CÁI CHẾT CỦA CHA LÀ SỨ ĐIỆP CHO NGÀN SAU
(Bài giảng dịp lễ Truy Điệu Đức cố GH Gioan Phaolô II)
Thưa anh chị em,
Tổ chức lễ truy điệu và cầu nguyện cho Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II là một bổn phận và đồng thời là một vinh dự cho con cái của Ngài. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngài qúa phong phú, tô đậm nét những hồng ân trong qúa khứ và cái chết của Ngài là một sứ điệp gởi lại cho ngàn sau những nhắc nhở với muôn vàn trân trọng. Lợi dụng những giây phút qúy báu trong lễ truy điệu Vị Cha Chung của chúng ta dây, tôi xin lần lượt thưa với anh chị em hai diểm sau đây:
Điểm I: SỨ ĐIỆP TỪ QÚA KHỨ TỒN ĐỌNG LẠI.
Chúng ta hãnh diện và chia sẻ niềm vui chung về những công trình và con người quang toả sức sống mãnh liệt nơi Vị Cha Chung. Trong phần đầu của buổi lễ truy diệu và tôn vinh Đức cố Gioan Phaolô II của toàn thể Giáo Hội toàn cầu đã nằm xuống, tôi hoàn toàn đồng ý với Cha Stêphanô Bùi Thượng Lưu trong bài viết VINH DANH CHA CHUNG KHẢ KÍNH KHẢ ÁI đăng trên VietCatholic News ngày 05/04/2005 như sau:
“Là một linh mục nhỏ bé, tôi cũng muốn hiệp tiếng vinh danh Vị Cha Chung khả kính khả ái này. Tôi biết, khi tôi đặt bút viết những dòng này để vinh danh Vị Cha Chung đã về Nhà Cha vào lúc 21g37 đêm thứ bẩy ngày mùng 2.4.2005, tôi cảm thấy thật sự không biết bắt đầu từ đâu. Cuộc đời của Ngài quá lớn lao, bước chân của Ngài quá dài rộng, vòng tay của Ngài quá bao la, trái tim của Ngài như biển cả, tình Ngài vời vợi hơn Thái Sơn… Mặc dù vậy tôi cũng mạo muội ít hàng.
”Tôi vui sướng và cảm tạ Chúa là Mục Tử đã ban cho Hội thánh Chúa một mục tử đúng theo lòng Chúa mong muốn: dấn thân cho đoàn chiên bằng cả cuộc đời của Ngài, cho đến hơi thở cuối cùng.
”Tôi cảm động vì chứng tá phi thường và sống động của Vị Cha Chung trong bao năm tháng dài bệnh tật, nhất là trong những tháng năm cuối đời. Vị Cha Chung quả thực đã nên giống Chúa Kitô trên Thập Giá.
”Tôi kính phục tâm hồn thanh thản bình an và hoàn toàn phó thác của Ngài trước giờ lâm chung, về nhà Cha, bước qua ngưỡng cửa trần gian vào ngưỡng cửa đời đời. Mặc dù biết mình đang lâm tử, Ngài vẫn còn dành hết giây phút còn lại cuối đời cho Giáo Hội và cho thế giới. Quả là một chứng tá tuyệt vời.
“Tôi luôn ghi nhớ khẩu hiệu đầu đời mục tử toàn thể Giáo Hội của Ngài: “ Đừng Sợ, hãy mở rộng mọi cánh cửa cho Chúa Kitô“. Chính khẩu hiệu đó đã làm sụp đổ chế độ cộng sản vô thần. Chính khẩu hiệu đó mời gọi Giáo Hội dấn thân vào mọi lãnh vực trần thế để làm men làm muối cho đời.
”Tôi đã đọc một số trong số 14 Thông Điệp, 13 Tông Hiến, 11 Tông Hiến và 42 Tông Thư và 6 cuốn sách của Ngài viết, nhất là cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng“. Mỗi thứ Năm Tuần Thánh các linh mục trên thế giới cũng như tôi đều được Cha Chung gửi một lá thư riêng… Chớ gì toàn thể giáo hội, mỗi tín hữu, các linh mục tu sĩ và các vị đang giữ trọng trách mục tử dẫn dắt đoàn chiên Chúa trong các giáo phận… hãy để tâm học hỏi, đào sâu và đem ra thể hiện trong cuộc sống, trong hoạt động mục vụ.
”Tôi đã theo dõi vết chân lữ hành của Vị Cha Chung khắp mọi nẻo đường trên thế giới: quả thự là những bước chân dài rộng, không hề mệt mỏi. Quả thực Ngài đã thực hành sứ vụ của Phêrô, người Anh Cả đến để nâng đỡ đức tin của anh em. Nhất là thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng cho mọi tạo vật.
”Tôi thấy nơi Vị Cha chung một trái tim của Đấng Cứu Thế, yêu thương và bênh vực mọi bệnh nhân, ôm ấp các trẻ em, kính trọng những người già cả, luôn bênh vực và giúp đỡ những người cùng khốn. Nền văn minh tình thương mà Ngài gieo rắc trên thế giới đầy hận thù đang sinh hoa kết trái phong phú.
“Tôi đã học bài học ái quốc chân chính của Cha Chung. Chính lòng ái quốc chân chính ấy đã thổi luồng sinh khí mới vào tâm hồn bao triệu người đồng hương, nhất là tuổi trẻ và công nhân Ba Lan, để họ cùng nắm tay nhau xây dựng một Quê Hương trong tự do và thanh bình, thoát ách cộng sản vô thần.
”Tôi kính phục và tự nhủ lòng mình hãy noi gương tinh thần cương quyết dấn thân tranh đấu không mệt mỏi, không nhượng bộ cho nhân quyền, cho hòa bình, cho công bình xã hội… của Vị Cha Chung khả kính.
