THẦN HỌC XÁC THÂN CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ

Chương 4: Thân Xác Được Cứu Chuộc

Bài 4


II. Sự Cứu Chuộc Của Thân Xác

Việc thừa nhận thân xác đã được Thiên Chúa tạo dựng, xứng đáng để kết hợp với chính Thiên Chúa trong mầu nhiệm Nhập Thể, và như đền thờ Chúa Thánh Thần, còn được trợ giúp bởi ơn đạo đức. Đạo đức là một trong bẩy ơn của Chúa Thánh Thần hiện diện cùng với nhân đức thanh khiết qua tặng ân của ơn thánh hoá. Ơn đạo đức “dường như phục vụ nhân đức thanh khiết một cách đặc biệt, khiến cho chủ thể con người nhậy cảm với phẩm giá vốn là đặc trưng của thân xác con người nhờ mầu nhiệm Tạo Dựng và Cứu Chuộc. Chính nhờ tặng ân đạo đức, mà lời Thánh Phaolô: ‘Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Như thế anh em đâu còn thuộc về mình nữa’ (1 Cor. 6:19) đã nói lên thật hùng hồn một cảm nghiệm về ý nghĩa hôn phối của thân xác và về sự tự do của tặng vật gắn liền với nó…”

Do bởi chính hữu thể mình, cũng như do cách thức mình được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, một hình ảnh mặc lấy xác thịt, và đươc tạo dưng có nam có nữ, nên ý nghĩa hôn phối của thân xác chính là ý thức của con người về việc mình đươc kêu gọi để yêu thương như Thiên Chúa yêu thương và biểu lộ tình yêu ấy trong và qua thân xác mình. Ơn đạo đức gíup ta thủ đắc ý thức về phẩm giá thân xác mình như là phương tiện thể lý diễn đạt tình yêu giống như Thiên Chúa. Do đó, ơn đạo đức dẫn ta đến một ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác. Ơn đạo đức còn là một trong các tặng ân siêu nhiên quan trọng nhất để có thể phần nào phục hưng lại ý nghĩa nguyên thủy của thân xác khi còn trong tinh trạng vô tội. Đó là một trong các tặng ân cốt yếu nhất giúp ta tuân theo những điều Chúa dậy hàm chứa trong câu Ngài trả lời cho Biệt phái khi họ hỏi Ngài về vấn đề ly dị. Trong câu trả lời này, Chúa Kitô mời gọi những kẻ đang nghe Ngài, cũng như tất cả chúng ta, vốn đã gánh mang hậu quả nguyên tội, biết yêu thương trong thân xác và qua thân xác, như Ađam và Evà đã làm. Một lời mời gọi như thế chỉ có thể có được nhờ ơn Chúa giúp. Ơn đạo đức, được ban tặng khi ta có Chúa Thánh Thần cư ngụ trong lòng, chính là một trong những yếu tố quan yếu trong sự trợ giúp mà Chúa Kitô hiến tặng cho ta. Nhờ ơn đạo đức, ta có thể nhận thức được phẩm giá vô song của thân xác con người, điều phải có trước nếu ta muốn diễn đạt một tình yêu chân chính giống như Thiên Chúa qua chính thân xác ấy.

Với luận điểm này về ơn đạo đức, ĐGH đã hoàn tất một vòng các phân tích thần học về than xác. Thật là thích hợp khi sắp đặt sự bàn luận này vào cuối chu kỳ thứ hai trong loạt bài về Thần Học Xác Thân.

Trong số 58, ĐGH tóm lược tất cả công trình của Ngài trong hai chu kỳ đầu tiên (số 1-63) qua những lời Chúa rao giảng về hôn nhân và sự lăng loàn, “con người vô tội nguyên thủy, một cách nào đó, được nhắc nhở về ý thức của con người lăng loàn. Nhưng Lời Chúa lại rất thực tiễn. Lời ấy không cố gắng đưa trái tim con người trở về với tình trạng vô tội nguyên thủy mà nó đã bỏ lại sau lưng vào chính lúc phạm tội nguyên tổ; trái lại, Lời ấy chỉ cho con người con đuờng dẫn về sự thanh khiết của tâm hồn, điều có thể thực hiện được và thành đạt được, ngay cả khi mang lấy gánh tội lỗi di truyền. Đây chính là sự thanh khiết của ‘con người lăng loàn,’ nhưng được Lời Phúc Âm linh hứng, đã mở rộng đón chào ‘đời sống tuân theo Thánh Thần’ (phù hợp với lời thư của Thánh Phaolô), nghĩa là, sự thanh khiết của con người tuy lăng loàn nhưng lại hoàn toàn được bao bọc bởi ‘sự cứu chuộc của thân xác’ mà Chúa Kitô đã hoàn tất.”

