THẦN HỌC XÁC THÂN

của ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ ĐỆ NHỊ


CHƯƠNG BỐN: Thân Xác Được Cứu Chuộc

Bài 1

Trong chu kỳ thứ nhất của loạt bài THXT (từ số 1-23) ĐGH đã áp dụng phương pháp hiện tượng luận vào việc khảo sát các kinh nghiệm đầu tiên (cô đơn và sự kết hợp nguyên thủy của loài người được cảm nghiệm bởi Ađam-xét như nhân loại-cũng như bởi cả Ađam và Evà-xét như nguyên tổ. Từ số 24-33 trong chu kỳ hai (các số 24-63), Đức Gioan Phaolô đã phân tích kinh nghiệm của Ađam và Evà về sự trần truồng, nhất là sau khi phạm tội. Từ số 34-43, ĐGH suy tư về lời Chúa Kitô đề cập đến vấn đề ngoại tình, đến cái nhìn thèm muốn, và ngoại tình trong lòng. Từ số 44-46, ĐGH so sánh lời Chúa Kitô giảng dậy với quan điểm của trường phái Manikê cũng như lối giải thích của các bậc “tồ sư hoài nghi.”

Trong chương này, ta sẽ khảo sát diễn từ của ĐGH trong các số 47-63. Có thể chia diễn từ này thành ba tiểu đề, mặc dù đây chỉ là phần quảng diễn của chu kỳ hai (các số 24-63). Phần khai triển trong các số 47-48 xoay quanh vấn đề tương quan giữa đạo đức (ethos) và tình dục (eros). Phần này bao gồm vấn đề tình yêu tự phát giữa người nam và người nữ. Trong các số 49-59, ĐGH dùng ‘sự cứu chuộc của thân xác,’ từ ngữ của Thánh Phaolô để chứng minh lời mời gọi của Chúa Kitô khi đề cập đến vấn đề ngoại tình đã tác động cụ thể trên trái tim con người đến mức nào. Chu kỳ hai được kết thúc bằng bốn diễn từ (số 60-63) về hình ảnh thân xác con người trong nghệ thuật.

I. Đạo Đức và Tình Dục

Trong chương trước, điểm nhấn mạnh là Chúa Kitô không chỉ “cảnh báo” con tim loài người đã hướng chiều về các hành vi trái nghịch với nhân phẩm, với các giá trị được mạc khải trong các kinh nghiệm nguyên thủy khi còn trong trạng thái vô tội. Nhưng hơn một lời cảnh báo, Chúa Kitô còn kêu gọi ta tái khám phá ra các giá trị ấy, ngõ hầu có thể nội tâm hóa và theo đó mà sống sao cho phù hợp. Nhưng đối với con người ‘lịch sử,’ tức là tất cả chúng ta vốn đang bị tổn thương bởi nguyên tội, thì hầu như không thể sống như là chưa bao giờ bị thương tổn cả. Lại nữa, đó cũng chính là điều Chúa Kitô đã khuyên ta thực hiện. Chúa không chỉ kêu gọi suông, Ngài còn cho ta phương tiện để đáp lại và kiện toàn lời kêu gọi ấy: đó là ơn Cứu Chuộc và các ân sủng trào ra từ đó. “Cứu Chuộc là một chân lý, một thực tại, mà vì đó con người cảm thấy được kêu gọi, và kêu gọi “có hiệu quả” Kêu gọi để làm gì? Thưa, để tái khám phá ra và thừa nhận ý nghĩa hôn phối của thân xác, và qua đó bộc lộ ra sự tự do nội tâm của quà tặng.” Với ơn Chúa giúp, ta có thể sống theo các giá trị của nhân phẩm: ta có thể sống như phải sống và quí trọng cái phẩm giá và giá trị lớn lao của chính mình cũng như của người khác trong mầu nhiệm hợp nhất thân xác-nhân vị.

