Tưởng niệm ĐGH GIOAN PHAOLÔ II (1920-2005)

VĨ NHÂN LÀ ĐỄ NGƯỠNG PHỤC,

THÁNH NHÂN LÀ ĐỂ NOI GƯƠNG”


Đó là cách tưởng niệm sự ra đi của ĐGH Gioan Phaolô nơi một giáo dân bình thuờng: Tiến sĩ Christopher Mirus, giáo sư triết học tại Hunter College, thành phố New York đăng trên trang nhà của “catholic culture“ tuần qua. Thiết tưởng tâm tình đạo đức này rất phù hợp với trào lưu đãng dấy lên trong nhiều người, nhất là giới trẻ, qua hình ảnh họ giăng lên các tấm biểu ngữ với hàng chữ: SANTO SUBITO (phơng thánh ngay) trong tang lễ có một không hai trong lịch sử mà ta chứng kiến hôm qua. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả chút tâm tình này.

Ông viết: “Trong những ngày giờ tiếp theo sau cái chết của vị Cha Chung, ai trong chúng ta đã theo dõi cuộc đời ngài, đã nghe ngài giảng dậy, đã cảm mến ngài, hẳn đã trải nghiệm được những cảm xúc mãnh liệt. Chúng ta ca ngợi ngài, và cũng nghe biết bao lời ngợi ca từ nhiều người khác, để rồi cảm thấy một nỗi mất mát trống vắng khôn nguôi trước sự ra đi của ngài. Nhưng các lời hay ý đẹp và tâm tình xúc cảm mà chi, nếu không kèm theo những việc làm cụ thể. Quả vậy, một cách đáp lại duy nhất khả thể khi ngài nằm xuống--lời đáp trả xứng hợp với cuộc đời và cái chết của một thánh nhân--chính là một cuộc trở lại mới, một cam kết mới, kể từ nay quyết tâm theo sát bước Chúa Kitô hơn.”

Ông còn nhận định rằng ĐGH Gioan Phaolô II sẽ được ghi nhớ mãi như một vị Giáo Hoàng, vì thấm nhuần sâu xa tinh thần và lời dậy của Công Đồng Vaticanô II, nên đã dẫn đưa Giáo Hội vững bước tiến vào đệ tam thiên kỷ. Vì thế, di sản của ngài có thể tóm tắt vào lời ngài kêu gọi khẩn thiết đã vang lên vào ngày lễ Hiển Linh năm 2001, giữa buổi hừng đông bừng dậy của thiên kỷ thứ ba: “Hãy ra khơi,” nghĩa là đi ra vùng biển sâu của sự thánh thiện. Quả thật, ĐGH đã khai mở những khóe nhìn dọi xoáy vào Tin Mừng cũng như đời sống Kitô hữu. Thật là sai lầm nếu chúng ta quên rằng nhiệm vụ lớn lao của người mục tử là liên lỉ nhắc đi nhắc lại lời chân lý từng nghe đã mòn tai: Thiên Chúa muốn mạc khải ý Ngài qua Chúa Kitô, và Thánh Ý Ngài chính là “Hãy nên thánh” (xem 1 Thes 4:3).

Khi cử hành đời sống và tôn vinh cái chết của ĐGH, ta cần hiểu rằng, nếu không hoán cải, không đổi đời, thì có thể nói là chúng ta chưa tôn vinh ngài đúng cách. Nếu chưa cam kết sống thánh thiện là chúng ta chưa hiểu đời ngài. “Vĩ nhân là để cho ta ngưỡng mộ và bái phục, nhưng thánh nhân là để cho ta noi gương bắt chước.” Vẫn theo giáo sư, chúng ta không được phép nghi rằng sự thánh thiện mà Chúa Kitô đòi hỏi và sự thánh thiện mà ĐGH rao giảng thì khác với sự thánh thiện ta phải theo đuổi hàng ngày. “Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành.” (Mt. 5:48)

Sự trọn lành Kitô hữu mà ta được mời gọi đến chính là sự kiện toàn của đức ái, của tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Có nghiã là mỗi sáng thức dậy, ta nên tự hỏi: Ngày hôm nay, bây giờ, tôi phải làm thế nào để tự thách đố mình nhiều hơn, sâu xa hơn, trong việc sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa, và rồi dùng thời gian làm việc, trò chuyện, và nghỉ ngơi mà phục vụ tha nhân? Tôi phải làm sao để yêu thương âm thầm, không khoa trương nhưng bền bỉ, dịu dàng mà can trường? Có nghiã là, trên hết, ta phải có một đời sống cầu nguyện, không chỉ như một con đường hiệu quả dẫn đến tình yêu tha nhân, nhưng còn là, và nhất là, bởi vì Thiên Chúa yêu ta trước. Không có thánh nhân nào không cầu nguyện, cầu nguyện sốt sắng liên lỉ, cầu nguyện để sống sao cho thích nghi với những đòi buộc của cuộc sống thuờng ngày.

Có nhiều đường nên thánh trong Giáo Hội, như biết bao thánh nhân đã nêu gương. Nếu chưa tìm ra con đường nên thánh, ta phải kêu cầu và lắng nghe, rồi Chúa Thánh Linh và thiên thần bản mệnh sẽ chỉ dẫn cho ta. Nếu ta có ơn gọi sống thánh giữa đời, ta hãy đọc những lời giảng dậy của thánh Giuse Maria Escriva, người mà ĐGH Gioan Phaolô đã gọi là “Vị Thánh của Đời Thuờng.” Nhưng thực ra, đường nên thánh nào thì cũng chỉ là thứ yếu, điều quan trọng vẫn là mục đích và quyết tâm đáp lại tiếng gọi và ân sủng của Chúa.

Vậy ta hãy cử hành đời sống của ĐGH Gioan Phaolô II bằng cách chú tâm đến lời ngài giảng dậy, và tôn vinh cái chết của ngài bằng cách sống như ngài đã sống.