LINH MỤC VÀ BẬC ĐỘC THÂN

Gần đây, trong những ngày Đức cố Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II lâm trọng bệnh, giới truyền thông báo chí đã xôn xao bàn tán nhiều và đưa ra một số vấn đề được coi như những thách đố ghê gớm đặt ra cho đấng kế vị ngài. Trong các thách đố đo, có vấn đề độc thân của linh mục. Ngưòi ta dựa vào vụ lạm dụng tình dục trẻ em của một số linh mục bên Mỹ mấy năm trước và những khó khăn cũng như sai phạm của một số linh mục ở nơi này nơi kia mà đòi xét lại vấn đề.

Bàn về vấn đề này, Đức cố GH Gio-an Phao-lô II dạy như sau :

1. Theo các sách Tin Mừng, khi Chúa Giê-su gọi các môn đệ đầu tiên để làm cho các ông thành những kẻ lưới người (Mt 4,4; Mc 1,17; x. Lc 5,10), các ông đã bỏ mọi sự và đi theo Người (Lc 5,11; x. Mt 4,20.22; Mc 1,18-20). Một hôm ông Phê-rô hỏi Chúa Giê-su :”Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì ? “ (Mt19,27; Mc 10,28; x. Lc 18,28) Chúa Giê-su kể ra tất cả những sự dứt bỏ cần thiết vì Người và vì Tin Mừng (Mc10,29). Không phải chỉ dứt bỏ những sự vật chất như của cải, nhà cửa, ruộng vườn mà cả những người mình yêu quí nhất như cha mẹ, ông bà, anh chị em, bạn hữu (Lc 18,29).

Ở đây có vấn đề các ơn gọi khác nhau. Chúa Giê-su đã không đòi các môn đệ của Người phải từ bỏ triệt để đời sống gia đình, dù Người đòi ai nấy phải dành chỗ nhất trong trái tim của mình cho Người, khi Người bảo : “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai, con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.” (Mt 10,37) Sự đòi hỏi phải từ bỏ thiết thực là dành riêng cho đời sống thánh hiến đặc biệt. Được Chúa Giê-su gọi, ông Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê và người em là Gio-an không chỉ bỏ thuyền, nơi các ông đang vá lưới mà bỏ cả người cha đang ở với các ông lúc bấy giờ (Mt 4,22; x. Mc 1,20).

Những nhận xét trên giúp chúng ta hiểu được tại sao có luật của Hội thánh về bậc độc thân của linh mục. Thật vậy, Hội thánh đã nghĩ và còn nghĩ rằng bậc độc thân linh mục nằm trong sự hợp lý của đời thánh hiến, một đời hoàn toàn thuộc về Chúa Ki-tô, nhằm thực hiện cách ý thức lệnh truyền về đời sống thiêng liêng và công cuộc rao giảng Tin Mừng.

2. Trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, đoạn nói về sự xa cách, từ bỏ người thân, Chúa Giê-su dùng một kiểu nói sê-mít để chỉ một sự từ bỏ cần thiết khác vì Nước Trời là từ bỏ lập gia đình : “Có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời” (Mt 19,12), nghĩa là tự nguyện sống độc thân để có thể hoàn toàn phục vụ Tin Mừng Nước Thiên Chúa (Mt 4,23; 9,35; 24,34).

Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Co-rin-tô, thánh Phao-lô quả quyết mình đã dứt khoát chọn con đường này và cho thấy sự ăn ý chặt chẽ của quyết định trên : “Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì. Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa : họ tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời : họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi.” (1 Cr 7,32-34) Đã hẳn, người được gọi làm linh mục không nên bị chia đôi. Công Đồng nói : “Dấn thân sống độc thân phát xuất từ truyền thống bắt nguồn từ Chúa Ki-tô là điều đặc biệt thích hợp với đời sống linh mục. Nó vừa là dấu chỉ, vừa là động lực của đức ái mục tử, một nguồn mạch sức sống thiêng liêng phong phú trên thế giới” (PO 16).