Tuy thế, nếu đôi vợ chồng nhận thức được ‘ý nghĩa hôn phối của thân xác,’ và biểu lộ được sự tự do nội tâm của sự trao hiến cho nhau, thì họ phải hy sinh tính tự phát và điều thường được gọi là tình yêu tình dục. Theo lối nói thông thường, thì tình yêu tình dục biểu thị sự hấp dẫn cả về thể lý lẫn cảm xúc của người nam đối với người nữ, và của người nữ đối với người nam. Tình yêu tình dục như thế chẳng khác gì tính lăng loàn. Khi lên án tính lăng loàn thì hẳn Chúa Kitô cũng lên án tình yêu tình dục. Thái độ của Chúa chống lại tính lăng loàn chính là “phán quyết tiêu cực đối với những gì liên quan đến tình dục, và là lời cảnh báo nghiêm chỉnh về những nguy cơ của tình dục.” Nói khác đi, khi đáp lại lời Chúa mời gọi, dường như vợ chồng sẽ phải từ bỏ tất cả những gì là vui thú, lãng mạn, và kích thích trong mối quan hệ của họ.

Tuy nhiên, Platô đã định nghĩa “eros” như một nội lực lôi kéo con người hướng đến điều chân, thiện và mỹ. Sự lôi cuốn người nam đến với người nữ và người nữ đến với người nam mà chỉ dựa trên thể lý và cảm xúc thì chính là một cách hạ giảm, có khi còn là từ chối điều thật sự tốt đẹp nơi người khác. Tính lăng loàn chỉ tập trung vào một giá trị mà đánh mất chiều sâu và chiều rộng của điều mà Thiên Chúa đã sắp đặt nơi mỗi người. Bởi thế, lăng loàn là sự hạ giảm một hữu thể nhân sinh xuống hàng của một giá trị mà thôi. Nếu dùng hình ảnh loại suy, thì có thể nói người có cái nhìn lăng loàn chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng; tệ hơn nữa họ muốn lấy cây để sử dụng riêng. Nói khác đi, người lăng loàn muốn thủ đắc cái giá trị mà mình trông thấy, đó là giá trị phái tính, để vơ lấy mà sử dụng. Lăng loàn không chỉ hạ giảm người khác xuống hàng một giá trị duy nhất, nó còn biến người khác trở thành một sự vật để sử dụng. Như Platô đã đinh nghĩa, “eros” là sức lôi cuốn hướng về toàn thể những điều tốt hảo nơi người khác, đồng thời cũng là một khao khát đối xử với người khác theo đúng phẩm giá và giá trị mà những điều tốt hảo ấy tạo thành. Không những không chối bỏ tình yêu tình dục, Chúa Kitô còn kêu gọi ta hành xử cho đúng với tình dục đích thực, nghĩa là, được lôi cuốn đến sự tròn đầy sung mãn các giá trị hiện hữu nơi người khác. “Hình thức của điều ‘gợi dục’ phải đồng thời là hình thức của ‘ethos,’ tức của điều ‘đạo đức ‘”

ĐGH Gioan Phaolô tóm lược quan điểm của Ngài một cách tuyệt vời như sau: “Cần phải liên lỉ tái khám phá ra bên trong điều gọi là ‘gợi dục’ cái ý nghĩa hôn phối của thân xác, và phẩm giá chân chính của quà tặng. Đây là vai trò của tinh thần con người, một vai trò mang bản chất đạo đức. Nếu nó không đảm trách vai trò này, thì chính những lôi cuốn của giác quan và của đam mê thể xác sẽ có cơ hội dừng lại nơi tính lăng loàn vốn thiếu vắng giá trị đạo đức; và thế là con người, cả nam lẫn nữ, không cảm nghiệm được sự sung mãn của ‘eros,’ nghĩa là khát vọng của tinh thần con người hướng về chân thiện mỹ…Vì thế, đạo đức nhất thiết phải trở thành yếu tố cấu thành của ‘eros’”

