tiếp tục yêu nó và bằng chứng tích cực là sai Con Một ngài đến để nhờ người con đó mà thế gian được cứu. Ngay cả trường hợp loài người quay mặt đi không chấp nhận tình yêu ấy. Thiên Chúa vẫn tiếp tục thực hiện những công việc Ngài đã làm xưa cho Môisê và dân tộc ông. Ngài ban ơn tha thứ và cho cơ hội để đổi mới quan hệ với Ngài. Rõ ràng, Thiên Chúa không hề rời bỏ nhân loại, dù họ phản bội.

Bài đọc thứ hai được chọn vì câu cuối cùng mang tính chất Ba ngôi : “Cầu chúc toàn thể anh em được tràn đầy ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, tình yêu thương của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Amen.” Đây cũng là viễn ảnh của thánh Phaolô về Thiên Chúa Ba Ngôi. Nó là một lời chúc tụng. Tuy nhiên, nhân vật được nhắc tới trước tiên không phải là Ngôi Cha mà là Ngôi Hai nhập thể, Đức Giê-su Ki-tô. Hẳn thánh nhân có dụng ý. Ngài chủ tâm nhấn mạnh vào hành động của Thiên Chúa phân chia cho từng Ngôi. Ân sủng của Đức Ki-tô được kể đến trước hết bởi nhờ ân sủng này mà chúng ta có ý niệm về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ngôi Con đã xuống thế làm người, sống chết vì chúng ta và chúng ta nhận được gương lành của Ngài để thay đổi nếp sống tội lỗi. Dĩ nhiên, đây là một món quà vĩ đại và nhưng không mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại qua Đức Giê-su Ki-tô. Sau đó tình yêu của Chúa Cha được nhắc tới, tình yêu này cụ thể hoá nơi Chúa Ki-tô, sự sống và cái chết của Ngài. Cuối cùng, “ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần” đó là tình yêu tương quan giữa Chúa Cha và Chúa Con. Chúng ta được hiệp thông vào tình yêu này qua ơn Chúa Thánh linh. Như vậy, Ngài là nguồn mạch sự sống hiệp thông của chúng ta với Thiên Chúa và với các thành phần khác của nhân loại. Một sự hiệp thông bền vững và hạnh phúc. Nhờ nó chúng ta được lên thiên đàng ngay ở trên trần gian. Cho nên, phải ăn ở thánh thiện để không đánh vỡ kho báu quý giá này nơi mỗi linh hồn. Than ôi, nhiều giáo sĩ, giáo dân không ý thức nổi sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần, ăn ở bừa bãi theo dục vọng và sự lừa dối của ma quỷ, làm thiệt hại Hội thánh và linh hồn mình. Hằng ngày khi rước lễ, chúng ta được nhắc nhớ sự hiệp thông thánh thiện. Nó là hoa quả của tình yêu thương Thiên Chúa đổ xuống linh hồn mỗi người qua Chúa Giê-su Ki-tô.

Cho nên, thánh tông đồ Phaolô nhắn nhủ cộng đoàn Côrintô rằng hoa quả này phải được biểu lộ ra bên ngoài, chứ không “im lìm’ bên trong “gắng nên hoàn thiện, hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở hoà thuận.” Đường lối sống hoà thuận chỉ có thể thực hiện khi chúng ta hãm mình, ép xác, ngõ hầu lãnh nhận “ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, tình yêu của Chúa Cha và bạn hữu với Chúa Thánh Thần.” Như vậy, chúng ta lần nữa được biết Chúa Ba ngôi qua công vịêc Ngài thi hành cho mình, chứ không phải qua lý thuyết trừu tượng. Câu mở đầu của bài đọc Tin mừng hôm nay chắc chắn là câu danh tiếng nhất trong toàn bộ Tân ước và là câu được thuộc lòng nhiều nhất : “Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Nicôđêmô rằng : ‘Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.”(Ga 3, 16) Tuy nhiên, nếu bạn đi xem thể thao hay một trận bóng đá trên tivi mà ai đó cầm bảng hiệu ghi những dòng chữ trên, tôi cược với bạn chẳng ai thèm nhìn và chẳng hiểu ý nghĩa của nó ra sao. Ngay cả trong tu viện, nhà thờ có bảng hiệu tương tự, người ta sẽ nhìn đi nơi khác, tìm các đối tượng hấp dẫn hơn. Thế mới biết, thiên hạ thờ phượng Chúa bằng môi miệng mà thôi, còn lòng trí tìm khoái lạc thế gian, chứ đâu phải là mặc khải của Thiên Chúa ! Nói chi đến việc chiêm ngưỡng nội dung của nó. Nhưng vào Chúa nhật này với sự kêu gọi của Hội thánh, chắc chắn chúng ta phải nhận ra câu nói đó muốn nói gì bằng chính kinh nghiệm của mình. Chúng ta mừng kính tình yêu bao la của Thiên Chúa dành cho mình ngay cả khi còn là tội nhân, lòng tha thứ của Ngài và sự sống mới Ngài ban. Câu trích được lấy ra từ bản văn dài Chúa Giê-su trả lời Nicôđêmô. Ông là thành viên quan trọng của phái Pharisêu. Ông đến yết kiến Chúa vào ban đêm. Có thể, ông có ấn tượng nhiều về hành vi của Chúa Giê-su (tẩy rửa đền thờ Ga 2, 13-22) và muốn biết thêm về Ngài. Cũng có thể ông được sai đến để dò xét giáo lý của Chúa. Bất cứ thế nào đi nữa, Chúa Giê-su truyền ông phải sinh lại từ trời cao, và nhận lấy Chúa Thánh Thần. Nicôđêmô ngỡ ngàng, nói lắp bắp và đặt nghi vấn : “Việc ấy làm sao có thể xảy ra được ? Một người già cả như tôi ?”

Không giống như bậc vị vọng Do thái, chúng ta chẳng phải mò mẫm trong tối tăm thiêng liêng. Chúng ta được mặc khải Chúa soi sáng. Chúng ta được sinh lại trong bí tích Rửa tội. Thực sự đã có đời sống mới. Nó cần tăng trưởng và phát triển trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa. Đức Thánh linh được gửi đến để thi hành việc này. Ngài thổi hơi trên họ để tập hợp họ thành dân mới của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, chúng ta còn đầy yếu đuối, tội lỗi và bất trung. Nhưng sáng kiến là từ phía Thiên Chúa. Ngài ban cho chúng ta can đảm và ơn thánh để trung thành với Ngài và anh em. Thánh Phaolô xác nhận như vậy : “Nguyện xin ân sủng của Chúa Giê-su, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng anh chị em luôn mãi.” Cho nên, chúng ta có quyền nói đến sự hiệp nhất trong cộng đoàn bình đẳng mang tính Ba ngôi. Không còn phân biệt nam nữ, già trẻ, sắc tộc, cấp bậc, quốc tịch, học vấn, nghề nghiệp. Chúa Thánh Thần đã tái tạo chúng ta theo hình ảnh và hoạ ảnh Chúa Ba ngôi. Chúng ta có trách nhiệm bày tỏ đặc tính ấy cho thế giới bằng cuộc sống mới của mình. Để thiên hạ nhận ra rằng sự đa dạng trong Hội thánh quả thật là ơn vĩ đại của Thiên Chúa tạo thành, chứ không phải là nhân tố chia rẽ. Ước chi mỗi tín hữu, nhất là các tu sĩ nam nữ, nhận ra bổn phận này, ngõ hầu Hội thánh trở thành “rượu mới” của niềm vui cho thế giới hôm nay. Amen.