LAO ÐỘNG LÀ MÃNH ÐẤT TRUYỀN GIÁO
LTS - Là tu sĩ dòng Biển Đức, là người quản nhiệm Đơn vị Nghiên Cứu và Học Viện ‘Cảm thức và Tăng trưởng’ (Sens et Croissance), là hoạt náo viên những buổi trao đổi về ‘Đạo đức và Hiệu năng’ (Ethique et Performance) của MBA tại HEC, cha Hugues Minguet đã phát biểu về mối tương quan giữa Đức Tin Kitô giáo và lao động. Xét rằng đây là một vấn đề rất thích hợp với Liên Đới nghề nghiệp, tôi xin dựa theo ý tưởng của cha Hugues Minguet, nêu lên một vài điểm chuẩn bị cho NGÀY LIÊN ĐỚI sắp tới, 01. 05. 2005.
Giáo huấn chính yếu của Tòa Thánh về vấn đề Lao Động.
Thật khó để tóm tắt trong mấy dòng những suy tư quá bao la của Tòa Thánh về học thuyết xã hội, cách riêng về vấn đề lao động. Đức Gioan Phaolô II đã viết riêng thông điệp ‘Laborem Exercens’ (1981) (Sống Lao Động). Chính Công Đồng đã suy gẫm nhiều về sự dấn thân của con người trong lao động. Học Thuyết Xã Hội luôn hướng nhìn một trật về nhân vị và cộng đoàn : mọi người có quyền phát triển bản thân theo phương cách riêng của mình, nhưng đồng thời là người có tương quan, phải đóng góp và tham dự vào công trình xây dựng cộng đoàn nhân loại. Thông điệp Laborem Exercens đặc biệt quan tâm đến những tương quan của lao động với đời sống gia đình.
Giáo Hội nêu bật giá trị lao động trong nhiều hoàn cảnh.
Giáo Hội nêu bật điểm suy tư này trong bối cảnh con người làm việc. Vì thế đương nhiên Giáo Hội quan tâm đến chiều kích xã hội, văn hóa chính trị và chính trị địa lý (geopolitique). Đó là đối tượng của thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (1987) (Mối bận tâm về vấn đề xã hội) đã nhấn mạnh đến tình trạng bất quân bình giữa Bắc và Nam, và của thông diệp Centesimus Annus (1991) (Năm thứ 100) đã trình bày tổng quát hơn về những hệ thống kinh tế và những hậu quả của chúng trên đời sống nhân loại.
Suy nghĩ của quyền giáo huấn còn bén sâu trong viễn tượng nhân chủng học mà hai chương đầu sách Sáng Thế khai triển rộng rãi. Trước khi con người sa ngã, lao động được trình bày như một hồng ân của Thiên Chúa. Thánh Kinh có một ý niệm cao vời về lao động. Điều quan trọng là luôn phải trở lại với những bản văn kiến tạo nền tảng thiết yếu về nhân chủng học này.
Lao động trước tiên là ‘vì con người’
chứ không phải con người ‘vì lao động’.
Đức Gioan-Phaolô II nhấn mạnh rất nhiều đến khía cạnh nhân bản và việc nhân vị hóa lao động. Con người không phải là đối tượng, nhưng là chủ thể của sản xuất. Một cách chắc chắn, con người là trung tâm và cùng đích của lao động. Trong Laborem Exercens, Ðức Gioan-Phaolô II mở ra những viễn tượng chứng tỏ lao động là nguồn suối tự do, nhân cách, trách nhiệm. Một cách gián tiếp, Ðức Gioan Phaolô II thẳng nhặt đối kháng với quan điểm lao động của cộng sản cũng như của tư bản, coi như hai hình thức vong thân, bởi lẽ ở đó con người không được kính trọng, không còn là chủ thể của lao động.
Thực tế, trong các xí nghiệp hiện
con người bị hành xử như dụng cụ sản xuất.