Trong Hội thánh Đông Phương, có nhiều linh mục lập gia đình cách chính đáng theo luật Hội thánh của họ. Nhưng các giám mục và một số linh mục vẫn sống độc thân. Sự khác biệt về kỷ luật gắn liền với những điều kiện thời gian và không gian, theo sự xét đoán được giải thích do sự kiện này như Công Đồng nói, vì sự tiết dục hoàn toàn không phải là điều kiện đòi hỏi của chính bản tính chức linh mục. Nó không thuộc về yếu tính của chức linh mục xét theo bí tích Truyền Chức và không bị áp đặt tuyệt đối cho mọi Hội thánh. Tuy nhiên, nếu xét theo sự xứng hợp nên chăng thì tiết dục rất thích hợp với những đòi hỏi của bí tích Truyền Chức. Nó hợp với sự hữu lý của việc thánh hiến.

Lý tưởng cụ thể của bậc đời thánh hiến này là Chúa Giê-su, gương mẫu của tất cả mọi người, đặc biệt của các linh mục. Người đã sống độc thân và đã cống hiến tất cả sức lực của mình để rao giảng Nước Thiên Chúa và phục vụ mọi người với tấm lòng rộng mở. Người đã chọn sống độc thân vì Nước Trời (Mt 19,12). Do gương sáng của Người, một hướng mới đã được đặt ra và hướng này đã được nhiều người đi theo. Dựa vào các sách Tin Mừng, chúng ta thấy Nhóm Mười Hai là những người đầu tiên tham dự chức linh mục của Chúa Giê-su; các ông đã từ bỏ đời sống gia đình để đi theo Người. Các sách đó không bao giờ nói đến vợ con của các ông, dù thừa biết trước khi được Chúa Giê-su gọi, ông Phê-rô đã có gia đình (Mt 8,14; Mc 1,30; Lc 4,38).

4. Đối với chức linh mục mới, Chúa Giê-su không công bố luật, nhưng đề nghị lý tưởng độc thân. Lý tưởng này mỗi lúc một được xác định trong Hội thánh. Trong giai đoạn đầu phổ biến và phát triển Ki-tô giáo, một số linh mục có gia đình, được tuyển chọn và phong chức theo truyền thống Do thái. Trong các thư gửi môn đệ Ti-mô-thê (1 Tm 3,2-3) và Ti-tô (Tt 1,6) thánh Phao-lô yêu cầu những ai được chọn làm linh mục phải là những người cha gương mẫu, những người chồng chỉ có một đời vợ. Đó là thời kỳ Hội thánh đang được tổ chức, và có thể nói là đang trong thời kỳ thử nghiệm xem điều gì thích hợp với lý tưởng và lời khuyên của Chúa hơn cả, xét về kỷ luật sống. Từ kinh nghiệm và suy nghĩ, kỷ luật về bậc độc thân mỗi ngày một thêm sáng tỏ cho đến khi thành luật trong Hội thánh Tây Phương. Đó không phải chỉ là hiệu quả của một sự kiện pháp lý và kỷ luật mà chính là sự chín muồi về ý thức của Hội thánh trong vấn đề nên chăng của bậc độc thân linh mục, vì những lý do không những có tính lịch sử và thực hành, nhưng còn phát xuất từ nhận thức thích hợp mỗi lúc một rõ hơn giữa bậc độc thân và những đòi hỏi của chức linh mục.

5, Công Đồng Va-ti-ca-nô II nêu lên những lý do về sự xứng hợp mật thiết giũa bậc độc thân và chức linh mục :”Bằng cách giữ mình đồng trinh hay sống độc thân vì Nước Trời, các linh mục tận hiến cho Chúa Ki-tô một cách mới mẻ đặc biệt. Các ngài được tự do hơn để tận hiến cho Người và nhờ Người để phục vụ Thiên Chúa và mọi người, sẵn sàng mau mắn hơn trong việc phục vụ Triều đại của Người và công trình tái sinh sự sống siêu nhiên, có khả năng đón nhận tình phụ tử rộng rãi hơn trong Chúa Ki-tô. Khi gợi lại hôn lễ nhiệm mầu giữa Hội thánh và Đấng Phu Quân duy nhất là Chúa Ki-tô, các linh mục trở thành biểu hiệu sống động của thế giới tương lai đã hiện diện nhờ đức tin và đức ái, nơi con cái loài người khi sống lại sẽ không còn lấy vợ lấy chồng nữa.” (PO 16; x. Pastores do vobis 29.50)