”Tôi luôn kính phục Vị Cha Chung trong công cuộc đối thoại với các tôn giáo để cùng xây dựng cho hòa bình và đạo đức của thế giới sa đọa và vật chất hôm nay.
”Tôi chia sẻ những nỗi khổ tâm của Vị Cha Chung trong những năm làm mục tử Hội Thánh: bao nhiêu thánh giá về bệnh tật, bao nhiêu những đau khổ tinh thần, bao nhiêu những lo âu cho hòa bình thế giới, biết bao những gánh nặng chồng chất trên vai, biết bao những chống đối, những phê bình chỉ trích, nhất là từ trong lòng Giáo hội…
”Tôi kính phục lòng tha thứ rộng lượng của Ngài đối với kẻ thù đã bắn Ngài bị trọng thương vào lúc 5g15 sau trưa ngày 13.05.1981: Ngài đã đến gặp Mehmet Ali Agca tại nhà tù vào ngày 27.12.1983, sau khi anh bị tòa án Ý kết án tù chung thân và đã tha thứ cho Anh. Quả thật là một trái tim phi thường, một hành động anh hùng và là gương sáng cho toàn thể Giáo hội biết tha thứ trong cuộc sống, theo như lời Chúa dậy.
”Tôi cũng hiệp thông với những gian lao vất vả của Cha Chung trong bao năm tháng dài vận động cho công cuộc hợp nhất Kitô giáo, nhất là với các giáo hội Chính Thống. Ngài luôn đi bước trước và luôn kính trọng, nhường nhịn, nhưng không nhượng bộ trong lãnh vực đức tin.
”Tôi kính phục tiếng nói thẳng, nói thực của Vị Cha Chung, không hề bao giờ “ mị dân“ trong lãnh vực luân lý, bảo vệ sự sống con người, chống phá thai, chống đồng tính luyến ái… quyết tâm bảo vệ gia đình, nền tảng của xã hội, tế bào của Hội Thánh.
”Tôi hằng kinh ngạc trước tâm hồn trẻ trung của Cha Chung khả kính khả ái, mặc dù tuổi già, mặc dù bệnh tật, mặc dù đau đớn, cứ mỗi lần họp mặt giới trẻ trong tất cả các Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, trong bất cứ một cuộc công du nào ở bất cứ đất nước nào, hàng trăm ngàn bạn trẻ háo hức, cuồng nhiệt… làm cho tâm hồn Cha chung cũng tươi trẻ thêm, hứng khởi lạ lùng. Chẳng lạ gì mà thế hệ trẻ Gioan-Phaolô II đang làm tươi trẻ Giáo hội. Giới trẻ đã tìm thấy nơi Ngài một người Anh Cả, một người hướng đạo, chỉ đường, một gương mẫu trung tín son sắt với Thiên Chúa, một trái tim tràn đầy yêu thương cho tha nhân.
”Tôi nghiêng mình trước sự thánh thiện của Cha Chung. Cuộc đời của Ngài quả thực đầy tràn Thiên Chúa, nên không lạ gì Ngài trở thành đá nam châm thu hút mọi người, cuốn hút các bạn trẻ. Giữa biết bao nhiêu công vụ bận rộn của một vị Giáo Hoàng mỗi ngày, tôi thấy Vị Cha Chung không bao giờ bỏ cầu nguyện. Sáng sớm đã thức dậy nguyện ngắm. Các giờ kinh nguyện của linh mục chắc chắn không bao giờ bê trễ. Bằng chứng là những ngày nằm trên giường bệnh, Ngài vẫn đi đàng Thánh Giá, vẫn hiệp thông trong giờ kinh. Ngay cả một giờ trước khi qua đời, Ngài vẫn hiệp thông với cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô trong Thánh Lễ. Không lạ gì mà trong nhiều chứng từ của các bạn trẻ, ngay cả những người lương dân, vẫn gọi Ngài là một vị thánh. Chính Ngài đã đặt trên bàn thờ Giáo Hội 482 vị hiển thánh và 1338 vị chân phước, để nêu gương cho mọi thành phần Dân Chúa.
”Tôi ngưỡng mộ tình thảo hiền của Vị Cha Chung đối với Đức Mẹ. Cuộc đời của Ngài từ khi chọn khẩu hiệu “Totus Tuus“ (tận hiến cho Mẹ) cho tới lúc tắt thở, quả thực “thảo kính“ đối với Mẹ trên trời. Chắc chắn, không ngày nào Cha Chung bỏ lần hạt mân côi. Chắn chắn Mẹ trên trời cũng đã ra tay phù giúp cuộc đời của người con yêu dấu trong hơn 26 năm mục tử, và đã giơ tay dìu dắt Vị Cha chung trong “giờ lâm tử“.
”Tôi luôn ghi nhớ tình yêu thương và những lời nhắn nhủ đầy tình phụ tử đặc biệt của Vị Cha Chung đối với Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam, cũng như Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam hải ngoại. Ai cũng biết rõ, Vị Cha chung hằng ao ước được đặt chân đến Việt Nam, nhưng tiếc rằng vì những lý do chính trị chưa thuận lợi, nhất là vì nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không chấp thuận vì lo sợ cơn lốc Ba Lan thổi đến Việt Nam, nên Vị Cha Chung đành ôm ước vọng này về thế giới bên kia. Nhưng tôi vẫn tin tưởng chắc chắn rằng: những tư tưởng cao đẹp của Vị Cha Chung về lòng ái quốc chân chính, về tự do đích thực, về công lý và hòa bình, về quyền tự do tôn giáo… đặc biệt trong những ngày này, ngay sau khi Vị Cha Chung nằm xuống, đang thổi vào lòng của Giáo Hội, đang thổi luồng sinh khí vào Cộng Đòan Công Giáo Việt Nam, đang thổi vào tâm trí thế hệ trẻ Việt Nam và hơn 80 triệu dân Việt Nam, để làm một cuộc cách mạng tình thương, một cuộc cách mạng tinh thần, một cuộc cách mạng tự do, một cuộc cách mạng đạo đức… bẻ tan ách gông cùm của bất cứ thế lực gian tà nào! Để mọi người cùng quyết tâm tranh đấu và quyết tâm xây dựng một xã hội công bằng, tự do và đạo đức trước tiên cho bản thân, cho gia đình, cho mỗi cộng đàon, mỗi tổ chức và sau đó cho Giáo Hội, cho các tôn giáo và cho toàn Quê Hương yêu dấu”. (Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu dịch)
Điểm II: SỨ ĐIỆP TỪ SỰ CHẾT GỞI LẠI CHO NGÀN SAU.