Thanh khiết không đơn thuần là kiêng cữ điều nghịch với khiết tịnh, hoặc chỉ là sự tiết dục, mà còn, và đồng thời, mở ra con đường hướng đến sự khám phá ra ngày một rõ ràng hơn về phẩm giá của thân xác con người. Chính thân xác này được gắn bó chặt chẽ với sự tự do khi người nam và người nữ trao hiến bản thân cho nhau, trong tính chất đích thực trọn vẹn của chủ quan tính cá nhân.” Chính nhờ hồng ân đạo đức siêu nhiên mà phẩm giá của thân xác con người ngày càng được khám phá ra trọn vẹn hơn. Khi hành động phù hợp với phẩm giá của mình và của người khác, ta sẽ cảm nhận được một niềm vui khôn tả. “Quả vậy, sự thỏa mãn của đam mê là một chuyện, còn niềm vui mà con người tìm được trong hành vi tự chế hoàn toàn thì lại là một chuyện khác, bởi vì khi đó người ấy cũng có thể trở thành tặng vật cho người khác một cách trọn vẹn hơn.”

Trong một đoạn văn khác còn rõ ràng hơn, ĐGH viết, “Đấng Tạo Hoá đã chỉ định thân xác, nam cũng như nữ, cho con người như một trách vụ, và cũng trong nam tính hoặc nữ tính ấy, một cách nào đó, Ngài cũng chỉ định cho con người, như một trách vụ, cái nhân tính, phẩm giá, cũng như cái chỉ dấu rõ ràng của mối hiệp thông liên chủ thể, trong đó, con người tự kiện toàn qua việc trao hiến bản thân một cách đích thực.” Nếu thân xác là một ‘trách vụ,’ thì trách vụ ấy phải được hiểu thấu. Trách vụ mà Chúa Kitô đã trao ban ấy, ngày hôm nay lại được xác nhận qua những lời giáo huấn của Giáo Hội. Hơn nữa, để hoàn thành trách vụ, cần phải có một số điều đòi buộc, mà một trong số này liên quan đến trách nhiệm của nghệ thuật khi trình bầy thân xác con người.

III. Thân Xác Con Người trong Nghệ Thuật

Một nhạc sĩ đã phát biểu rằng nghệ thuật là ‘cháu của Thiên Chúa,’ theo ý nghĩa là: Thiên Chúa tạo dựng con người, rồi con người sáng tạo nghệ thuật. Nhưng còn có một ý nghĩa khác nữa: Thiên Chúa tạo dựng thế giới, và chính từ thế giới này, nghệ thuật đã múc lấy chất liệu để làm ra sản phẩm thủ công nghệ, lấy gạch đá để kiến trúc, lấy âm thanh dệt thành âm nhạc, lấy mầu sắc điểm tô hội họa, v.v…Cũng từ thế giới này, nghệ thuật còn xây dựng các chủ đề cho nó nữa. Họa sĩ vẽ phong cảnh hoặc hình hài muông thú. Kiến trúc sư thu góp các khuôn mẫu hình học để kiến tạo dinh thự, đền đài. Thiên Chúa tạo dựng thế giớI, và nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm từ chính thế giới được tạo dụng này.

Tuy nhiên chủ đề lớn nhất và thú vị nhất của tất cả mọi nghệ thuật chính là con người, bởi vì hữu thể nhân sinh là tạo vật hấp dẫn và lôi cuốn nhất mà Thiên Chúa đã tạo dựng trên quả đất này. Thật là thú vị khi thấy các kiệt tác của công trình nghệ thuật con người đều biểu hiện hữu thể nhân sinh: Davit của Michanganelo, Mona Lisa của Leonardo da Vinci, nhạc kịch Đám Cưới Figaro hoặc Don Giovanni, bi hùng kịch của Shakespeare, v.v.. Các kiệt tác này đều lấy chủ đề là chính hữu thể nhân sinh. Hơn nữa, vì nghệ thuật được cảm nhận qua ngũ giác, nên các tác phẩm nghệ thuật liên quan đến con người đều biểu hiện khía cạnh hữu hình và thể chất của hữu thể nhân sinh cũng như của thân xác con người.