Đó là những lý do khiến chúng ta nâng cao tâm hồn lên. Có thể tóm tắt những nét cốt yếu như sau : gắn bó hoàn toàn với Chúa Ki-tô, yêu mến và phục vụ Người với một tấm lòng không bị chia đôi (1 Cr 7,32-33), luôn sẵn sàng phục vụ Vương Quốc của Người và hoàn thành chức vụ linh mục trong Hội thánh, sống một đời sống giống như đời sống ở bên kia thế giới cách gương mẫu hơn. Điều đó có giá trị trong mọi thời và được coi như lý do và tiêu chuẩn cho mọi phán đoán và lựa chọn phù hợp với lời kêu mời từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giê-su. Vì vậy, Thượng Hội Đồng xác quyết : “Luật độc thân linh mục đang có hiệu lực trong Hội thánh la-tinh phải được tuân hành trọn vẹn.” (Ench. Vat. IV, 1219)

6. Quả vậy, luật độc thân ngày nay đang gặp những trở ngại đôi khi rất trầm trọng trong các điều kiện chủ quan cũng như khách quan của linh mục. Thượng Hội Đồng đã cứu xét, nhưng nghĩ rằng linh mục có thể vượt qua được, nếu đương sự biết tạo ra những điều kiện thích đáng, nghĩa là tăng thêm đời sống nội tâm nhờ cầu nguyện hy sinh hãm mình, từ bỏ, mến Chúa yêu người và những trợ giúp quân bình khác trong các mối giao thiệp với giáo dân, linh mục, giám mục, các đoàn thể trong giáo xứ và cộng đồng tín hữu.

Đó là một thứ thách đố Hội thánh đưa ra cho não trạng, xu hướng, những sự quyến rũ của thế gian với một ý muốn luôn mới mẻ về sự gắn bó và trung thành với lý tưởng Tin Mừng. Vì vậy, dù nhận rằng Đức Ki-tô có thể đánh giá và quyết định điều có thể làm trong ít nhiều trường hợp, nhưng Thượng Hội Đồng vẫn tái quả quyết rằng trong Hội thánh la-tinh, việc truyền chức cho những người có gia đình không được chấp nhận ngay cả trong những trường hợp đặc biệt.” (Ibid. IV, 1220) Hội thánh nghĩ rằng ý thức về một sự hiến thánh hoàn toàn đã chín muồi trong bao thế kỷ vẫn có lý do tồn tại và cần được hoàn thiện mỗi ngày một hơn.

Hội thánh biết rõ và nhắc lại cho các linh mục và giáo dân qua Công Đồng rằng việc giữ độc thân rất thích hợp với chức linh mục của Tân Ước do Chúa Cha ban cho, miễn là tất cả những ai thông phần chức tư tế của Chúa Ki-tô nhờ bí tích Truyền Chức và toàn thể Hội thánh, biết ăn ở khiêm nhường và thiết tha cầu xin. (PO 16)

Ngoài ra, còn phải xin cho được ơn hiểu biết giá trị của bậc độc thân linh mục, vì bậc này bao hàm một mầu nhiệm. Bởi thế, phải mạnh bạo và tin tưởng cầu xin, lòng luôn gắn bó với con người và công trình cứu chuộc của Chúa Ki-tô với tinh thần từ bỏ triệt để. Điều này chắc chắn làm cho người xin phải băn khoăn lo ngại. Chính Chúa Giê-su cũng cho biết là không phải ai cũng hiểu được cả (Mt 19,10-12). Hạnh phúc thay ai hiểu biết và bước đi trên con đường này.

(viết theo Le célibat sacerdotal đăng trong Documentation catholique số 2078, ngày 5-19.1993 của Đức cố GH Gio-an Phao-lô II, trong buổi gặp gỡ chung vào các chiều thứ tư hàng tuần)