Anh chị em thân mến,
Bây giờ tôi xin trở lại với cái chết của ĐGH Gioan Phaolô II, tức là đi vào điểm thứ II để chia sẻ cho nhau về SỨ ĐIỆP TỪ SỰ CHẾT GỞI LẠI CHO NGÀN SAU. Qủa thực Đức Gioan Phaolô II muôn vàn kính yêu của Giáo Hội Công Giáo và của thế giới, dù sống thọ hơn 84 tuổi cũng đã chết thực rồi. Ngài đã đợi và đã lên được con tàu định mệnh để một mình đi về cõi thinh lặng ngàn đời. Chúng ta thực sự đã mất đi một vị Giáo hoàng uyên bác, thánh thiện khi Ngài giơ tay từ giã vũ trụ và mọi người thân thương để đi về bên kia thế giới.
Nói như linh mục Nguyễn Tầm Thường, SJ, trong một bài báo mang tựa đề “NGƯỜI LÀM CÔNG” thì “Chúa đem con vào đời một thời gian nào đó rồi lại đem con đi. Chúa đem con vào đời nhưng mục đích chính yếu của cuộc sống là chờ đợi một chuyến đi! Sân Ga (Cuộc Đời) không phải là quê hương của con để bám víu và xây đắp, nhưng chỉ là bến tạm để con chờ đợi một con tàu. Khi nào thì con tàu sẽ đến để đem con đi? Khi nào thì con sẽ giơ tay giã từ vũ trụ? Con chẳng biết thì giờ định mệnh ấy. (Trích Báo Đồng Hành Linh Thao #7-8 năm 1984 trang 22).
Đọc xong những giòng suy tư nầy, tự nhiên tôi nghĩ rằng cá nhân tôi và mọi người - cũng như tác giả của bài báo kia - chưa biết được giờ định mệnh ấy, nhưng Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của chúng ta, dù sống qúa 84 tuổi, cũng đã thấy được giờ khắc định mệnh ấy mấy ngày trước đây. Ngài đã lên được con tàu định mệnh là sự chết. Lợi dụng dịp nầy, tôi muốn gợi lại ở đây một ít suy tư thần học về sự chết như một dịp nhắc nhở mình luôn chuẩn bị sẵn sàng để nhập cuộc.
Cũng như Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, tôi hay bất cứ ai đó đang nghe tôi nói lên những điều suy tư nầy, lần lượt kẻ trước người sau sẽ phải bước lên CON TÀU ĐỊNH MỆNH ấy, bắt buộc phải giã từ cõi đời tạm dung nầy để vĩnh viễn ra đi. Đó chính là giờ của sự chết. Nhưng chết lúc đã về già, chết thời còn non dại, chết cách nào, chết ở đâu thì chẳng ai biết trước được cả. Đó chính là mầu nhiệm của Chúa sẽ được tỏ bày ra nơi cá nhân tôi khi tôi băng mình qua sự chết để tiến về nhà Cha Cả trên trời. Tôi biết chắc điều nầy, chắc như đinh đóng cột, đó là tôi sống được ngày nào thì tôi càng tiến gần sự chết hơn ngày đó: Ngày hôm nay tôi tiến gần đến sự chết hơn ngày hôm qua, ngày mai tôi sẽ tiến gần đến sự chết hơn ngày hôm nay. Đây là một sự thật đúng cho muôn người và ở muôn nơi. Chết trở thành một định luật bất khả phản hồi cho tất cả mọi thọ sinh.
Phải, “Ngày tôi sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết. Làm gì có ngày người ta chôn cất tôi nếu không có ngày tôi chào đời? Như thế mục đích cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết. Ngay từ trong bào thai của mẹ, khi tôi bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết sẵn rồi. KẾT HỢP và BIỆT LY ở lẫn với nhau. Trong lớn lên đã có mầm tan rã. Khi vũ trụ chào đón tôi thì cùng một lúc tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ. Tôi sẽ chết. Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết. Bình minh mọc lên nhắc nhở tôi một bước cận kề. Hoàng hôn buông xuống thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.” (Trích từ bài báo mang tưạ đề CHẾT đăng ở trang 31-33 trong Đồng Hành Linh Thao năm 1987 của Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ).
