LINH MỤC, CON NGƯỜI CỦA YÊU THƯƠNG
1. Trong các bài huấn giáo trước đây dành cho linh mục, nhiều lần tôi đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đức ái trong đời sống linh mục đối với anh em mình. Hôm nay tôi muốn bàn về vấn đề này một cách rõ ràng hơn nữa, dựa vào chính gốc rễ của đức ái này trong đời sống linh mục. Chúng ta có thể tìm thấy gốc rễ này ngay trong căn tính của linh mục là “người của Chúa”. Thư thứ nhất của thánh Gio-an Tông đồ dạy chúng ta rằng “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8) Vì vậy, linh mục chỉ có thể là con người của yêu thương. Nơi linh mục sẽ không có lòng mến Chúa đích thật, lòng đạo đức chân chính. nhiệt tâm tông đồ chính hiệu, nếu không có lòng yêu người.
Chính Chúa Giê-su đã cho thấy mối liên hệ giữa mến Chúa và yêu người, vì mến Chúa hết lòng không tách khỏi yêu người thật sự (x. Mt 22,36-40). Vì vậy, thánh Gio-an cho thấy sự liên hệ rất mật thiết giữa đôi bên khi lập luận : “Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ nơi Người : ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu mến anh em mình“ (1 Ga 4,21).
2. Chúa Giê-su mô tả lòng yêu mến này như là lòng yêu mến của một người chăn chiên tốt lành. Ngược hẳn với kẻ chăn thuê, người chăn chiên tốt không tìm lợi ích riêng cho mình, thậm chí lại còn hy sinh tính mạng cho đoàn chiên nữa (x. Ga10,11.15) Đó là một tình yêu rất anh hùng.
Chúa Giê-su đã thực hiện điều này trong đời sống của Người một cách thiết thực. Những ai nhận được sứ mệnh làm mục tử do bí tích truyền chức đều được kêu mời họạ lại trong đời sống của mình tình yêu anh hùng của người mục tử tốt và làm chứng bằng các hành động của mình.
3. Trong đời sống của Chúa Giê-su, người ta thấy rõ những đặc tính của đứa ái mục tử
này và Người yêu cầu các môn đệ phải noi gương bắt chước, đặc biệt là tính hiền lành và đức khiêm nhường (Mt 11, 29). Người cũng yêu cầu các ông phải từ bỏ những tham vọng cá nhân và óc thống trị để bắt chước Người là Đấng không đến để được phục vụ mà để phục vụ và hiến mình làm giá chuộc cho muôn người (Mc 10, 45; Mt 20, 28; x. Pastores do vobis 21-22).
Vì vậy, không được thi hành sứ md65nh mục tử với thái độ độc tài, kẻ cả (x. 1 Pr 5, 3) Thái độ này sẽ làm cho giáo dân bực bội và xa tránh. Theo gót Chúa Ki-tô là vị Mục tử nhân lành, linh mục phải tập cho mình tinh thần phục vụ khiêm tốn,
Hơn nữa, Chúa Giê-su còn làm gương cho chúng ta về một tình yêu đầy lòng thương cảm, nghĩa là thiết thực và thật lòng chia sẻ những đau khổ và khó khăn của các anh em mình. Người thương dân chúng, vì họ như đàn chiên không có người chăn (x. Mt 9, 36). Vì vậy, Người lấy lời ban sự sống mà hướng dẫn họ và bắt đầu dạy họ nhiều điều (x. Mt 6, 34). Vì thương cảm, Người chữa lành rất nhiều bệnh nhân (Mt 14, 14). Người làm cho bánh ra nhiều để nuôi dân chúng trong hoang địa (MT 15, 32; Mc 8, 2).
Người xao xuyến trước các nỗi cùng khốn của con người chúng ta (Mt 20, 34; Mc 1, 41) và tìm phương cứu chữa. Người chia sớt nỗi buồn với kẻ gặp tang chế (Lc 7, 31; Ga 11, 33-35). Ngay cả đối với tội nhân, Người cũng tỏ lòng thương xót (x. Lc 15, 1-2) qua dụ ngôn người con hư hỏng trở về (Lc 15, 20). Người ưa thích tình thương hơn lễ tế (Mt 9,10-13).
4. Dựa vào đời sống và cái chết của Chúa Giê-su, thư Do thái làm nổi bật nét cốt yếu của chức tư tế trong tình liên đới và thương cảm. Thực vậy : “Thượng tế là người được chọn trong số người phàm và được đặt lên làm đại diện cho loài người trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như lễ vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc” (Dt 5, 1-2). Vì thế, Con Thiên Chúa cũng phải “nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân” (Dt 2, 17). Bởi thế, thật là an ủi cho chúng ta khi biết rằng “ Vị Thương Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4, 15).
