NGƯỜI MÙ TỪ THUỞ MỚI SINH
Dọc đường Chúa gặp một tên
Mù từ lòng mẹ lớn lên ăn mày.
Môn đồ thắc mắc : “Trình Thầy,
Hắn mang thân phận thế này do đâu ?
Phải do tội hắn từ đầu,
Hay do cha mẹ để sầu cho con ?”
Chúa rằng : “Sinh chẳng vuông tròn,
Không do ai cả, chỉ còn do Thiên :
Hắn là đối tượng hiển nhiên,
3870. Chúa dùng để tỏ uy quyền nơi đây.
Ngày còn phải múa tối ngày,
Chờ khi đêm xuống phủ dày thì thôi.
Bao lâu còn giữa dòng đời,
Ta là ánh sáng chói ngời thế gian”.
Phán xong nhổ bọt hòa tan,
Trộn thành bùn xức thị quan tên mù.
Rằng : “Con đến giếng Si-lu,
Rửa cho sạch mắt để thu sắc màu.
Nó vâng rửa sạch làu làu,
3880. Mang đôi mắt sáng lát sau về nhà,.
Láng giềng gặp nó dò la :
“Phải chăng là đứa mù lòa xin rông ?”
Người nói phải, kẻ nói không,
Kẻ thì dè dặt người trông giống người.
Nó thì quả quyết : “Chính tôi”.
Họ liền hỏi nó : “Còn đôi mắt mù ?”
Nó rằng : “Đấng gọi Giê-su”
Xức bùn bảo đến Si-lu rửa bùn.
Tôi vừa đi rửa và run,
3890. Rửa đâu sáng đó lạ lùng xiết bao”.
Họ rằng : “Ông ấy thế nào ?”
Nó thưa : “Tôi biết làm sao trả lời ?”
Họ rằng : “Rắc rối đến nơi,
Nhằm ngày thứ bảy việc đời không kiêng”.
Sợ gây liên lụy xóm giềng
Họ đưa nó đến trình riêng các thầy.
Gặp toàn những bọn già tay,
Tra mưu hỏi mẹo nửa ngày gắt gao :
“Mắt mày được sáng tại sao ?”
3900. Nó rằng : “Ông trét bùn vào mắt tôi,
Bảo tôi đi rửa xong rồi,
Tôi liền được sáng với đôi mắt này”.
Họ rằng : “Ông chẳng kiêng ngày
Việc ông đâu phải bởi tay Chúa Trời”.
Có người cãi lại : “Sai rồi,
Làm sao phép lạ bởi người xấu tay ?”
Năm người mười ý loay hoay,
Gọi tên mù hỏi : “Phần mày nghĩ chi ?
Nó thưa : “Tôi chẳng nghĩ gì,
3910. Đích thực là Đấng Tiên Tri đây rồi”.
Họ chưa tin nó bằng lời,
Trước mù sau sáng cũng người nó chăng ?
Hỏi ngay bố mẹ nó rằng :
Ông bà có nhận được thằng nầy không ?
Thưa rằng : “Trình với quý ông,
Chính là con đẻ vợ chồng chúng tôi”.
Hỏi : “Khi biết chúng con rồi,
Ông bà có nhận ra đôi mắt mù ?”
Thưa rằng : “Nhận được mặc dù,
3920. Nhận là nhận nó mù từ lúc sinh”.
Họ rằng : “Chắc đã phân minh”
Tại sao mắt của con mình sáng ra ?”
Thưa rằng : “Xin quý ông tha,
Chúng tôi quả thực mẹ cha thằng nầy
Vì mù nó phải ăn mày,
Tại sao sáng mắt? Do tay ai làm ?
Chúng tôi thú thực vô tâm,
Đâu dây mối nhợ mù câm việc nầy.
Nó đã hiểu biết đủ đầy,
3930. Việc mình, mình tự giãi bày là hơn”.
Ông bà sợ, muốn rút chơn
Rào sau đón trước cho trơn đuôi đầu.
Bởi quân Do Thái định nhau :
Thấy ai tỏ dấu phơi màu kính tin
Giê-su cứu thế nhận nhìn,
Đuổi ra khỏi hội, xóa tên khỏi đoàn.