Tôi biết vậy, nhưng liệu tôi có chuẩn bị sẵn sàng để đón đợi cái chết đến hay chưa? Chuyến tàu sự chết sẽ đưa dẫn tôi đi về đâu và sẽ gặp gỡ ai đây? Về Thiên đàng để gặp gỡ Chúa từ nhân và sống với Ngài muôn kiếp bên hàng thần thánh hay xuống hoả ngực, gặp thần dữ quái ác và đồng bọn để sống muôn kiếp trầm luân? Tự nhiên tôi nhờ lại tư tưởng của Đức Cha JB. Bùi Tuần trong cuốn sách mang tựa đề NÓI VỚI CHÍNH MÌNH rằng: “Kinh nghiệm nào tôi cũng có, nhưng tôi không có kinh nghiệm nào về sự chết. Nó chưa tới, nhưng tôi đã nhìn thấy nó trước rồi. Tôi coi cái chết như chấm dứt một cuộc đời gian khổ, như một giải phóng khỏi kiếp bọt bèo, như một chiếc cầu dẫn vào một thế giới hoàn toàn xa lạ, như một biệt ly để bước xuống thầm lặng ngàn đời. CHẾT LÀ MỘT CHUYẾN ĐI XA NHẤT: ĐI KHÔNG BAO GIỜ VỀ. Chết là một chuyến đi xa nhất mà cũng cô đơn nhất! Có ai chia sẻ được phần nào sự chết của tôi đâu? Tôi sẽ một mình chìm trọn vào trong sự chết của tôi. Rồi sẽ có gì bên kia sự chết? Hiện giờ tôi không thấy gì cả, nhưng tôi tin chắc vị đầu tiên tôi sẽ giáp mặt, chính là Cha Tôi ở trên trời. Ngài sẽ đến đón tôi. Đón về đâu? Phải chết để sống, phải mất để có lại. Chúa ơi, con luôn chờ đợi giây phút đó, xin hãy đến tìm con.” (NÓI VỚI CHÍNH MÌNH trang 116-118).
Chúa sẽ đến đón đợi tôi, đón đợi mỗi người qua từng cái chết riêng tư như đã đến đón đợi Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của chúng ta. Chúa cũng có thể sẽ đến đón tôi chốc nữa trên xa lộ hay tối nay tại phòng ngủ của tôi. Chúa cũng có thể đón tôi tại sở làm, tại bàn giấy, trên vỉa hè vào chiều ngày mai hay trên giường bệnh vào cuối tuần nầy. Chúa cũng có thể đến đón tôi ở lứa tuổi ấu thơ, lúc còn thanh xuân, thời trung niên hay lúc đã già nua tuổi tác.
Vậy mỗi người chúng ta đang chuẩn bị những gì để đón đợi cái chết càng ngày càng gần kề đây? Phần Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đón đợi con tầu sự chết đến từ lâu rồi, đặc biệt sau phát đạn ám sát hụt 13-5-1981 tại quảng trường thánh Phêrô và qua mấy lần giải phẫu trong những năm gần đây, và nhất là trong vài tháng cận kề được ghi lại.
Với 84 năm hiện hữu ở đời; với 58 năm 4 tháng phục vụ Chúa và anh chị em Ngài trong thiên chức linh mục hiến tế; với 42 năm, 6 tháng và 5 ngày trong chức vị giám mục chủ chăn và 26 năm, 5 tháng 17 ngày trong vai trò Giáo hoàng lãnh đạo Giáo hội Công giáo hoàn vũ, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolo II của chúng ta đã có qúa nhiều công trạng trước mặt Chúa. Biết bao thánh lễ đã được Ngài thượng tiến Chúa suốt đời. Biết bao linh mục đã dược Ngài đặt tay hiến thánh và truyền chức cho. Biết bao tu sĩ, nữ tu đã đuợc Ngài hiến thánh họ trong các nghi thức khấn trọn đời trong các dòng tu. Biết bao giáo dân được chính bàn tay Ngài Rửa tội hay ban phép Thêm Sức cho! Ngài đã tuyển chọn và cất nhắc 3,500 vị trong số 4,200 giám mục trên toàn thế giới. Ngài đã cắt đặt và tấn phong cho 231 vị hồng y. Ngài đã chủ trì 147 thánh lễ phong Chân Phuớc cho 1,338 Vị Á Thánh, chủ trì 151 thánh lễ để phong 482 vị thánh mới của Giáo Hội. Nhưng nhất là còn biết bao nhiêu những ray rứt, đau khổ Ngài đã gánh chịu trong suốt chừng ấy năm trời ròng rã trong thiên chức linh mục hiến tế, trong chức vụ giám mục chủ chăn, nhất là trong vai trò Giáo hoàng đầy gian lao và sóng gió phủ vây tứ bề. Tất cả chừng ấy thứ cũng chỉ để chờ đợi giây phút tận hiến cuối đời: CHỜ ĐỢI CON TÀU SỰ CHẾT ĐẾN: 2-4-2005.
Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã lên được con tàu định mệnh là sự chết để khởi hành đi vào cuộc sống mới miên viễn và đời đời. Mọi nuối tiếc, mọi ca khen rồi sẽ qua đi hay chôn vùi với thời gian, chỉ có những công trạng, những khổ đau được chấp nhận với ý thức hiến dâng lúc sanh tiền là sẽ theo Ngài vĩnh viễn vào cõi đời sau. Sự chết chỉ là một trạm dừng chân để sau đó đi vào cõi thiên thu vạn đại. Chết là một trạm khởi hành đi vào cuộc sống mới bền vững thiên thu chứ không như là chốn tạm dung ở trần thế nầy. Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của chúng ta đã khởi hành đi vào cuộc sống ấy qua trạm khởi hành mới là sự chết, kể từ 2 tháng Tư vừa qua.