Như vậy, linh mục tìm thấy nơi Chúa Giê-su một gương mẫu về tình thương thực sự đối với những người đau khổ, túng thiếu, buồn phiền và nhất là những người tội lỗi, vì Người đã gần gũi loài người và sống như chúng ta. Người đầy lòng cảm thương chúng ta và “có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc” (Dt 5, 2), lại giúp đỡ đắc lực những ai đang gặp thử thách “vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2, 18)
5. Công đồng Va-ti-ca-nô II trình bày chức vụ linh mục như nguồn mạch đức ái mục tử qua đoạn văn sau đây : “Các linh mục của Tân Ước, do ơn gọi và chức thánh, một cách nào đó được tuyển chọn ngay giữa Dân Chúa, nhưng không phải để tách biệt khỏi dân ấy hoặc khỏi bất cứ người nào, mà là để tận hiến cho
công việc Chúa đã chọn họ làm. Họ không thể là thừa tác viên của Chúa Ki-tô, nếu không là chứng nhân và người ban phát một đời sống khác đời sống thế tục. Tuy nhiên, họ không thể phục vụ loài người, nếu sống xa cuộc sống và những hoàn cảnh của con người” (PO 3, 18-19).
Có hai đòi hỏi căn bản nêu rõ hai khía cạnh trong tác phong của linh mục. Đó là “chính thừa tác vụ của họ, vì mang một danh nghĩa đặc biệt, nên buộc họ không được theo thói thế gian; nhưng đồng thời lại đòi họ sống trong thế gian giữa loài người. Hơn nữa, như các mục tử nhân lành, các ngài phải nhận biết các chiên của mình và còn tìm cách dẫn về những chiên không thuộc đoàn này, để chúng cũng nghe tiếng Chúa Ki-tô, hầu nên một đoàn chiên và thuộc về một Chủ Chăn” (PO 3, 20-21)
6. Theo Công đồng, linh mục nào muốn rập khuôn theo Vị Mục Tử nhân lành và họa lại nơi mình tình thương đối với anh em, phải lưu ý đến mấy điểm rất quan trọng trong thời buổi ngày nay hơn những thời khác. Đó là :
* nhận biết các chiên của mình (PO 3, 20), đặc biệt qua các cuộc thăm hỏi, tiếp xúc, gặp gỡ trao đổi với ý hướng luôn luôn là một mục tử tốt lành
* tiếp đón như Chúa Giê-su đã tiếp đón những ai đến với Người, nghĩa là sẵn sàng, niềm nở, lắng nghe, mau mắn, tích cực tìm cách giúp đỡ những người nghèo khổ
* trau dồi những đức tính nói trên và đem ra thực hành, vì người ta rất để ý và quí chuộng những đức tính đó nơi các linh mục. Góc cạnh nhân bản nơi linh mục là phương thế tốt để thu phục nhân tâm. Một linh mục tử tế, quảng đại, lịch sự, không cáu kỉnh, bẳn gắt, biết kính trọng người khác, không khinh người, không phân biệt đối xử sẽ dễ gây được lòng cảm mến.
7. Nhờ đức ái nâng đỡ, khi thi hành chức vụ, linh mục có thể noi gương Chúa Giê-su, Đấng tuân phục thánh ý Chúa Cha và coi đó là lương thực dưỡng nuôi mình. Linh mục sẽ tìm được nguyên tắc và nguồn mạch thống nhất đời mình. Công đồng quả quyết rằng cáx linh mục phải kết hợp với Chúa Ki-tô trong việc tìm ra ý Chúa Cha... Sống chính đời sống của vị Mục tử nhân lành, linh mục sẽ tìm thấy trong khi thi hành đức ái mục tử, mối dây liên kết làm cho đời sống và hoạt động của mình nên hoàn hảo. Nguồn mạch cho linh mục đến kín múc sức thiêng vẫn làbí tích Thánh Thể, trung tâm và nền tảng đời sống linh mục, Như thế, tâm hồn của linh mục phải cố gắng phản ánh điều diễn ra trên bàn thờ.
An sủng và sức sống của bàn thờ lan rộng tới bục giảng, tòa giải tội, sổ sách nhà xứ, trường học, đường phố, phương tiện chuyên chở, giao tế xã hội, bất kể nơi nào linh mục có thể thi hành sứ vụ của mình. Trong mỗi trường hợp này, chính thánh lễ lan rộng, chính sự kết hợp thiêng liêng của linh mục với Chúa Giê-su là Linh mục và Tế Phẩm sẽ lám cho linh mục thành lúa miến, để có thể được coi là bánh tinh tuyền của Chúa Ki-tô, hầu mưu ích cho anh em mình.
(Le prêtre, homme de la charité, audience générale du 7 Juillet Documentation catholique no 2078 ngày 5 và 15,9,1993, l.m. An-rê Đỗ xuân Qế chuyển ý sang tiếng Việt)