Dọc đường Chúa gặp một tên
Mù từ lòng mẹ lớn lên ăn mày.
Môn đồ thắc mắc : “Trình Thầy,
Hắn mang thân phận thế này do đâu ?
Phải do tội hắn từ đầu,
Hay do cha mẹ để sầu cho con ?”
Chúa rằng : “Sinh chẳng vuông tròn,
Không do ai cả, chỉ còn do Thiên :
Hắn là đối tượng hiển nhiên,
3870. Chúa dùng để tỏ uy quyền nơi đây.
Ngày còn phải múa tối ngày,
Chờ khi đêm xuống phủ dày thì thôi.
Bao lâu còn giữa dòng đời,
Ta là ánh sáng chói ngời thế gian”.
Phán xong nhổ bọt hòa tan,
Trộn thành bùn xức thị quan tên mù.
Rằng : “Con đến giếng Si-lu,
Rửa cho sạch mắt để thu sắc màu.
Nó vâng rửa sạch làu làu,
3880. Mang đôi mắt sáng lát sau về nhà,.
Láng giềng gặp nó dò la :
“Phải chăng là đứa mù lòa xin rông ?”
Người nói phải, kẻ nói không,
Kẻ thì dè dặt người trông giống người.
Nó thì quả quyết : “Chính tôi”.
Họ liền hỏi nó : “Còn đôi mắt mù ?”
Nó rằng : “Đấng gọi Giê-su”
Xức bùn bảo đến Si-lu rửa bùn.
Tôi vừa đi rửa và run,
3890. Rửa đâu sáng đó lạ lùng xiết bao”.
Họ rằng : “Ông ấy thế nào ?”
Nó thưa : “Tôi biết làm sao trả lời ?”
Họ rằng : “Rắc rối đến nơi,
Nhằm ngày thứ bảy việc đời không kiêng”.
Sợ gây liên lụy xóm giềng
Họ đưa nó đến trình riêng các thầy.
Gặp toàn những bọn già tay,
Tra mưu hỏi mẹo nửa ngày gắt gao :
“Mắt mày được sáng tại sao ?”
3900. Nó rằng : “Ông trét bùn vào mắt tôi,
Bảo tôi đi rửa xong rồi,
Tôi liền được sáng với đôi mắt này”.
Họ rằng : “Ông chẳng kiêng ngày
Việc ông đâu phải bởi tay Chúa Trời”.
Có người cãi lại : “Sai rồi,
Làm sao phép lạ bởi người xấu tay ?”
Năm người mười ý loay hoay,
Gọi tên mù hỏi : “Phần mày nghĩ chi ?
Nó thưa : “Tôi chẳng nghĩ gì,
3910. Đích thực là Đấng Tiên Tri đây rồi”.
Họ chưa tin nó bằng lời,
Trước mù sau sáng cũng người nó chăng ?
Hỏi ngay bố mẹ nó rằng :
Ông bà có nhận được thằng nầy không ?
Thưa rằng : “Trình với quý ông,
Chính là con đẻ vợ chồng chúng tôi”.
Hỏi : “Khi biết chúng con rồi,
Ông bà có nhận ra đôi mắt mù ?”
Thưa rằng : “Nhận được mặc dù,
3920. Nhận là nhận nó mù từ lúc sinh”.
Họ rằng : “Chắc đã phân minh”
Tại sao mắt của con mình sáng ra ?”
Thưa rằng : “Xin quý ông tha,
Chúng tôi quả thực mẹ cha thằng nầy
Vì mù nó phải ăn mày,
Tại sao sáng mắt? Do tay ai làm ?
Chúng tôi thú thực vô tâm,
Đâu dây mối nhợ mù câm việc nầy.
Nó đã hiểu biết đủ đầy,
3930. Việc mình, mình tự giãi bày là hơn”.
Ông bà sợ, muốn rút chơn
Rào sau đón trước cho trơn đuôi đầu.
Bởi quân Do Thái định nhau :
Thấy ai tỏ dấu phơi màu kính tin
Giê-su cứu thế nhận nhìn,
Đuổi ra khỏi hội, xóa tên khỏi đoàn.