Xin Thiên Chúa từ nhân là chủ con tàu sự chết và cũng là người “sếp” của sân ga, thương riêng đến Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã suốt đời tận tụy phục vụ đoàn chiên và Hội thánh, mà bỏ qua những sơ sót lỗi lầm của người tôi trung lúc còn sống ở chốn tạm dung nầy và dẫn lối giúp sức cho Ngài trong một tiến trình mới đi về miền thinh lặng ngàn thu với Chúa ở trên trời. Phần con, “Chúa ơi! Con luôn chờ giây phút đó, xin hãy đến tìm con”. Amen
(Bài giảng dịp lễ Truy Điệu Đức cố GH Gioan Phaolô II)
Thưa anh chị em,
Tổ chức lễ truy điệu và cầu nguyện cho Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II là một bổn phận và đồng thời là một vinh dự cho con cái của Ngài. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngài qúa phong phú, tô đậm nét những hồng ân trong qúa khứ và cái chết của Ngài là một sứ điệp gởi lại cho ngàn sau những nhắc nhở với muôn vàn trân trọng. Lợi dụng những giây phút qúy báu trong lễ truy điệu Vị Cha Chung của chúng ta dây, tôi xin lần lượt thưa với anh chị em hai diểm sau đây:
Điểm I: SỨ ĐIỆP TỪ QÚA KHỨ TỒN ĐỌNG LẠI.
Chúng ta hãnh diện và chia sẻ niềm vui chung về những công trình và con người quang toả sức sống mãnh liệt nơi Vị Cha Chung. Trong phần đầu của buổi lễ truy diệu và tôn vinh Đức cố Gioan Phaolô II của toàn thể Giáo Hội toàn cầu đã nằm xuống, tôi hoàn toàn đồng ý với Cha Stêphanô Bùi Thượng Lưu trong bài viết VINH DANH CHA CHUNG KHẢ KÍNH KHẢ ÁI đăng trên VietCatholic News ngày 05/04/2005 như sau:
“Là một linh mục nhỏ bé, tôi cũng muốn hiệp tiếng vinh danh Vị Cha Chung khả kính khả ái này. Tôi biết, khi tôi đặt bút viết những dòng này để vinh danh Vị Cha Chung đã về Nhà Cha vào lúc 21g37 đêm thứ bẩy ngày mùng 2.4.2005, tôi cảm thấy thật sự không biết bắt đầu từ đâu. Cuộc đời của Ngài quá lớn lao, bước chân của Ngài quá dài rộng, vòng tay của Ngài quá bao la, trái tim của Ngài như biển cả, tình Ngài vời vợi hơn Thái Sơn… Mặc dù vậy tôi cũng mạo muội ít hàng.
”Tôi vui sướng và cảm tạ Chúa là Mục Tử đã ban cho Hội thánh Chúa một mục tử đúng theo lòng Chúa mong muốn: dấn thân cho đoàn chiên bằng cả cuộc đời của Ngài, cho đến hơi thở cuối cùng.
”Tôi cảm động vì chứng tá phi thường và sống động của Vị Cha Chung trong bao năm tháng dài bệnh tật, nhất là trong những tháng năm cuối đời. Vị Cha Chung quả thực đã nên giống Chúa Kitô trên Thập Giá.
”Tôi kính phục tâm hồn thanh thản bình an và hoàn toàn phó thác của Ngài trước giờ lâm chung, về nhà Cha, bước qua ngưỡng cửa trần gian vào ngưỡng cửa đời đời. Mặc dù biết mình đang lâm tử, Ngài vẫn còn dành hết giây phút còn lại cuối đời cho Giáo Hội và cho thế giới. Quả là một chứng tá tuyệt vời.
“Tôi luôn ghi nhớ khẩu hiệu đầu đời mục tử toàn thể Giáo Hội của Ngài: “ Đừng Sợ, hãy mở rộng mọi cánh cửa cho Chúa Kitô“. Chính khẩu hiệu đó đã làm sụp đổ chế độ cộng sản vô thần. Chính khẩu hiệu đó mời gọi Giáo Hội dấn thân vào mọi lãnh vực trần thế để làm men làm muối cho đời.
”Tôi đã đọc một số trong số 14 Thông Điệp, 13 Tông Hiến, 11 Tông Hiến và 42 Tông Thư và 6 cuốn sách của Ngài viết, nhất là cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng“. Mỗi thứ Năm Tuần Thánh các linh mục trên thế giới cũng như tôi đều được Cha Chung gửi một lá thư riêng… Chớ gì toàn thể giáo hội, mỗi tín hữu, các linh mục tu sĩ và các vị đang giữ trọng trách mục tử dẫn dắt đoàn chiên Chúa trong các giáo phận… hãy để tâm học hỏi, đào sâu và đem ra thể hiện trong cuộc sống, trong hoạt động mục vụ.
”Tôi đã theo dõi vết chân lữ hành của Vị Cha Chung khắp mọi nẻo đường trên thế giới: quả thự là những bước chân dài rộng, không hề mệt mỏi. Quả thực Ngài đã thực hành sứ vụ của Phêrô, người Anh Cả đến để nâng đỡ đức tin của anh em. Nhất là thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng cho mọi tạo vật.
”Tôi thấy nơi Vị Cha chung một trái tim của Đấng Cứu Thế, yêu thương và bênh vực mọi bệnh nhân, ôm ấp các trẻ em, kính trọng những người già cả, luôn bênh vực và giúp đỡ những người cùng khốn. Nền văn minh tình thương mà Ngài gieo rắc trên thế giới đầy hận thù đang sinh hoa kết trái phong phú.
“Tôi đã học bài học ái quốc chân chính của Cha Chung. Chính lòng ái quốc chân chính ấy đã thổi luồng sinh khí mới vào tâm hồn bao triệu người đồng hương, nhất là tuổi trẻ và công nhân Ba Lan, để họ cùng nắm tay nhau xây dựng một Quê Hương trong tự do và thanh bình, thoát ách cộng sản vô thần.
”Tôi kính phục và tự nhủ lòng mình hãy noi gương tinh thần cương quyết dấn thân tranh đấu không mệt mỏi, không nhượng bộ cho nhân quyền, cho hòa bình, cho công bình xã hội… của Vị Cha Chung khả kính.