Khi biểu hiện thân xác con người, nghệ thuật đã tách thân xác khỏi nhân vị. Khi sáng tạo một chủ đề nghệ thuật, nghệ nhân đã lấy thân xác con người, bức nó ra khỏi ý nghĩa của nó, nghĩa là, ra khỏi cái vai trò như là chỉ dấu và phương tiện của một nhân vị (mà thân xác biểu hiện) tự hiến cho một nhân vị khác. Như ĐGH đã viết: “Trong nghệ thuật, thân xác con người bị mất đi cái ý nghĩa chủ quan sâu xa của tặng vật, để trở thành một đối tượng cho tri thức của nhiều người.” Trong một đoạn văn khác, ĐGH lặp lại cùng một quan điểm, ngài viết rằng, “trong biểu hiện nghệ thuật về thân xác con người, cái yếu tố của tặng vật có thể nói là bị đình chỉ trong chiều kích của một nhận lãnh vô danh và một đáp trả không thể tiên liệu, và do đó, nó như bị ‘đe doa’ trong trật tự ý hướng, theo nghĩa là nó có thể trở thành một đối tượng nặc danh bị ‘chiếm đoạt’, một sự vật bị lạm dụng.” Nói khác đi, thân xác con người nói ngôn ngữ của việc nhân vị này tự hiến cho nhân vị khác. Khi thân xác bị tách khỏi nhân vị để trở thành một đối tượng cho nhiều người chiêm ngắm, nó có thể đánh mất ý nghĩa của nó là ngừng nói cái ngôn ngữ của sự tự hiến nhân vị này.

Sau khi phạm tội, do ảnh hưởng và hậu quả nguyên tội, ý thức về xấu hổ giúp tất cả chúng ta hiểu rằng thân xác con người không phải lúc nào cũng nói cái ngôn ngữ tự hiến cá nhân. Ý thức về xấu hổ còn khiến ta cố nắm giữ tặng vật qúi báu này của Tạo Hoá. Cùng với thanh khiết và đạo đức, xấu hổ giúp ta gìn giữ thân xác trong thánh thiện và vinh dự, và nhờ đó ta có thể che đậy được các ‘bộ phận thiếu trang nhã.’ Khỏa thân là một chủ đề rất thường tình của nghệ thuật. Vì thế, nghệ thuật hội họa khỏa thân có thể xâm phạm đến sự thánh thiện và vinh dự của thân xác. Nhưng liệu tất cả mọi ngành hội hoạ khỏa thân đều mang tính chất xâm phạm này chăng? Thưa không. Nghệ thuật chỉ xâm phạm sự liêm khiết của tính duy nhất thân xác-nhân vị, khi (1) “trong tác phẩm nghệ thuật, hoặc nhờ phương tiện thính thị, quyền lợi riêng tư của thân xác, nam cũng như nữ, bị xâm phạm; (2) khi các qui luật sâu xa của tặng vật và sự trao ban hỗ tương, vốn đã khắc sâu vào nam tính cũng như nữ tính qua toàn thể cơ cấu hữu thể con người, bị xâm phạm.”

Một nghệ sĩ tài năng, vững tay nghề, và biết nhìn vào thân xác con người với lòng thanh khiết thì có thể biểu hiện nghệ thuật khỏa thân một cách nào đó để hướng dẫn người thưởng lãm, qua thân xác, đạt đến được toàn thể mầu nhiệm cá nhân con người. Khi thưởng lãm các nghệ phẩm như thế, ta không thấy bị lôi kéo bởi nội dung để có ánh nhìn lăng loàn, mà trái lại còn học được ý nghĩa hôn phối của thân xác.” Các kiệt tác về nghệ thuật khỏa thân thì nói lên toàn thể sự thật về than xác như là chỉ dấu và phương tiện của việc người này trao thân cho người kia. Các tác phẩm ấy, trong một mức độ nào đó, xoáy sâu vào mầu nhiệm nhân vị, khiến chúng trở thành quyến rũ và lôi cuốn ta. Nhiều khi ta có thể lặng ngắm một tác phẩm cả hàng giờ mà không chán. Lý do là tác phẩm ấy chở đến cho ta những khía cạnh nào đó của cái chân lý toàn vẹn về thân xác-nhân vị, là chân lý về chính chúng ta.