Tuy nhiên, như ĐGH nhận xét, vấn đề bây giờ là các giá trị đạo đức thì đòi hỏi tư duy và cân nhắc. Mà tư duy và cân nhắc lại dường như đối kháng với tính tự phát--tức là cứ để cho bản năng lôi kéo hơn là để cho ta tư duy và suy luận. Nhưng nếu nhìn như thế sẽ không thể tránh được hiểu lầm về tính tự phát. ĐGH dậy rằng tính tự phát duy nhất xứng đáng với nhân phẩm chính là điều xuất phát từ cái ngài gọi là một “giai tầng thỏa đáng,” tức là một tính tự phát không bắt nguồn từ đam mê và cảm xúc, mà đến từ ý chí tự do nhuần thấm tri thức về nhân phẩm của mình cũng như của người khác. “Con người thực sự phải trả giá về tính tự chủ thì mới đạt tới được tính tự phát sâu xa và trưởng thành hơn, nhờ đó, khi làm chủ các bản năng của mình, trái tim con người mới tái khám phá ra vẻ đẹp tinh thần của cái chỉ dấu tạo nên bởi thân xác con người trong nam tính cũng như nữ tính của nó…Lúc đó, trái tim con người có thể nói là đã tham dự vào một tính tự phát mà ‘con người xác thịt’ không hề hay biết, hoặc chỉ biết lờ mờ.”

Tình yêu tự phát chân chính luôn luôn bao hàm sự nhìn nhận phẩm giá mình và phẩm giá người khác. Nó bao hàm một ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác và các lựa chọn để hành động thích đáng với ý nghĩa ấy. Ta phải trở nên cái mà ĐGH gọi là “nhân vị nội tâm” để bất cứ lúc nào ta cũng hướng đưa các hành vi bên ngoài sao cho phù hợp với các đòi hỏi nội tâm của ý thức ta có về ý nghĩa hôn phối của thân xác. Ta cần phải nên giống như “kẻ canh phòng” trông coi một mạch suối ẩn dấu để biết phân biệt điều gì phù hợp với nhân phẩm và ý nghĩa hôn phối của thân xác, điều gì không. Tiến trình phân biệt này dần dà trở nên một mô hình kiên định sẽ đến lúc trở thành như một bản tính thứ hai. Khi đó, sẽ thấy có một tính tự phát chân chính không bắt nguồn từ đam mê và cảm xúc, mà phát xuất từ bên trong dựa trên lòng ngưỡng mộ nhân phẩm và ý nghĩa hôn phối của thân xác.

Sự hấp dẫn phái tính sẽ gia tăng cả về cường độ lẫn chiều sâu khi nó xuất phát không phải từ đam mê và cảm xúc, mà từ “toàn thể sự bộc lộ của nam tính cũng như nữ tính.” Điều này chứng minh một phần nào sự kiện các đôi vợ chồng già, kết hôn đã nhiều năm, mà vẫn nồng nàn yêu đương có khi còn hơn cả ngày xưa mới cưới, cho dù đối với người ngoài thật sự khó có thể hiểu được lý do, bởi vì rõ ràng hấp lực thể lý không còn nữa. Khi ý thức nội tâm và các chọn lựa của ta phù hợp với ý nghĩa hôn phối của thân xác, và khi thái độ này trở thành bản tính thứ hai rồi, thì ta sẽ có khả năng đạt đến một tình yêu tự phát đáng kinh ngạc, sẽ đem lại cho ta niềm vui vô biên và nguồn hoan lạc tuyệt diệu cho nội tâm ta và người ta yêu. Dĩ nhiên, tội lỗi đôi khi vẫn len lỏi vào được, nhưng với ơn Chúa giúp, ta có thể đạt được tình yêu tự phát này, như ĐGH đã đề cập đến.

(Còn tiếp)