”Tôi luôn kính phục Vị Cha Chung trong công cuộc đối thoại với các tôn giáo để cùng xây dựng cho hòa bình và đạo đức của thế giới sa đọa và vật chất hôm nay.
”Tôi chia sẻ những nỗi khổ tâm của Vị Cha Chung trong những năm làm mục tử Hội Thánh: bao nhiêu thánh giá về bệnh tật, bao nhiêu những đau khổ tinh thần, bao nhiêu những lo âu cho hòa bình thế giới, biết bao những gánh nặng chồng chất trên vai, biết bao những chống đối, những phê bình chỉ trích, nhất là từ trong lòng Giáo hội…
”Tôi kính phục lòng tha thứ rộng lượng của Ngài đối với kẻ thù đã bắn Ngài bị trọng thương vào lúc 5g15 sau trưa ngày 13.05.1981: Ngài đã đến gặp Mehmet Ali Agca tại nhà tù vào ngày 27.12.1983, sau khi anh bị tòa án Ý kết án tù chung thân và đã tha thứ cho Anh. Quả thật là một trái tim phi thường, một hành động anh hùng và là gương sáng cho toàn thể Giáo hội biết tha thứ trong cuộc sống, theo như lời Chúa dậy.
”Tôi cũng hiệp thông với những gian lao vất vả của Cha Chung trong bao năm tháng dài vận động cho công cuộc hợp nhất Kitô giáo, nhất là với các giáo hội Chính Thống. Ngài luôn đi bước trước và luôn kính trọng, nhường nhịn, nhưng không nhượng bộ trong lãnh vực đức tin.
”Tôi kính phục tiếng nói thẳng, nói thực của Vị Cha Chung, không hề bao giờ “ mị dân“ trong lãnh vực luân lý, bảo vệ sự sống con người, chống phá thai, chống đồng tính luyến ái… quyết tâm bảo vệ gia đình, nền tảng của xã hội, tế bào của Hội Thánh.
”Tôi hằng kinh ngạc trước tâm hồn trẻ trung của Cha Chung khả kính khả ái, mặc dù tuổi già, mặc dù bệnh tật, mặc dù đau đớn, cứ mỗi lần họp mặt giới trẻ trong tất cả các Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, trong bất cứ một cuộc công du nào ở bất cứ đất nước nào, hàng trăm ngàn bạn trẻ háo hức, cuồng nhiệt… làm cho tâm hồn Cha chung cũng tươi trẻ thêm, hứng khởi lạ lùng. Chẳng lạ gì mà thế hệ trẻ Gioan-Phaolô II đang làm tươi trẻ Giáo hội. Giới trẻ đã tìm thấy nơi Ngài một người Anh Cả, một người hướng đạo, chỉ đường, một gương mẫu trung tín son sắt với Thiên Chúa, một trái tim tràn đầy yêu thương cho tha nhân.
”Tôi nghiêng mình trước sự thánh thiện của Cha Chung. Cuộc đời của Ngài quả thực đầy tràn Thiên Chúa, nên không lạ gì Ngài trở thành đá nam châm thu hút mọi người, cuốn hút các bạn trẻ. Giữa biết bao nhiêu công vụ bận rộn của một vị Giáo Hoàng mỗi ngày, tôi thấy Vị Cha Chung không bao giờ bỏ cầu nguyện. Sáng sớm đã thức dậy nguyện ngắm. Các giờ kinh nguyện của linh mục chắc chắn không bao giờ bê trễ. Bằng chứng là những ngày nằm trên giường bệnh, Ngài vẫn đi đàng Thánh Giá, vẫn hiệp thông trong giờ kinh. Ngay cả một giờ trước khi qua đời, Ngài vẫn hiệp thông với cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô trong Thánh Lễ. Không lạ gì mà trong nhiều chứng từ của các bạn trẻ, ngay cả những người lương dân, vẫn gọi Ngài là một vị thánh. Chính Ngài đã đặt trên bàn thờ Giáo Hội 482 vị hiển thánh và 1338 vị chân phước, để nêu gương cho mọi thành phần Dân Chúa.
”Tôi ngưỡng mộ tình thảo hiền của Vị Cha Chung đối với Đức Mẹ. Cuộc đời của Ngài từ khi chọn khẩu hiệu “Totus Tuus“ (tận hiến cho Mẹ) cho tới lúc tắt thở, quả thực “thảo kính“ đối với Mẹ trên trời. Chắc chắn, không ngày nào Cha Chung bỏ lần hạt mân côi. Chắn chắn Mẹ trên trời cũng đã ra tay phù giúp cuộc đời của người con yêu dấu trong hơn 26 năm mục tử, và đã giơ tay dìu dắt Vị Cha chung trong “giờ lâm tử“.
”Tôi luôn ghi nhớ tình yêu thương và những lời nhắn nhủ đầy tình phụ tử đặc biệt của Vị Cha Chung đối với Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam, cũng như Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam hải ngoại. Ai cũng biết rõ, Vị Cha chung hằng ao ước được đặt chân đến Việt Nam, nhưng tiếc rằng vì những lý do chính trị chưa thuận lợi, nhất là vì nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không chấp thuận vì lo sợ cơn lốc Ba Lan thổi đến Việt Nam, nên Vị Cha Chung đành ôm ước vọng này về thế giới bên kia. Nhưng tôi vẫn tin tưởng chắc chắn rằng: những tư tưởng cao đẹp của Vị Cha Chung về lòng ái quốc chân chính, về tự do đích thực, về công lý và hòa bình, về quyền tự do tôn giáo… đặc biệt trong những ngày này, ngay sau khi Vị Cha Chung nằm xuống, đang thổi vào lòng của Giáo Hội, đang thổi luồng sinh khí vào Cộng Đòan Công Giáo Việt Nam, đang thổi vào tâm trí thế hệ trẻ Việt Nam và hơn 80 triệu dân Việt Nam, để làm một cuộc cách mạng tình thương, một cuộc cách mạng tinh thần, một cuộc cách mạng tự do, một cuộc cách mạng đạo đức… bẻ tan ách gông cùm của bất cứ thế lực gian tà nào! Để mọi người cùng quyết tâm tranh đấu và quyết tâm xây dựng một xã hội công bằng, tự do và đạo đức trước tiên cho bản thân, cho gia đình, cho mỗi cộng đàon, mỗi tổ chức và sau đó cho Giáo Hội, cho các tôn giáo và cho toàn Quê Hương yêu dấu”. (Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu dịch)
Điểm II: SỨ ĐIỆP TỪ SỰ CHẾT GỞI LẠI CHO NGÀN SAU.