Hẳn nhiên, không phải chỉ mỗi nghệ nhân mới có trách nhiệm sử dụng tài năng và kỹ năng của mình để biểu hiện cái chân lý toàn vẹn về con người, mà chính người thưởng lãm cũng cần ngắm nhìn tác phẩm bằng đôi mắt có mỹ quan, phẩm giá, và thánh thiện. Bởi lẽ, ngay cả kiệt tác cũng có thể được nhìn ngắm một cách không thích đáng. Nói khác đi, ngay cả bức tượng Đavít của Michaelangelo cũng có thể bị hạ giảm vào một giá trị duy nhất là giá trị phái tính qua con mắt của một ai đó chỉ muốn tập chú vào giá trị đơn độc đó mà thôi. Trong trường hợp này, cả chủ đề tác phẩm, nghĩa là cá nhân mà tác giả muốn biểu hiện, lẫn chính nghệ nhân, đều bị xâm phạm do cái nhìn “thèm muốn” như thế. Dĩ nhiên, chính kẻ thưởng lãm cũng tự xâm phạm. Bởi lẽ nếu con người sống động mà còn trở thành đối tượng lạm dụng thì nói gì đến kiệt tác! Do đó, khi biểu hiện thân xác con người trong nghệ thuật, thì ý nghĩa nhân tính, một cách nào đó, như được trao phó cho cả nghệ nhân lẫn người thưởng ngoạn.

TÓM KẾT

Vớí những suy tư về việc biểu hiện thân xác con người trong tác phẩm nghệ thuật, ĐGH kết thúc chu kỳ hai trong lọat bài THXT. Để có cái nhìn tổng quan, ta thấy trong chu kỳ một (số 1-23), ĐGH phân tích Lời Chúa Kitô đáp lại câu hỏi Biệt phái đặt cho Ngài về vấn đề ly dị. Trong chu kỳ hai (số 24-63), Ngài tập chú vào Bài Giảng Trên Núi của Chúa Kitô về vấn đề ngọai tình, cái nhìn thèm muốn. Chu kỳ ba (số 64-72) xoay quanh Lời Chúa Kitô trả lời nhóm Sađốc chất vấn Ngài về vụ người phụ nữ lấy bẩy anh em: “Vậy khi sống lại, bà ấy sẽ là vợ ai?” Những Lời đầu tiên của Chúa nói về ly dị, nhất là khi Ngài ám chỉ về “thuở ban đầu” đã đưa đến các phân tích của ĐGH về câu chuyện Ađam và Evà trước khi phạm tội. Lời Chúa giảng về ngọai tình đã đưa đến các phân tích của ĐGH về tình trạng con người lịch sử, tình trạng của tất cả chúng ta khi mang nặng gánh nguyên tội. Lời Chúa về hôn nhân và sự sống lại khiến ĐGH luận bàn về tình trạng con người ta sẽ bước vào sau khi thân xác phục sinh. Chu kỳ một khảo sát thân xác-nhân vị con người trước khi phạm tội. Chu kỳ hai khảo sát thân xác-nhân vị con người sau khi phạm tội. Còn chu kỳ ba sẽ khảo sát thân xác-nhân vị khi được vinh hiển cùng Chúa trên thiên đàng vào ngày tận thế. Có ba phương cách thân xác con người biểu thị nhân vị: (1) trong tình trạng vô tội trước khi phạm tội (quá khứ xa); (2) trong tình trạng tội lỗi khi sống trên dương trần (hiện tại); (3) và trong tình trạng phục sinh (tương lai). Chương kế tiếp sẽ bàn đến nhận xét của ĐGH về tính duy nhất thân xác-nhân vị khi con người ở trên thiên đàng sau ngày sống lại.

(Còn tiếp)