Tổng quát hóa như vậy là nguy hiểm. Văn hóa của xí nghiệp, các ngành nghề, môi trường làm việc... đều có nhiều ảnh hưởng đến vấn đề con người. Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử chúng ta thấy có một sự tiến triển khá tích cực, thí dụ làm việc ít nặng nhọc hơn. Sự can thiệp của các luật xã hội đòi buộc nhìn nhận phẩm giá con người. Sự bình đẳng giữa người nam và người nữ, tuy còn xa vời trong phạm vi trả lương, nhưng người ta đã có những cái nhìn mới về phẩm giá người nữ lao động. Con số tạo nên việc làm mỗi ngày một gia tăng. Song song với những cưỡng bức mới, chúng ta thấy xuất hiện : hiện tượng toàn vũ hóa, sự giảm bớt số người không thích ứng với đà tiến mau của thế giới và với những thay đổi mau lẹ về kỹ thuật. Một điều hiển nhiên, vì coi trọng số vốn đầu tư, người ta đang gây nên những hệ thống chèn ép nhân phẩm và phi nhân bản, thất nghiệp và sống ngoài lề xã hội của những người nghèo khổ nhất. Hiện tượng toàn cầu hóa làm cho nhiều gười lo sợ. Nhưng phải tìm cách thích ứng với thực tế này. Chắc chắn thực tế này sẽ tạo nên tinh thần liên đới thâm sâu.
Hình dung một chủ ông kitô.
Chủ ông kitô phải đương đầu với với những đòi hỏi và những cưỡng bức giống như bất cứ một chủ ông hay một nhà lãnh đạo nào khác. Ông phải là người thật chuyên nghiệp, thật có tài quản lý, ông phải có một cách cung xử thật độc đáo, phải biết gợi lên chung quanh một phẩm chất cao về chủ đích lao động ngay trong xí nghiệp ông điều hành. Do ông mà những người làm việc trong xí nghiệp sẽ được tác động tích cực hay tiêu cực bởi hoạt động của xã hội. Khó phân biệt ông với người khác. Không nhất thiết phải là kitô giáo mới là người đạo đức (ethique). Người lãnh đạo kitô càng cần trở về nguồn. Thật như vậy. Biết sống theo ơn ChúaThánh Thần, chủ ông kitô có thể phán biệt khôn khéo về gia trị lao động và giá trị con người, có cái nhìn nhân bản kitô giáo trong mọi hoạt động của xí nghiệp. Tin tưởng vào Quan Phòng ông sẽ tạo nên nhiều cởi mở bất ngờ. Không riêng chủ ông mà tất cả chúng ta có thể và phải quy hướng và hòa nhập việc làm của chúng ta vào sức mạnh hoạt động của Thiên Chúa. Đức khiêm tốn cần thiết cho một chủ ông kitô giáo. Mọi kitô hữu đều là tội nhân đang trên đường trở lại. Vì nhiều trường hợp thật khó phán biệt chúng ta có quyết định tốt hay quyết định xấu.
Vài lời về xí nghiệp kitô.
Đối với tôi cụm từ ‘xí nghiệp kitô giáo’ không có nghĩa gì cả, cũng giống như cụm từ ‘xí nghiệp đạo đức’ vậy. Chúng ta biết xí nghiệp thường xuyên ở dưới sự căng thẳng, vì những nhu cầu kinh tế gắn liền với thị trường, vì đồng lương trả cho nhân công, vì tiền lời tính cho người có cỗ phần, vì giá tiền trả cho những người cung cấp hàng hóa, vì phương án nghiên cứu và phát triển.... Giữ quân bình được tất cả là chuyện không thể bảo đảm. Ai có thể tự hào là kitô giáo hay là nhà đạo đức trong mọi hoàn cảnh. Người ta có thể là kitô, tổ chức công việc theo quan điểm xã hội kitô giáo, nhưng không thể gọi là ‘xí nghiệp kitô giáo’. Vì nói về đạo đức, tức là nói về việc sống các giá trị phúc âm và mời gọi khiêm tốn trong ngôn từ. cần chú ý đến hành động, đến cách sống, đến quan điểm nhân bản hơn là chú ý đến các tấm bích chương hay các bài diễn thuyết. Tôi xác tín rằng người kitô hữu cần làm và có thể cộng tác với những người thiện chí khác, thực hiện trong xí nghiệp những chương trình nhân bản hóa, tôn trọng nhân vị theo tinh thần phúc âm. Tóm lại, lao động luôn có vị thế tuyên chứng và đối thoại, lao động là mảnh đất truyền giáo.
Mỗi năm chỉ có một ngày
Tháng Năm Mồng Một xum vầy bên nhau
Cây hoa Liên Đới muôn mầu,
Xin Anh xin Chị rủ nhau cùng về!
Gặp nhau, tình tính tang, tang tình...?