Anh chị em thân mến,
Bây giờ tôi xin trở lại với cái chết của ĐGH Gioan Phaolô II, tức là đi vào điểm thứ II để chia sẻ cho nhau về SỨ ĐIỆP TỪ SỰ CHẾT GỞI LẠI CHO NGÀN SAU. Qủa thực Đức Gioan Phaolô II muôn vàn kính yêu của Giáo Hội Công Giáo và của thế giới, dù sống thọ hơn 84 tuổi cũng đã chết thực rồi. Ngài đã đợi và đã lên được con tàu định mệnh để một mình đi về cõi thinh lặng ngàn đời. Chúng ta thực sự đã mất đi một vị Giáo hoàng uyên bác, thánh thiện khi Ngài giơ tay từ giã vũ trụ và mọi người thân thương để đi về bên kia thế giới.
Nói như linh mục Nguyễn Tầm Thường, SJ, trong một bài báo mang tựa đề “NGƯỜI LÀM CÔNG” thì “Chúa đem con vào đời một thời gian nào đó rồi lại đem con đi. Chúa đem con vào đời nhưng mục đích chính yếu của cuộc sống là chờ đợi một chuyến đi! Sân Ga (Cuộc Đời) không phải là quê hương của con để bám víu và xây đắp, nhưng chỉ là bến tạm để con chờ đợi một con tàu. Khi nào thì con tàu sẽ đến để đem con đi? Khi nào thì con sẽ giơ tay giã từ vũ trụ? Con chẳng biết thì giờ định mệnh ấy. (Trích Báo Đồng Hành Linh Thao #7-8 năm 1984 trang 22).
Đọc xong những giòng suy tư nầy, tự nhiên tôi nghĩ rằng cá nhân tôi và mọi người - cũng như tác giả của bài báo kia - chưa biết được giờ định mệnh ấy, nhưng Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của chúng ta, dù sống qúa 84 tuổi, cũng đã thấy được giờ khắc định mệnh ấy mấy ngày trước đây. Ngài đã lên được con tàu định mệnh là sự chết. Lợi dụng dịp nầy, tôi muốn gợi lại ở đây một ít suy tư thần học về sự chết như một dịp nhắc nhở mình luôn chuẩn bị sẵn sàng để nhập cuộc.
Cũng như Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, tôi hay bất cứ ai đó đang nghe tôi nói lên những điều suy tư nầy, lần lượt kẻ trước người sau sẽ phải bước lên CON TÀU ĐỊNH MỆNH ấy, bắt buộc phải giã từ cõi đời tạm dung nầy để vĩnh viễn ra đi. Đó chính là giờ của sự chết. Nhưng chết lúc đã về già, chết thời còn non dại, chết cách nào, chết ở đâu thì chẳng ai biết trước được cả. Đó chính là mầu nhiệm của Chúa sẽ được tỏ bày ra nơi cá nhân tôi khi tôi băng mình qua sự chết để tiến về nhà Cha Cả trên trời. Tôi biết chắc điều nầy, chắc như đinh đóng cột, đó là tôi sống được ngày nào thì tôi càng tiến gần sự chết hơn ngày đó: Ngày hôm nay tôi tiến gần đến sự chết hơn ngày hôm qua, ngày mai tôi sẽ tiến gần đến sự chết hơn ngày hôm nay. Đây là một sự thật đúng cho muôn người và ở muôn nơi. Chết trở thành một định luật bất khả phản hồi cho tất cả mọi thọ sinh.
Phải, “Ngày tôi sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết. Làm gì có ngày người ta chôn cất tôi nếu không có ngày tôi chào đời? Như thế mục đích cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết. Ngay từ trong bào thai của mẹ, khi tôi bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết sẵn rồi. KẾT HỢP và BIỆT LY ở lẫn với nhau. Trong lớn lên đã có mầm tan rã. Khi vũ trụ chào đón tôi thì cùng một lúc tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ. Tôi sẽ chết. Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết. Bình minh mọc lên nhắc nhở tôi một bước cận kề. Hoàng hôn buông xuống thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.” (Trích từ bài báo mang tưạ đề CHẾT đăng ở trang 31-33 trong Đồng Hành Linh Thao năm 1987 của Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ).
