THẦN HỌC XÁC THÂN của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ
Chương 4: Thân Xác Được Cứu Chuộc
Bài 2: II. Sự Cứu Chuộc Của Thân Xác
Tình yêu tự phát chân chính này đòi hỏi một sự tự chủ mà Chúa Kitô ban tặng qua ơn Cứu Chuộc. Tự chủ để cho tiềm năng sâu thẳm nhất trong nội tâm con người có cơ hội cất lên tiếng nói; đó là những tiềm năng sâu kín mà tính lăng loàn của xác thịt không hề cho phép xuất hiện. “Tự chủ là khả năng ta tự hiến thân cho người khác. Nhờ tự chủ, ta có thể chọn lựa các hành vi một cách độc lập với đam mê và cảm xúc đang chực chờ hoành hành trong ta. Tự chủ giải phóng ta khỏi mọi gọng kềm cưỡng bức ta đi theo khát vọng của xác thịt. Nhờ thế ta có thể trân quí giá trị chân chính của người khác, chứ không dừng lại ở cái giá trị mà đam mê và cảm xúc lôi kéo ta tới (điều mà ĐGH gọi là sự hạ giảm người khác xuống hàng một giá trị duy nhất, tức giá trị phái tính). Khi thừa nhận giá trị chân thực của tha nhân, ta sẽ trân quí giá trị của chính mình theo một thể thức mới và ta được tự do đáp ứng lại các giá trị nhân bản này một cách thích đáng, nghĩa là, bằng tình yêu.
Tự chủ là một khả năng nội tâm giúp điều hướng các đam mê và cảm xúc của thân xác thay vì để cho chúng sai khiến. Cho dù có đối tượng là thân thể và xác thịt, tự chủ vẫn là một khả năng nội tâm, một năng lực cho phép ta điều hướng các hành động một cách thích đáng. Thiếu tự chủ, ta sẽ bị đam mê và cảm xúc điều khiển, đến độ có thể khống chế luôn cả tâm trí và ý chí ta nữa.
Nhân đức thanh khiết cho phép ta đạt tới mức tự chủ thích đáng, vốn đem lại cho ta sự tự do nội tâm. Chúa Kitô đã minh hoạ điều này một cách tuyệt vời khi nói đến vấn đề “ngoại tình trong lòng.” “Khi giải thích ý nghĩa chính xác của giới răn ‘chớ ngoại tình,’ tha thiết gọi mời con người nội tâm, Chúa Kitô cũng đồng thời xác dịnh cái chiều kích căn bản của đức thanh khiết vốn đánh dấu mối quan hệ hỗ tương giữa người nam và người nữ cả bên trong lẫn bên ngoài hôn nhân. Những lời ‘còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi’ đã nói lên điều kình chống lại đức thanh khiết. Những lời này cũng đồng thời đòi hỏi sự thanh khiết đã hàm chứa trong Bát Phúc được liệt kê trong bài giảng Trên Núi. “Phúc cho người có tâm hồn thanh khiết vi họ sẽ được nhìn thấy Chúa…Chúa Ktiô nhìn thấu tâm hồn, đi thẳng vào nội tâm sâu thẳm của con người, nguồn mạch xuất phát ra đức thanh khiết.”
Sự tự chủ thủ đắc được qua đức thanh khiết thì tạo ra tự do và dẫn đến một loạt những hành vi “tự trong lòng,” trong khi nếu thiếu tự do vì thiếu tự chủ sẽ sản sinh ra một loat các hành vi khác, cũng xuất phát “tự trong lòng.” Tuy thế, Chúa Kitô còn dùng đức thanh khiết để ám chỉ một cái gì xa hơn là sự thiếu vắng các tội tình dục. Thanh khiết có thể có nghĩa là không có sự “dơ bẩn,” không hề có tội lỗi, và là nguồn mạch mọi thiện hảo luân lý. Do đó, Chúa Kitô có thể nói rằng “cái gì từ miệng xuất ra, là phát xuất tự lòng, chính cái ấy mới làm con người ra ô uế. Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian, và vu khống” (Mt. 15:18-19) Sự thanh khiết của tâm hồn thì sinh ra điều trái ngược lại: đó là nhìn nhận phẩm giá của đời sống, sự bền đỗ suốt đời và chung thủy trong hôn nhân, thanh tịnh, tôn trọng tài sản tha nhân, kính trọng danh thơm tiếng tốt của người khác, và chân nhận một Thiên Chúa duy nhất chân thật và chối bỏ tà thần.
