Đức Gioan Phaolô II suy gẫm về một Kinh chỉ sự Tin tưởng

VATICAN CITY 23/10/2002 (Zenit. org). - Đây là bản dịch bài phát biểu của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung, mà ngài dành để suy gẫm về Thanh vịnh 85[86].
* * *


1. Thánh vịnh 85 [86], chúng ta vừa nghe và sẽ là chủ đề của việc suy gẫm chúng ta, cống hiến chúng ta một sự diễn tả gợi ý của Tác giả Thánh vịnh. Ông trình diện mình truớc mặt Chúa với những lời này: tôi là "tôi tớ Ngài" và là "con của nữ tỳ Ngài" (c. 16). Cách nói này có thể, chắc vậy, tùy thuộc ngôn ngữ của những nghi thức triều đình, nhưng cũng có thể dùng để chỉ người tôi tớ được chủ một gia đình hay bộ tộc nhân làm con nuôi. Dưới ánh sáng này, tác giả Thánh vịnh, là người cũng diễn tả chính mình như là "người trung hiếu" của Chúa (x. c. 2), cảm hấy mình được kết hợp với Chúa không những do sự ràn buộc của đức vâng lời, mà còn của tình thân thuộc và hiệp thông. Đó là lý do tại sao lời câu khẩn của ông đầy sự bỏ mình và hy vọng tín cẩn.

Bây giờ chúng ta hãy theo dõi kinh này mà phụng vụ kinh sáng đề nghị với chúng ta khi ngày bắt đầu, một ngày có lẽ mang theo mình không những những sự cam kết và cố gắng, nhưng cũng những hiểu lầm và khó khăn.

2. Thánh vịnh mở đầu với một lởi kêu xin mãnh liệt, tác giả Thánh vịnh dâng lên Chúa, tin cậy vào tình yêu của Người (x. cc. 1-7). Cuối cùng ông lại bày tỏ sự chăc chắn rằng Chúa là "Thiên Chúa nhân hậu từ bi, chậm giận, giàu tình thương và lòng thành tín"(c. 15; x. Sh 34:6). Những lời khẳng định lập đi lập lại và xác tín này của lòng tín cẩn mạc khải một đức tin nguyên vẹn và tinh tuyền, phó thác mình cho "Đức Chúa... nhân hậu khoan hồng, giàu tình thương với mọi kẻ kêu xin" (Tv. 85[86]:5).

Một thánh thi cất lên giữa Thánh vịnh, hoà hợp những cảm giác tạ ơn với một sự xưng đức tin vào những công trình cứu rỗi Chúa tỏ bày trước các dântộc (x. cc 8-13).

3. Chống lại mọi cơn cám dỗ thờ ngẫu tượng, tác giả Thánh vịnh công bố sự duy nhất tuyệt đối của Chúa (x. 8). Cuối cùng ông bày tỏ niềm hy vọng táo bạo một ngày kia "muôn dân" sẽ thờ lạy Chúa Israel (c. 9). Viễn tượng lạ lùng này ứng nghiệm trong Giáo hội Chúa Kitô, bởi vì Người đã mời các tông đồ của Người giảng dạy "muôn dân" (Mt 28:19). Chỉ một mình Chúa có thể cống hiến sự cứu vớt trọn vẹn, bởi vì tất cả tùy thuộc vào Người như những tạo vật và tất cả sẽ về phủ phục trước tôn nhan (x. Tv 85[86]:9}. Thật vậy, Người tỏ bày những việc lạ lùng của Người, những thứ chứng tỏ vương quyền tuyệt đối của Người trong vũ trụ và trong lịch sử (x. c. 10).

Tới đây tác giả Thánh vịnh trình diện mình trước mặt Chúa với một tiếng kêu xin mãnh liệt và tinh ròng: "Xin dạy con đường lối Ngài, lạy Chúa, để con vững bước theo chân lý của Ngài, để con biết một niềm kính tôn Danh Thánh" (c. 11). Đây là một sự cầu xin tốt đẹp để biết ý muốn của Chúa, cũng như lời cầu khẩn được ban " lòng đơn sơ, " như lòng của một đứa bé, phó thác mình cho Cha không với hai ý hay tính toán để cha hướng dẫn mình trên con đường sự sống.