(Giaoxuvnparis.org)
LTS - Là tu sĩ dòng Biển Đức, là người quản nhiệm Đơn vị Nghiên Cứu và Học Viện ‘Cảm thức và Tăng trưởng’ (Sens et Croissance), là hoạt náo viên những buổi trao đổi về ‘Đạo đức và Hiệu năng’ (Ethique et Performance) của MBA tại HEC, cha Hugues Minguet đã phát biểu về mối tương quan giữa Đức Tin Kitô giáo và lao động. Xét rằng đây là một vấn đề rất thích hợp với Liên Đới nghề nghiệp, tôi xin dựa theo ý tưởng của cha Hugues Minguet, nêu lên một vài điểm chuẩn bị cho NGÀY LIÊN ĐỚI sắp tới, 01. 05. 2005.
Giáo huấn chính yếu của Tòa Thánh về vấn đề Lao Động.
Thật khó để tóm tắt trong mấy dòng những suy tư quá bao la của Tòa Thánh về học thuyết xã hội, cách riêng về vấn đề lao động. Đức Gioan Phaolô II đã viết riêng thông điệp ‘Laborem Exercens’ (1981) (Sống Lao Động). Chính Công Đồng đã suy gẫm nhiều về sự dấn thân của con người trong lao động. Học Thuyết Xã Hội luôn hướng nhìn một trật về nhân vị và cộng đoàn : mọi người có quyền phát triển bản thân theo phương cách riêng của mình, nhưng đồng thời là người có tương quan, phải đóng góp và tham dự vào công trình xây dựng cộng đoàn nhân loại. Thông điệp Laborem Exercens đặc biệt quan tâm đến những tương quan của lao động với đời sống gia đình.
Giáo Hội nêu bật giá trị lao động trong nhiều hoàn cảnh.
Giáo Hội nêu bật điểm suy tư này trong bối cảnh con người làm việc. Vì thế đương nhiên Giáo Hội quan tâm đến chiều kích xã hội, văn hóa chính trị và chính trị địa lý (geopolitique). Đó là đối tượng của thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (1987) (Mối bận tâm về vấn đề xã hội) đã nhấn mạnh đến tình trạng bất quân bình giữa Bắc và Nam, và của thông diệp Centesimus Annus (1991) (Năm thứ 100) đã trình bày tổng quát hơn về những hệ thống kinh tế và những hậu quả của chúng trên đời sống nhân loại.
Suy nghĩ của quyền giáo huấn còn bén sâu trong viễn tượng nhân chủng học mà hai chương đầu sách Sáng Thế khai triển rộng rãi. Trước khi con người sa ngã, lao động được trình bày như một hồng ân của Thiên Chúa. Thánh Kinh có một ý niệm cao vời về lao động. Điều quan trọng là luôn phải trở lại với những bản văn kiến tạo nền tảng thiết yếu về nhân chủng học này.
Lao động trước tiên là ‘vì con người’
chứ không phải con người ‘vì lao động’.
Đức Gioan-Phaolô II nhấn mạnh rất nhiều đến khía cạnh nhân bản và việc nhân vị hóa lao động. Con người không phải là đối tượng, nhưng là chủ thể của sản xuất. Một cách chắc chắn, con người là trung tâm và cùng đích của lao động. Trong Laborem Exercens, Ðức Gioan-Phaolô II mở ra những viễn tượng chứng tỏ lao động là nguồn suối tự do, nhân cách, trách nhiệm. Một cách gián tiếp, Ðức Gioan Phaolô II thẳng nhặt đối kháng với quan điểm lao động của cộng sản cũng như của tư bản, coi như hai hình thức vong thân, bởi lẽ ở đó con người không được kính trọng, không còn là chủ thể của lao động.
Thực tế, trong các xí nghiệp hiện
con người bị hành xử như dụng cụ sản xuất.