Thánh Phalô cũng dùng từ thanh khiết theo nghĩa phổ quát. Ngài đối kháng xác thịt với Thần Khí: “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt.” (Gal. 5:17) Xác thịt theo nghĩa của Phaolô thì không chỉ và không đối kháng với ‘tinh thần” con người cho bằng đối kháng với Thánh Linh là Đấng tác động trong tâm hồn (tinh thần) con người. Theo Phaolô, tác phẩm của tính xác thịt là: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy.” Trái lại, “hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ.” (Gal. 5:19-23) Danh mục các thứ tội của xác thịt mà thánh Phaolô vừa kể thật giống với danh mục Chúa Kitô đã mô tả. Tất cả mọi tác phẩm của xàc thịt đều hư hoại, nghĩa là chống lại đức thanh khiết. Mọi hoa quả của Thánh Linh thì thanh khiết. Thanh khiết không chỉ có nghĩa là thanh tịnh và thiếu vắng tội dâm ô, mà là thiếu vắng tất cả mọi thứ tội lỗi gây ra sự hư hoại.
Thanh khiết cũng được coi ngang hàng với sự sống. “Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.” (Rm. 8:13) Ở đây ta thấy rõ sự đối kháng giữa cái chết của thể xác và cái chết luân lý, cái chết do tội lỗi gây nên. Cái chết của thể xác (của các dục vọng xác thịt) thì dẫn đền đời sồng chân thực, đời sống theo Thánh Thần, đời sống trong Nước Chúa. Nhường bước cho các dục vọng xác thịt chính là làm cho dục vọng xác thịt có cơ hội sống và trị vì, rồi sẽ dẫn đến cái chết chân thực, cái chết khiến ta không còn thông dự vào Vương Quốc Thiên Chúa nữa.
Thanh khiết đem lại tự do chân thực. Với Thánh Phaolô, tự do thật sự quan trọng, bởi vì khi không bị ràng buộc bởi những cưỡng chế bên trong (dục vọng xác thịt) hoặc bên ngoài (Luật Cựu Ước) thì ta sẽ có khả năng yêu thương, và nhờ thế, toàn thể sứ điệp Tin Mừng được hoàn thành trong tình yêu: “Ngươi phải yêu người như chính mình.” Thánh Phaolô đặt thành hai cực đối kháng: một bên là tự chủ, thanh khiết, tự do, sống theo Thần Khí, tình yêu, và đời sống trong Vương Quốc Thiên Chúa, còn bên kia là thiếu tự chủ, hư đốn, thiếu tự do, sống theo tính xác thịt, thiếu vắng tình yêu, và cái chết tinh thần, nghĩa là, bị loại khỏi Vương Quốc Thiên Chúa. Dàn hàng ra như thế, sự chọn lựa của chúng ta sẽ dễ thực hiện.
(còn tiếp)
Chương 4: Thân Xác Được Cứu Chuộc
Bài 2: II. Sự Cứu Chuộc Của Thân Xác
Tình yêu tự phát chân chính này đòi hỏi một sự tự chủ mà Chúa Kitô ban tặng qua ơn Cứu Chuộc. Tự chủ để cho tiềm năng sâu thẳm nhất trong nội tâm con người có cơ hội cất lên tiếng nói; đó là những tiềm năng sâu kín mà tính lăng loàn của xác thịt không hề cho phép xuất hiện. “Tự chủ là khả năng ta tự hiến thân cho người khác. Nhờ tự chủ, ta có thể chọn lựa các hành vi một cách độc lập với đam mê và cảm xúc đang chực chờ hoành hành trong ta. Tự chủ giải phóng ta khỏi mọi gọng kềm cưỡng bức ta đi theo khát vọng của xác thịt. Nhờ thế ta có thể trân quí giá trị chân chính của người khác, chứ không dừng lại ở cái giá trị mà đam mê và cảm xúc lôi kéo ta tới (điều mà ĐGH gọi là sự hạ giảm người khác xuống hàng một giá trị duy nhất, tức giá trị phái tính). Khi thừa nhận giá trị chân thực của tha nhân, ta sẽ trân quí giá trị của chính mình theo một thể thức mới và ta được tự do đáp ứng lại các giá trị nhân bản này một cách thích đáng, nghĩa là, bằng tình yêu.
Tự chủ là một khả năng nội tâm giúp điều hướng các đam mê và cảm xúc của thân xác thay vì để cho chúng sai khiến. Cho dù có đối tượng là thân thể và xác thịt, tự chủ vẫn là một khả năng nội tâm, một năng lực cho phép ta điều hướng các hành động một cách thích đáng. Thiếu tự chủ, ta sẽ bị đam mê và cảm xúc điều khiển, đến độ có thể khống chế luôn cả tâm trí và ý chí ta nữa.