Thánh vịnh 85[86] là một bản văn quen thuộc Dothái giáo, được lồng vào trong phụng vụ Yom Kippyr, hoặc ngày đền tội, một trong những lễ trọng quan trọng nhất. Sách Khải huyền, tới phiên mình, có trích lấy một câu trong đó (x. c. 9), đặt nó vào trong phụng vụ vinh hiển thiên đàng tại trung tâm bài hát của Mose, người tôi tớ Chúa, và bài ca con Chiên: "Muôn nước sẽ về phủ phục trước tôn nhan, " và Sách Khải huyền nói thêm: " "vi ai ai cũng đều thấy rõ những phán quyết công minh của Ngài" " (Kh 15:4).


Thánh Augustine dành ra một bình luận dài và thiết tha cho Thánh vịnh chúng ta trong sách Bình luận của ngài về các Thánh vịnh, biến nó thành một bài ca của Chúa Kitô và của người Kitô hữu. Theo bản Hy lạp 70, thay vì tiếng "trung hiếu, " bản dịch Latinh trong câu hai dịch là "thánh": "Xin hãy bảo vệ con vì con là người thánh. "Trên thực tế, chỉ một mình Chúa Kitô là thánh.

Dầu vậy, Thánh Augustine giải thích rằng người Kitô hữu cũng có thể áp dụng những lời này cho chính mình: "Con là thánh bởi vì Chúa đã thánh hóa con, bởi vì con đã nhận lãnh [danh hiệu này], không phải vì con tự có nó, nhưng vì Chúa đã ban nó cho con, không do công nghiệp gì của con. "Do đó, "mọi người Kitô hữu cũng có thể nói, hay đúng hơn toàn thân thể Chúa Kitô có thể la lên khắp nơi, khi chịu những nổi khổ cực, những cơn cám dỗ khác nhau, những gương xấu vô số kể: "Xin bảo vệ linh hồn con, bởi vì con là thánh! Xin cứu người tôi tớ Chúa, lạy Chúa con, là kẻ tin nơi Ngài. " Kìa, vị thánh này không kiêu hãnh, bởi vì ông hy vọng vào Chúa" (Vol. II, Rome, 1970, p. 1251).

5. Người Kitô hữu thánh mở lòng mình đón nhận sự phổ quát của Giáo hội và cầu nguyện với tác gia Thánh vịnh: "Muôn dân chính tay Ngài tạo dựng sẽ về phủ phục trước Thánh Nhan, lạy Chúa" (Tv 85[86]:9). Và Augustine giải thích: "Tất cả mọi người trong một Chúa chỉ là một dân và tạo thành sự duy nhất. Cũng như có Giáo hội và những giáo hội, và những giáo hội là Giáo hội, cũng vậy "dân" là cũng y như nhiều dân. Trước tiên họ là những dân khác nhau, nhiều dân; bây giờ họ chỉ là một dân. Tại sao chỉ một dân? Bởi vì đức tin chỉ là một, hy vọng chỉ là một, bác ái chỉ là một, sự chờ đợi chỉ là một. Sau cùng, bởi vì tại sao không thể là một dân khi chỉ có một quê hưong? Quê hương là thiên đàng, quê hương là jerusalem. Va người ta trải dài từ Đông tới Tây, từ phần bắc tới biển, qua bốn hướng thế giới" (ibid. , p. 1269).


Sau cùng Đức Giáo hoàng nói bằng tiếng Anh:

Anh chị em thân mến.


Thánh vịnh 85 là một kinh hùng hồn bày tỏ sự trông cậy và niềm tin vào Chúa Đấng ban ơn cứu độ cho những kẻ kêu tới Người. Chúa giàu lòng rắc ẩn và thương xót với các tôi tớ Người, với những kẻ tìm kiếm hiểu biết những đường lối và chân lý của Người. Muôn dân trên mặt đất được kêu gọi thờ phượng Chúa và tôn vinh danh Người. Và nhờ Chúa Kitô, Đấng Thánh duy nhất, muôn dân trần gian trở nên dân thánh của Chúa, trong đức tin, đức cậy và đức mến, khi họ cất cao tiếng ngợi khen một Chúa trời đất.

Tôi gởi lời chào đặc biệt tới các người hành hương từ Gibraltar, có Giám mục mình đồng hành, và tới các phần tử Ca đoàn Chánh tòa Thành phố Hồ Chí Minh, Vietnam. Tôi xin ân sủng và hòa bình trong Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, xuống trên tất cả những khách tham quan nói tiếng Anh hiện diện trong buổi triều yết hôm nay--cách riêng những kẻ đến từ Enland, Wales, Ireland, Gibralta, Vietnam, Canada và Hiệp-Chúng-quốc Mỹ châu--