Tổng quát hóa như vậy là nguy hiểm. Văn hóa của xí nghiệp, các ngành nghề, môi trường làm việc... đều có nhiều ảnh hưởng đến vấn đề con người. Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử chúng ta thấy có một sự tiến triển khá tích cực, thí dụ làm việc ít nặng nhọc hơn. Sự can thiệp của các luật xã hội đòi buộc nhìn nhận phẩm giá con người. Sự bình đẳng giữa người nam và người nữ, tuy còn xa vời trong phạm vi trả lương, nhưng người ta đã có những cái nhìn mới về phẩm giá người nữ lao động. Con số tạo nên việc làm mỗi ngày một gia tăng. Song song với những cưỡng bức mới, chúng ta thấy xuất hiện : hiện tượng toàn vũ hóa, sự giảm bớt số người không thích ứng với đà tiến mau của thế giới và với những thay đổi mau lẹ về kỹ thuật. Một điều hiển nhiên, vì coi trọng số vốn đầu tư, người ta đang gây nên những hệ thống chèn ép nhân phẩm và phi nhân bản, thất nghiệp và sống ngoài lề xã hội của những người nghèo khổ nhất. Hiện tượng toàn cầu hóa làm cho nhiều gười lo sợ. Nhưng phải tìm cách thích ứng với thực tế này. Chắc chắn thực tế này sẽ tạo nên tinh thần liên đới thâm sâu.
Hình dung một chủ ông kitô.
Chủ ông kitô phải đương đầu với với những đòi hỏi và những cưỡng bức giống như bất cứ một chủ ông hay một nhà lãnh đạo nào khác. Ông phải là người thật chuyên nghiệp, thật có tài quản lý, ông phải có một cách cung xử thật độc đáo, phải biết gợi lên chung quanh một phẩm chất cao về chủ đích lao động ngay trong xí nghiệp ông điều hành. Do ông mà những người làm việc trong xí nghiệp sẽ được tác động tích cực hay tiêu cực bởi hoạt động của xã hội. Khó phân biệt ông với người khác. Không nhất thiết phải là kitô giáo mới là người đạo đức (ethique). Người lãnh đạo kitô càng cần trở về nguồn. Thật như vậy. Biết sống theo ơn ChúaThánh Thần, chủ ông kitô có thể phán biệt khôn khéo về gia trị lao động và giá trị con người, có cái nhìn nhân bản kitô giáo trong mọi hoạt động của xí nghiệp. Tin tưởng vào Quan Phòng ông sẽ tạo nên nhiều cởi mở bất ngờ. Không riêng chủ ông mà tất cả chúng ta có thể và phải quy hướng và hòa nhập việc làm của chúng ta vào sức mạnh hoạt động của Thiên Chúa. Đức khiêm tốn cần thiết cho một chủ ông kitô giáo. Mọi kitô hữu đều là tội nhân đang trên đường trở lại. Vì nhiều trường hợp thật khó phán biệt chúng ta có quyết định tốt hay quyết định xấu.
Vài lời về xí nghiệp kitô.
Đối với tôi cụm từ ‘xí nghiệp kitô giáo’ không có nghĩa gì cả, cũng giống như cụm từ ‘xí nghiệp đạo đức’ vậy. Chúng ta biết xí nghiệp thường xuyên ở dưới sự căng thẳng, vì những nhu cầu kinh tế gắn liền với thị trường, vì đồng lương trả cho nhân công, vì tiền lời tính cho người có cỗ phần, vì giá tiền trả cho những người cung cấp hàng hóa, vì phương án nghiên cứu và phát triển.... Giữ quân bình được tất cả là chuyện không thể bảo đảm. Ai có thể tự hào là kitô giáo hay là nhà đạo đức trong mọi hoàn cảnh. Người ta có thể là kitô, tổ chức công việc theo quan điểm xã hội kitô giáo, nhưng không thể gọi là ‘xí nghiệp kitô giáo’. Vì nói về đạo đức, tức là nói về việc sống các giá trị phúc âm và mời gọi khiêm tốn trong ngôn từ. cần chú ý đến hành động, đến cách sống, đến quan điểm nhân bản hơn là chú ý đến các tấm bích chương hay các bài diễn thuyết. Tôi xác tín rằng người kitô hữu cần làm và có thể cộng tác với những người thiện chí khác, thực hiện trong xí nghiệp những chương trình nhân bản hóa, tôn trọng nhân vị theo tinh thần phúc âm. Tóm lại, lao động luôn có vị thế tuyên chứng và đối thoại, lao động là mảnh đất truyền giáo.
Mỗi năm chỉ có một ngày
Tháng Năm Mồng Một xum vầy bên nhau
Cây hoa Liên Đới muôn mầu,
Xin Anh xin Chị rủ nhau cùng về!
Gặp nhau, tình tính tang, tang tình...?
(Giaoxuvnparis.org)