Nhân đức thanh khiết cho phép ta đạt tới mức tự chủ thích đáng, vốn đem lại cho ta sự tự do nội tâm. Chúa Kitô đã minh hoạ điều này một cách tuyệt vời khi nói đến vấn đề “ngoại tình trong lòng.” “Khi giải thích ý nghĩa chính xác của giới răn ‘chớ ngoại tình,’ tha thiết gọi mời con người nội tâm, Chúa Kitô cũng đồng thời xác dịnh cái chiều kích căn bản của đức thanh khiết vốn đánh dấu mối quan hệ hỗ tương giữa người nam và người nữ cả bên trong lẫn bên ngoài hôn nhân. Những lời ‘còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi’ đã nói lên điều kình chống lại đức thanh khiết. Những lời này cũng đồng thời đòi hỏi sự thanh khiết đã hàm chứa trong Bát Phúc được liệt kê trong bài giảng Trên Núi. “Phúc cho người có tâm hồn thanh khiết vi họ sẽ được nhìn thấy Chúa…Chúa Ktiô nhìn thấu tâm hồn, đi thẳng vào nội tâm sâu thẳm của con người, nguồn mạch xuất phát ra đức thanh khiết.”
Sự tự chủ thủ đắc được qua đức thanh khiết thì tạo ra tự do và dẫn đến một loạt những hành vi “tự trong lòng,” trong khi nếu thiếu tự do vì thiếu tự chủ sẽ sản sinh ra một loat các hành vi khác, cũng xuất phát “tự trong lòng.” Tuy thế, Chúa Kitô còn dùng đức thanh khiết để ám chỉ một cái gì xa hơn là sự thiếu vắng các tội tình dục. Thanh khiết có thể có nghĩa là không có sự “dơ bẩn,” không hề có tội lỗi, và là nguồn mạch mọi thiện hảo luân lý. Do đó, Chúa Kitô có thể nói rằng “cái gì từ miệng xuất ra, là phát xuất tự lòng, chính cái ấy mới làm con người ra ô uế. Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian, và vu khống” (Mt. 15:18-19) Sự thanh khiết của tâm hồn thì sinh ra điều trái ngược lại: đó là nhìn nhận phẩm giá của đời sống, sự bền đỗ suốt đời và chung thủy trong hôn nhân, thanh tịnh, tôn trọng tài sản tha nhân, kính trọng danh thơm tiếng tốt của người khác, và chân nhận một Thiên Chúa duy nhất chân thật và chối bỏ tà thần.
Thánh Phalô cũng dùng từ thanh khiết theo nghĩa phổ quát. Ngài đối kháng xác thịt với Thần Khí: “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt.” (Gal. 5:17) Xác thịt theo nghĩa của Phaolô thì không chỉ và không đối kháng với ‘tinh thần” con người cho bằng đối kháng với Thánh Linh là Đấng tác động trong tâm hồn (tinh thần) con người. Theo Phaolô, tác phẩm của tính xác thịt là: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy.” Trái lại, “hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ.” (Gal. 5:19-23) Danh mục các thứ tội của xác thịt mà thánh Phaolô vừa kể thật giống với danh mục Chúa Kitô đã mô tả. Tất cả mọi tác phẩm của xàc thịt đều hư hoại, nghĩa là chống lại đức thanh khiết. Mọi hoa quả của Thánh Linh thì thanh khiết. Thanh khiết không chỉ có nghĩa là thanh tịnh và thiếu vắng tội dâm ô, mà là thiếu vắng tất cả mọi thứ tội lỗi gây ra sự hư hoại.
Thanh khiết cũng được coi ngang hàng với sự sống. “Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.” (Rm. 8:13) Ở đây ta thấy rõ sự đối kháng giữa cái chết của thể xác và cái chết luân lý, cái chết do tội lỗi gây nên. Cái chết của thể xác (của các dục vọng xác thịt) thì dẫn đền đời sồng chân thực, đời sống theo Thánh Thần, đời sống trong Nước Chúa. Nhường bước cho các dục vọng xác thịt chính là làm cho dục vọng xác thịt có cơ hội sống và trị vì, rồi sẽ dẫn đến cái chết chân thực, cái chết khiến ta không còn thông dự vào Vương Quốc Thiên Chúa nữa.
Thanh khiết đem lại tự do chân thực. Với Thánh Phaolô, tự do thật sự quan trọng, bởi vì khi không bị ràng buộc bởi những cưỡng chế bên trong (dục vọng xác thịt) hoặc bên ngoài (Luật Cựu Ước) thì ta sẽ có khả năng yêu thương, và nhờ thế, toàn thể sứ điệp Tin Mừng được hoàn thành trong tình yêu: “Ngươi phải yêu người như chính mình.” Thánh Phaolô đặt thành hai cực đối kháng: một bên là tự chủ, thanh khiết, tự do, sống theo Thần Khí, tình yêu, và đời sống trong Vương Quốc Thiên Chúa, còn bên kia là thiếu tự chủ, hư đốn, thiếu tự do, sống theo tính xác thịt, thiếu vắng tình yêu, và cái chết tinh thần, nghĩa là, bị loại khỏi Vương Quốc Thiên Chúa. Dàn hàng ra như thế, sự chọn lựa của chúng ta sẽ dễ thực hiện.
(còn tiếp)