Tôi biết vậy, nhưng liệu tôi có chuẩn bị sẵn sàng để đón đợi cái chết đến hay chưa? Chuyến tàu sự chết sẽ đưa dẫn tôi đi về đâu và sẽ gặp gỡ ai đây? Về Thiên đàng để gặp gỡ Chúa từ nhân và sống với Ngài muôn kiếp bên hàng thần thánh hay xuống hoả ngực, gặp thần dữ quái ác và đồng bọn để sống muôn kiếp trầm luân? Tự nhiên tôi nhờ lại tư tưởng của Đức Cha JB. Bùi Tuần trong cuốn sách mang tựa đề NÓI VỚI CHÍNH MÌNH rằng: “Kinh nghiệm nào tôi cũng có, nhưng tôi không có kinh nghiệm nào về sự chết. Nó chưa tới, nhưng tôi đã nhìn thấy nó trước rồi. Tôi coi cái chết như chấm dứt một cuộc đời gian khổ, như một giải phóng khỏi kiếp bọt bèo, như một chiếc cầu dẫn vào một thế giới hoàn toàn xa lạ, như một biệt ly để bước xuống thầm lặng ngàn đời. CHẾT LÀ MỘT CHUYẾN ĐI XA NHẤT: ĐI KHÔNG BAO GIỜ VỀ. Chết là một chuyến đi xa nhất mà cũng cô đơn nhất! Có ai chia sẻ được phần nào sự chết của tôi đâu? Tôi sẽ một mình chìm trọn vào trong sự chết của tôi. Rồi sẽ có gì bên kia sự chết? Hiện giờ tôi không thấy gì cả, nhưng tôi tin chắc vị đầu tiên tôi sẽ giáp mặt, chính là Cha Tôi ở trên trời. Ngài sẽ đến đón tôi. Đón về đâu? Phải chết để sống, phải mất để có lại. Chúa ơi, con luôn chờ đợi giây phút đó, xin hãy đến tìm con.” (NÓI VỚI CHÍNH MÌNH trang 116-118).
Chúa sẽ đến đón đợi tôi, đón đợi mỗi người qua từng cái chết riêng tư như đã đến đón đợi Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của chúng ta. Chúa cũng có thể sẽ đến đón tôi chốc nữa trên xa lộ hay tối nay tại phòng ngủ của tôi. Chúa cũng có thể đón tôi tại sở làm, tại bàn giấy, trên vỉa hè vào chiều ngày mai hay trên giường bệnh vào cuối tuần nầy. Chúa cũng có thể đến đón tôi ở lứa tuổi ấu thơ, lúc còn thanh xuân, thời trung niên hay lúc đã già nua tuổi tác.
Vậy mỗi người chúng ta đang chuẩn bị những gì để đón đợi cái chết càng ngày càng gần kề đây? Phần Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đón đợi con tầu sự chết đến từ lâu rồi, đặc biệt sau phát đạn ám sát hụt 13-5-1981 tại quảng trường thánh Phêrô và qua mấy lần giải phẫu trong những năm gần đây, và nhất là trong vài tháng cận kề được ghi lại.
Với 84 năm hiện hữu ở đời; với 58 năm 4 tháng phục vụ Chúa và anh chị em Ngài trong thiên chức linh mục hiến tế; với 42 năm, 6 tháng và 5 ngày trong chức vị giám mục chủ chăn và 26 năm, 5 tháng 17 ngày trong vai trò Giáo hoàng lãnh đạo Giáo hội Công giáo hoàn vũ, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolo II của chúng ta đã có qúa nhiều công trạng trước mặt Chúa. Biết bao thánh lễ đã được Ngài thượng tiến Chúa suốt đời. Biết bao linh mục đã dược Ngài đặt tay hiến thánh và truyền chức cho. Biết bao tu sĩ, nữ tu đã đuợc Ngài hiến thánh họ trong các nghi thức khấn trọn đời trong các dòng tu. Biết bao giáo dân được chính bàn tay Ngài Rửa tội hay ban phép Thêm Sức cho! Ngài đã tuyển chọn và cất nhắc 3,500 vị trong số 4,200 giám mục trên toàn thế giới. Ngài đã cắt đặt và tấn phong cho 231 vị hồng y. Ngài đã chủ trì 147 thánh lễ phong Chân Phuớc cho 1,338 Vị Á Thánh, chủ trì 151 thánh lễ để phong 482 vị thánh mới của Giáo Hội. Nhưng nhất là còn biết bao nhiêu những ray rứt, đau khổ Ngài đã gánh chịu trong suốt chừng ấy năm trời ròng rã trong thiên chức linh mục hiến tế, trong chức vụ giám mục chủ chăn, nhất là trong vai trò Giáo hoàng đầy gian lao và sóng gió phủ vây tứ bề. Tất cả chừng ấy thứ cũng chỉ để chờ đợi giây phút tận hiến cuối đời: CHỜ ĐỢI CON TÀU SỰ CHẾT ĐẾN: 2-4-2005.
Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã lên được con tàu định mệnh là sự chết để khởi hành đi vào cuộc sống mới miên viễn và đời đời. Mọi nuối tiếc, mọi ca khen rồi sẽ qua đi hay chôn vùi với thời gian, chỉ có những công trạng, những khổ đau được chấp nhận với ý thức hiến dâng lúc sanh tiền là sẽ theo Ngài vĩnh viễn vào cõi đời sau. Sự chết chỉ là một trạm dừng chân để sau đó đi vào cõi thiên thu vạn đại. Chết là một trạm khởi hành đi vào cuộc sống mới bền vững thiên thu chứ không như là chốn tạm dung ở trần thế nầy. Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II của chúng ta đã khởi hành đi vào cuộc sống ấy qua trạm khởi hành mới là sự chết, kể từ 2 tháng Tư vừa qua.
Xin Thiên Chúa từ nhân là chủ con tàu sự chết và cũng là người “sếp” của sân ga, thương riêng đến Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã suốt đời tận tụy phục vụ đoàn chiên và Hội thánh, mà bỏ qua những sơ sót lỗi lầm của người tôi trung lúc còn sống ở chốn tạm dung nầy và dẫn lối giúp sức cho Ngài trong một tiến trình mới đi về miền thinh lặng ngàn thu với Chúa ở trên trời. Phần con, “Chúa ơi! Con luôn chờ giây phút đó, xin hãy đến tìm con”. Amen